VI | EN
21. Phát hiện “CHUNG SƠN DI THẢO” của Nguyễn Huy Vinh (1770-1881), (TBHNH 2000)
TBHNH2000

PHÁT HIỆN “CHUNG SƠN DI THẢO” CỦA NGUYỄN HUY VINH (1770-1881)

LẠI VĂN HÙNG

Tiến Sĩ. Viện Văn học

Trong khi tìm kiếm tài liệu về dòng văn học Nguyễn Huy ở Trường Lưu (nay thuộc xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), chúng tôi rất may mắn được tiếp xúc với tập tài liệu nhan đề Chung Sơn di thảo (chữ Hán). Văn bản này do ông Nguyễn Huy Năm (1925-1996) phát hiện trong tủ sách cũ của một người trong họ là Nguyễn Huy Lạp (mất tháng chạp năm Quý Dậu, tức khoảng đầu năm 1994).

Chung Sơn di thảo, là tập sách chữ Hán – Nôm, chép tay, giấy dó, khổ 14c, x 25cm, gồm 46 tờ. Sách ở tình trạng đã bị mục nát từ hai mép gáy mặt trước, nên từ tờ 1 đến tờ 7 có một số bài thơ bị mất chữ, khó có thể phục chế được toàn bộ nguyên văn. Tập sách cũng chưa được giới thiệu ở bất cứ đâu.

Tờ 1a ghi rõ tên sách Chung Sơn di thảo (@ @ @ @), ở bên dưới ghi “Trà Lĩnh bá Chung Sơn tiên sinh, Hi Nhân trứ; Thứ nam Nguyễn Huy Toản, Hi Lễ tập”, nghĩa là: “Sách do Trà Lĩnh bá Chung Sơn tiên sinh, hiệu là Hi Nhân sáng tác; Con trai thứ Nguyễn Huy Toản, hiệu là Hi Lễ sưu tập”. Như tế, về tác giả và về tên người biên tập là rõ ràng.

Nhưng, Chung Sơn tiên sinh với hiệu Hi Nhân là ai? Lần tìm trong các bản gia phả họ Nguyễn Huy, thấy Phượng Dương Nguyễn tông thế phả(1) chép rằng: Chung Sơn tiên sinh chính là Nguyễn Huy Vinh sinh ngày 28 tháng Chạp năm Kỷ Sửu (đầu năm 1770), huý Lung, tự Hi Nhân còn hiệu là Phục Trai tiên sinh, là con thứ hai củ nhà thơ Nguyễn Huy Tự (1743-1790) và bà Nguyễn Thị Bành (1750-1773). Xem thế đủ biết, Nguyễn Huy Vinh đã sinh ra từ một gia đình giàu truyên thống Nho học, văn học và đỗ đạt, cả bên nội lẫn bên ngoại.

Cha ông: Nguyễn Huy Tự, một người nổi danh đa tài, hoà hao, từng được Tiến triều, làm quan đến Đốc đồng thời Lê, Hữu thị lang bộ Binh thời Tây Sơn, tác giả cảu truyện Nôm Hoa tiên - được đánh giá như một kiệt tác văn học của thế kỷ XVIII.

Về bên ngoại, mẹ ông: bà Nguyễn Thị Bành, là con gái của Toản quận công Nguyễn Khản, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Tham tụng, người có tiếng là phong nhã. Bà cũng là cháu của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (1765-1820).

Nguyễn Huy Vinh là kết quả của sự giao duyên giữa hai dòng họ Nguyễn Trường Lưu và Tiền Điền. Vùng Nghi Xuân, Can Lộc đến thời điểm lịch sử thế kỷ XVIII, đầu XIX cũng là nơi xuất hiện hàng chục các danh nhân khác như: Dương Trí Trạch, Phan Kính, Nguyễn Thiếp, Lê Hữu Trác v.v.. tạo ra cái nôi của văn hoá Hồng Sơn. Thế hệ Nguyễn Huy Vinh đã được sinh ra, lớn lên và tắm gội trong cội nguồn văn hoá phong phú, giàu có ấy.

Nhưng thế hệ Nguyễn Huy Vinh không được hanh thông, hiển đạt và “thuận buồm xuôi gió” như các thế hệ cha ông trước đó. Hàng loạt các biến cố lịch sử đã diễn ra khi Nguyễn Huy Vinh vừa bước vào tuổi trưởng thành. Nạn kiêu binh làm lung lay triều đình Lê - Trịnh, phá nát cơ nghiệp nhà Nguyễn Khản ở Thăng Long. Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự dần rút về quê. Nhà Tây Sơn làm chủ xã tắc. Và tính đến thời điểm 1790, Nguyễn Huy Vinh đã hoàn toàn rơi vào cảnh “nhà tan”: Nguyễn Thị Bành mất 1773, Nguyễn Huy Quýnh mất 1785, Nguyễn Khản mất 1786, Nguyễn Huy Oánh mất 1789, Nguyễn Huy Tự mất 1770. Năm 1791 Nguyễn Huy Vinh sưu tập biên soạn Nguyễn Thị gia tàng, trong tác phẩm ông đã bày tỏ tình cảm thật đau xót của mình trước những mất mát này: “Than ôi! Núi nghiêng, cây đổ! Ông rồi cha kế tiếp nhau từ giã cõi đời. Có than khóc, kêu gào cũng không tìm đâu được nữa”(2).

Trước đó mấy năm, khoảng 1786, Nguyễn Huy Vinh lấy bà vợ cả họ Lê, tên huý là Lương, người xã Việt Yên Hạ cùng huyện. Có thể, cũng khoảng này, ông chuyển lên vùng Chung Sơn (Nam Đàn), vì một tài liệu đã viết: “Sau khi Nguyễn Huy Tự về quê, trong gia đình các con lớn đều đi các nơi lập nghiệp”(3). Đến Kỷ Tỵ (1809), nhân mừng và sáng tác Mai Đình mộng ký. Lúc này nhà Nguyễn đã lên thay nhà Tây Sơn (1802) và không có tài liệu nào nói về Nguyễn Huy Vinh tham gia quan trường, dù trải cả ba triều đại, ông chỉ ẩn cư và dạy học. Bà vợ cả họ Lê không có con thừa tự, đến 1812, Nguyễn Huy Vinh lại lấy bà vợ thứ họ Nguyễn, tên huý là Siêu (1795-1865). Năm 1814, Nguyễn Huy Vinh có người con đầu: Nguyễn Huy Khoảnh. Ngày 1 tháng 10 năm Mậu Dần (1818), Nguyễn Huy Vinh mất, thụy là Văn Nhã. Khi ông mất, bà vợ thứ còn đang mang thai người con thứ hai: Nguyễn Huy Toản - người sau này sẽ tục biên Phượng Dương Nguyễn tông thế phả và sưu chép bản “dia thảo” của cha.

Theo Phượng Dương Nguyễn tông thế phả, năm Canh Tuất (1850), khi Nguyễn Huy Toản 32 tuổi, ông sao lục lại phần phả hệ trước do Nguyễn Huy Tự vựng biên, Nguyễn Huy Vinh tục biên và soạn tiếp về Nguyễn Huy Vinh. Nhưng cũng ở phần chép về Nguyễn Huy Vinh, lại thấy ghi được cả năm mất của bà vợ thứ họ Nguyễn (mẹ Nguyễn Huy Toản) là năm Ất Sửu (1865). Cứ liệu ấy cho phép suy đoán rằng cuốn Thế phả được Nguyễn Huy Toản bắt đầu chép lại từ 1850, nhưng công việc chép nối thì có phần chắc là phải kéo dài ít nhất là 1865. Hiện không biết Nguyễn Huy Toản mất vào năm nào, và ông cũng không ghi rõ thời điểm sưu tập Chung Sơn di thảo. Nhưng trong bản di thảo thấy kỵ huý các chữ Thi, chữ Nhậm, là các chữ lưu khá cẩn thận, ít nhất là trong lúc Nguyễn Huy Toản còn sống (sau 1865).

Chung Sơn di thảo được người biên tập sắp xếp thành 9 phần, gồm: 25 bài thơ, 2 bài phú, 4 bài tựa, 7 bức thư, 3 bài ký, 1 bài bạt, 1 bài văn tế, 1 truyện và 9 bài tạp trứ. Tổng số có 53 đơn vị tác phẩm, gần như đủ các thể loại của văn học trung đại. Từ bài Hải đường dẫn cuối cùng viết bằng thơ lục bát 6/8 chữ Nôm, còn lại hoàn toàn viết bằng chữ Hán. Với một số lượng tác phẩm như vậy, Nguyễn Huy Toản khi sưu tập khó có thể chỉ dựa vào trí nhớ mà ghi lại. Chắc người sưu tập đã phải trích lục, tham khảo thêm từ những nguồn sách vở, tài liệu khác có lưu chép thơ văn của Nguyễn Huy Vinh. Bằng chứng là có thể tìm thấy một số tác phẩm ở tập “di thảo” trong một số cuốn sách khác, như các bài Hữu cảm, Du Bắc Sơn phú được chép trong Nguyễn Thị gia tàng; bài Nghệ An phong thổ ký tự thấy có ở Hoan Châu phong thổ ký(4)…; nhất là có tác phẩm của Nguyễn Huy Vinh không có trong Chung Sơn di thảo như bài Tựa cho tập Hoa Trình tiêu khiển tập của Nguyễn Đề…(5). Vậy, có phần chắc là thơ văn Nguyễn Huy Vinh đã từng được lưutruyền, tên tuổi ông cũng đã khá quen thuộc trên văn đàn thời ấy và Chung Sơn di thảo là tác phẩm ghi lại được phần lớn những sáng tác của tác giả này. Tư tưởng, tình cảm hứng sáng tác của Nguyễn Huy Vinh cũng được bộc lộ rõ nét ở đây.

Ngươi xưa thường quan niệm: “Người cùng thì thơ mới hay”. Câu nói này quả là chính xác với trường hợp Nguyễn Huy Vinh. Cũng ở trường hợp Nguyễn Huy Vinh, chữ “cùng” được quan niệm như sự không hanh thông – nghĩa là không ra làm quan. Ông viết trong bài Tiễn Hạnh Am Phu tử tựu Phú Xuân kinh triều yết, IV:

Cùng thông thả dị lộ,

Hội hợp an khả thường.

(Người cùng, kẻ đạt vốn đã chia hai ngả khác,

Gặp gỡ nhau đâu có thường xuyên).

Chữ cùng ở đây có vẻ đồng nghĩa với xử, tàng và ngược nghĩa với xuất, hành. Cũng quả là Nguyễn Huy Vinh đã chọn con đường ở ẩn, như một lẽ sống triệt để. Ông không hề xuất chính một ngày nào. Hoàn cảnh lịch sử xã hội trong khoảng 15 năm (1787-1802), với những “cơn phong ba dữ dội”(6), đã làm phân hoá một cách sâu sắc tầng lớp kẻ sĩ, nhất là đối với con cháu các cựu thần nhà Lê - Trịnh. Những cuộc “thay đổi sơn hà” quá nhanh khiến họ đau đớn, choáng váng và mất phương hướng. Ông không phê phán ai ra làm quan, nhưng ông quyết chí ở ẩn, chấp nhận con đường cùng. Chung Sơn di thảo có thể nói là đã thể hiện đến cùng cái hiện thực tâm trạng ấy của tác giả.

Trong bài Ký đường thúc Tri huyện Nguyễn Bá Hưng, II Nguyễn Huy Vinh viết:

Tấn tấn hư chu thâm vị thâm;

Cố viên quy khứ ngoạ tùng lâm.

(Một chiếc thuyền nhẹ trôi nổi trên dòng nước nửa sâu nửa nông, Quay về nơi vườn cũ nằm khểnh trong rừng tùng).

Thế có vẻ là một tâm trạng khá dứt khoát. Cũng ở một bài thơ khác gửi cho người chú này, tác giả viết:

Cẩm lý Tương giang nhập mộng trì,

Sơn trai phong tĩnh yểm sài phi.

Đoàn bằng xuất hải khinh thiên lý,

Quy điểu sào lâm ổn nhất chi.

Nhã tục tòng lai thôi tọa trấn,

Thế đồ chi ngoại phó hành ky.

Cố nhân hội đắc sơn nhân ý,

Nhàn bả Hi đồ vấn hoá nhi.

(Ký đường thúc Tri huyện Nguyễn Bá Hưng, I)

(Nỗi nhớ quê theo dòng Tương vào giấc mộng chầm chậm / Nơi trai phòng trên núi, gió lặng, cửa phên đóng / Cánh bằng vượt biển coi thường ngàn dặm / Chim quay về làm tổ trong rừng, đã yên ổn ở một cành / Từ đây nhã hay tục, thôi đã an định rồi / Việc bên ngoài đường đời, phó mặc cho cơ trời / Bạn cũ nếu có hiểu ý của kẻ sơn nhân này / Hãy thư thả cầm bản đồ Phục Hi (Kinh Dịch) mà hỏi trẻ tạo hoá).

Bài thơ như muốn khẳng định lại con đường mình đã chọn, đã “yên ổn, đã “an định”. Nhưng đã làm một kẻ “sơn nhân” ở “sơn trai” rồi, mà những chuyện “thế đồ chi ngoại” hình như vẫn còn lởn vởn, vẫn như một ám ảnh khó dứt. Tác giả nói “phó mặc cho cơ trời” hay “hỏi trẻ tạo hoá”, thì cũng chỉ là một cách nói. Cái chính là cõi đời tục luỵ kia vẫn làm tác giả phải băn khoăn, thao thức như một nỗi niềm.

Trong chuyến du ngoạn ra đất Bắc năm Đinh Mão (1807), có một địa điểm Nguyễn Huy Vinh dừng chân chiêm bái là đền thờ Chu Văn An. Ông đã viết Yết Chu Văn Trinh từ ký để thể hiện tình cảm trân trọng đối với bậc phu tử số một của trời Nam, và cũng là gián tiếp thể hiện hình mẫu sống, lý tưởng sống mà mình đang vươn theo.

Là người ở ẩn nơi núi rừng, thôn dã nên Nguyễn Huy Vinh luôn thả lòng mình giao hoà với thiên nhiên cảnh vật:

Ỷ thương tùng nhi toạ bạch thạch hề, linh vạn lại chi thanh cầm,

Phù hà thiên cổ chi thiều thiều hề, nãi độc hữu hội ư dư tâm.

(Du Bắc Sơn phú)

(Dựa vào tùng xanh, ngồi trên đá trắng, lắng tai nghe thấu tiếng đàn trong trẻo như của ngày cây sáo / Chao ôi! Sao nỗi niềm dằng dặc của ngàn xưa lại chỉ trút vào riêng một cõi lòng ta).

Đấy là một tâm trạng hồi cố, một cảm hứng lịch sử mà ta hay gặp ở những ẩn sĩ.

Kẻ sĩ ở ẩn rồi mà cũng chẳng thanh thản gì, “Cõi xưa” như vẫn hiện về luôn, thường trực. Và cái cảm giác về một thời “phong trần gió bụi”, cứ như thổi suốt thế hệ ấy, từ Nguyễn Du: “Bắt phong trần phải phong trần” (Truyện Kiều), đến Nguyễn Huy Hổ: “Khi xưa dòng dõi khi nay phong trần” (Mai Đình mộng ký). Cái gì nữa đã dồn đuổi con người đến mức phải “nhậm đê ngang”, phải “tuỳ tao ngộ”? Nếu như Nguyễn Du từng than: “Bạch đầu sở kiến duy y thực” (Đến bạc đầu cũng chỉ thấy một chuyện cơm áo mà thôi), thì Nguyễn Huy Vinh cũng xót xa với cảnh ông luôn phải: “Đồ tự tục chi mưu, y thực chi kế” (Mưu tính làm sao để có kẻ nối dõi và toan lo chuyện cơm áo – Ký Tiên Điền Nguyễn Tử Kính thư).

Nhưng cùng quẫn thế, thì lẽ ra phải kiếm chút quan tước như Nguyễn Khuyến sau này ngậm ngùi nói về cảnh ngộ của mình và của Dương Khuê: “Sất bạch ngã tri quân vị thân; Đẩu mễ quân tri ngã chi bần” (Tôi biết bác phải làm quan chẳng qua vì muốn có tấm lụa biếu cha mẹ; Còn bác biết tôi làm quan chẳng qua cũng chỉ vì muốn kiếm đấu gạo đỡ cảnh nghèo)(7); thế mà Nguyễn Huy Vinh đã không chấp nhận con đường ra làm quan. Đối với triều Lê và triều Tây Sơn thì còn dễ hiểu, ngay cả với triều Nguyễn sau này cũng vậy. Chắc chắn là nhà Nguyễn có vời ông ra, nhưng ông đã từ chối (Phục Binh bộ Thượng thư Đặng quý đài thư); hơn nữa, còn từ chối với một thái độ khá quyết liệt: “Kim dục sử chi xuất sĩ, Hàn Dũ sở vị ức nhi hành tất phát cuồng tật” (Nay muốn khiến mỗ tôi ra làm quan thì cũng như Hàn Dũ đã từng nói: Ép buộc người ra làm, ắt sẽ phát bệnh cuồng - Thượng Cần Chính điện Đại học sĩ thư). Bởi lẽ, làm quan là gắn với danh với lợi – hai chữ mà con người từ cổ chí kim đều dồn sức rượt đuổi; nhưng Nguyễn Huy Vinh lại xem thường, coi chúng như là sự hệ lụy, trói buộc mình: “Nhược hữu ý vi danh tắc vị danh sở lụy, hữu ý vi lợi tắc vị lợi sở triền” (Nhược bằng có ý cầu danh thì ắt vì danh mà phải lụy thân, có ý cầu lợi thì ắt vì lợi mà bị giàm buộc – Ký Bá Hưng thư, IV).

Quan niệm như thế, nên ông đã chỉ xử mà không xuất. Nhưng Nguyễn Huy Vinh lại không phải là người không từng ôm chí lớn và không có khí phách. Nhân một lần gặp Tử Kính (Nguyễn Hành) và các bạn ở Đông Thành, khi được yêu cầu làm thơ, ông đã từng vung bút:

Chấp tải tàng tu Lục dã tiền,

Viễn du trùng phỏng cựu sơn xuyên.

Nam châu vụ tích báo phương ẩn,

Kiều mộc phùng xuân oanh chính hoàn.

Nghị lục tao phùng bôi phiếm hải,

Thố hào suy sái khí hoành thiên…

(Giấu mình 20 năm tu luyện trước nhà Lục dã / Nhân cuộc chơi xa mà thăm lại núi sông xưa / Ở châu phía Nam sương mù ken đặc loài báo vừa ẩn mình / Cây cao gặp xuân về chính là lúc chim oanh cất tiếng / Bạn bè gặp gỡ uống tràn như biển / Vẫy ngọn bút lông, khí phách ngang trời…).

Nguyễn Huy Vinh lại cũng là người từng nghĩ ngợi nhiều về sự thành bại của một nền chính trị, theo ông: “Muốn làm chính trị mà không xuất phát từ phong tục (truyền thống văn hoá, những tập quán, vốn liếng trong quá khứ…), thì dẫu rằng có địa thế núi sông hiểm trở, có sản vật dồi dào, có dân chúng đông đúc, cũng không thể nào thành công được” “Nghệ An phong thổ ký bạt”. Ông cho rằng cái then chốt nhất chính là phải mở mang, đổi mới dân tục (tức đời sống xã hội). Thế mà, cũng theo ông, cái động lực cơ bản nhất để làm cho chuyện đó, chính là phỉ dựa vào sĩ phong (tức phong khí của kẻ sĩ, tầng lớp “tiên tri tiên giác” của xã hội): “Chưa từng có việc sĩ phong không mạnh mẽ mà dân tục lại được cải hoá” (Nghệ An phong thổ ký bạt). Nghĩa là, nếu tầng lớp kẻ sĩ mà ốm yếu, sa sút thì xã hội mãi mãi vẫn ở trong tình trạng cổ hủ, lạc hậu, hèn kém mà thôi.

Ta thấy Nguyễn Huy Vinh tuy là người ở ẩn, hoài cổ, chán ghét danh lợi, nhưng cũng lại là người có khí phách, có chí hướng và không hề vô cảm trước cuộc đời. Tâm trạng của ông là tâm trạng của một người có tài mà không toại chí. Có thể cũng vì thế mà người cùng ấy, nhiều lúc đã tự coi mình như kẻ điên khùng: “Cuồng giản tự tàm nan trắc cứu” (Si cuồng, giản lậu tự xấu hổ vì khó suy xét hết lẽ - Hoạ Nguyễn Hy Hàn nguyên vận); nhiều lúc lại thả mình trong cơn say:

Hữu nhân độc lập thanh tùng âm,

Cử tửu trường ca Lương phụ ngâm.

Vị quân canh nhất khúc,

Ngã năng tiêu tử thương kim hoài cổ chi sầu tâm.

(Tuý ca hành)

(Có kẻ đứng một mình dưới bóng tùng xanh / Nâng chén hát vang bài Lương phụ ngâm / Vì chàng ca một khúc / Ta có thể làm tiêu tan mối sầu đau đời nay và nhớ tiếc đời xưa của chàng).

Nhưng say ở đây là say một mình dưới bóng tùng và say là để trợ hứng cho một khúc hát, để tiêu sầu kim cổ. Có thể nói đấy là một bi kịch tâm trạng. Bi kịch của trí thức, nho sĩ Việt Nam nói riêng và của nho sĩ, trí thức Đông Á nói chung, lúc mà xã hội và dư luận xã hội chỉ mở ra, chỉ áp đặt một con đường duy nhất; trong khi họ lại không đủ tự do và nhãn quan để khai phóng những con đường khác cho mình, cho giai tầng mình.

Trên đây, chúng tôi vừa phân tích sơ lược những điểm chính về tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Huy Vinh thể hiện Chung Sơn di thảo.

Chúng tôi xin nhắc lại sự may mắn của mình khi được tiếp xúc với tác phẩm này và qua đấy, phần nào dựng lại được diện mạo một tác gia văn học. Sự may mắn đó còn là may mắn chung đối với dòng văn Nguyễn Huy Trường Lưu; và hơn thế, còn có ý nghĩa to lớn đối với giai đoạn lịch sử văn học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Từ đây, giai đoạn này của văn học Việt Nam chính thức ghi thêm tên một tác gia văn học nữa. Đã có thể định danh Nguyễn Huy Vinh là một nhà thơ, nhà văn và nhà sưu tập. Thơ văn ông thể hiện tình cảm, tư tưởng của một kẻ sĩ có tài – có chí mà suốt đời ở ẩn, lánh đời. Qua ông, người ta có thể thấy rõ hơn sự phân hoá của tầng lớp kẻ sĩ, của một loại tác gia văn học vào một giai đoạn lịch sử nhiều xung động.

Có thể nói, Chung Sơn di thảo là tác phẩm có giá trị thơ văn khá cao. Xin bạn đọc đón nhận tác gia Nguyễn Huy Vinh với Chung Sơn di thảo là tác phẩm có giá trị thơ văn khá cao. Xin bạn đọc đón nhận tác gia Nguyễn Huy Vinh với Chung Sơn di thảo, trong một cuốn sách mà chúng tôi đang tiến hành dịch thuật, giới thiệu, sẽ ra mắt nay mai.

Chú thích:

1. Thư viện Viện nghiên cứu Hán – Nôm, ký hiệu VHv.1354

2. Nguyễn Thị gia tàng, dòng họ Nguyễn Huy tàng bản, tờ 80a.

3. Nguyễn Thạch Giang - Nguyễn Huy Mỹ: Một số ý kiến về hai bài “Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu”, “Thác lời trai phường nón” của Nguyễn Du và bài “Thác lời gái bán vải” của Nguyễn Huy Quýnh, Tạp chí Hán – Nôm, số 2 -1990.

4. Xem Di sản Hán – Nôm Việt Nam – thư mục đề yếu, tập I, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; tr.810-811.

5. Sđd; tr.798

6. Nguyễn Huệ Chi: Lê Hữu Trác và con đường của một người trí thức trong cơn phong ba dữ dội nửa cuối thế kỷ XVIII, tạp chí văn học, số 6-1970.

7. Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch, giới thiệu), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984; tr.412.

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.163-184

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm