21. Thêm một di cảo của cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947) vừa được phát hiện: Kính cáo đồng bào quốc dân thư.
THÊM MỘT DI CẢO CỦA CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG (1876-1947) VỪA ĐƯỢC PHÁT HIỆN: KÍNH CÁO ĐỒNG BÀO QUỐC DÂN THƯ
NGUYỄN THANH HÀ
Học viện Khoa học-Quân sự
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1878-1947) là nhà chí sĩ yêu nước của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cụ quê ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Phước thượng (nay là huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Đỗ Giải nguyên (năm 1900), đỗ Hoàng giáp (năm 1904), nhưng không ra làm quan. Cụ đã cùng một số sĩ phu yêu nước tuyên truyền thuyết Duy Tân nên bị Thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921.
Năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, nhưng một thời gian ngắn sau thì cụ từ chức. Năm 1927, cụ sáng lập ra tờ báo Tiếng Dân ở Huế và từ năm 1927 đến năm 1943 làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của báo này.
Sau Cách mạng tháng 8-1945, cụ Huỳnh Thúc Kháng được mời tham gia Chính phủ liên hiệp kháng chiến, làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, cụ được giao Quyền Chủ tịch nước. Cụ còn là Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt) và Đại diện chính phủ ở miền Trung (năm 1947).
Trong thời gian làm Hội trưởng Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra ở Hà Nội, cụ Huỳnh Thúc Kháng có viết bức thư bằng chữ Hán :“Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến” (Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến). Nguyên văn chữ Hán và bản dịch của bức thư này đã được in trong cuốn Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Vương Đình Quang biên soạn, Nxb. Văn học, H. 1965.
Ngay sau đó, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Đại diện Chính phủ ở miền Trung và tại đây cụ thay mặt các ông Phạm Văn Đồng - đặc phái viên của Chính phủ và Nguyễn Duy Trinh - Phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh Trung bộ soạn thảo bức thư “Kính cáo đồng bào quốc dân thư” (Thư gửi quốc dân đồng bào).
Năm nay (2006), trong khi tập hợp tư liệu để biên soạn bộ sách Huỳnh Thúc Kháng, chúng tôi mới sưu tầm được bức thư này của cụ. Tài liệu do cụ Nguyễn Thành, nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Cách mạng cung cấp. Đây có lẽ cũng là văn kiện cuối cùng viết bằng chữ Hán của Huỳnh Thúc Kháng.
Nhân Hội nghị thông báo Hán Nôm năm 2006, chúng tôi xin giới thiệu bản chụp nguyên văn và phần dịch nghĩa toàn bộ bức thư “Kính cáo đồng bào quốc dân thư” (Thư gửi quốc dân đồng bào) của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Hy vọng được góp thêm một tư liệu về Huỳnh Thúc Kháng để chuẩn bị cho việc kỷ niệm 60 năm ngày mất của cụ.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm thứ 3 ngày 1 tháng 1 năm 1947
THƯ CỦA ỦY BAN KHÁNG CHIẾN "QUÂN DÂN CHÍNH"
CHÍNH PHỦ VIỆT NAM GỬI QUỐC DÂN ĐỒNG BÀO
Than ôi ầm ầm nổi sóng, kình ngạc kia mong thỏa chí thèm thuồng;
Oang oác vang chằm, hồng nhạn nọ chỉ sợ cơn tan tác.
Bọn thù ấy dám khêu ngòi trở lại.
Tiền quân ta liền đón đánh không tha.
Dẫu cho phần tử hai kỳ, quyết ra sức để đòi sông núi;
Huống ở trung tâm một nước, há nằm yên để chúng gáy khò.
Người tiền tuyến hi sinh nhường ấy!
Kẻ hậu phương ủng hộ sao đây?
Tổ quốc Việt Nam chúng ta: xa thư một mối, văn hiến nghìn năm.
Lãnh thổ gồm ruộng đồng cửa biển với sông ngòi,
Khác những nơi núi tuyết biển băng, đất không mọc cỏ;
Khí hậu đủ nắng nóng, ấm ôn và mát lạnh, hơn cả chốn đồng sa, biển cát, năm chẳng nhỏ mưa!
Bắc giáp nước Trung Hoa, nam giáp nước Cao Miên, giữa thì nam bắc liền nhau, hai thúng một đòn, kho trời đặt giữa khu Hồng Lạc;
Đánh đầu thì đuôi dẫy, đánh đuôi thì đầu dẫy, đánh xương sống thì đầu đuôi quắp lại, triệu người một bụng, thế đất bày nên trận trường xà.
Chính là một cường quốc da vàng, phương đông tự chủ.
Khác với những thổ dân giống đỏ, châu Mỹ khinh thường.
Nhưng thế cục xẩy lắm tang thương, mà lịch sử có nhiều giai đoạn.
Lai láng biển Âu, dạt dào bốn phía, mông mênh đất Á chìm ngập toàn châu.
Vì đất ta xa cách, trâu ngựa hóng chẳng kịp nhau.
Bị vạ thảm tham tàn, sài lang ăn không biết chán.
Cửa Trà Úc bắt đầu nổ súng, lấn mất hải quyền.
Năm Giáp Thân bảo hộ nghị hòa, can vào nội chính
Bắt ức triệu nhân dân ta làm tôi tớ;
Bỏ trong ngoài quan lại làm bù nhìn, ma quỉ đầy đường, hùm sinh chật lối.
Dưa chia đậu bửa, còn đâu là nhất thống dư đồ.
Cắt thịt róc xương, hút hết cả quần sinh cao tủy.
Thậm chí trưng thu thuế máu nuôi bọn tay sai.
Thuế nặng chính phiền, lưới thép dầy hơn hoa nở.
Côn Lôn Lao Bảo, ngục tù gấp mấy nhà thương.
Bầy trẻ thông minh, vùi thây xác ở chiến hào Âu lục.
Thợ thuyền cường tráng, tưới mồ hôi vào hầm mỏ viễn dương
Tội ác quá chừng!
Tre đâu chép hết?
Quân thù kia chẳng đội trời chung,
Anh hùng nọ phải dùng đất võ,
Những nhà anh liệt ái quốc của chúng ta trước đây:
Bền giữ đất đai, phá vòng nô lệ,
Đầu thì, giặc dã ngoài biên,
Nối đến kinh thành nạn nước.
Hội nghĩa dựng lên như rừng mọc,
Hịch quân truyền chạy như sấm vang.
Có người đuổi giặc như Gia Cát đời Hán.
Có người giữ đất như Trương Tuần nhà Đường.
Bác lãng một dùi, có người như Trương Lương báo Hán tận lực;
Tần đình bẩy buổi, có người như Bao Tự khóc Sở nhiệt tình.
Mẩu lũy Vụ Quang, 10 năm chống chọi;
Một đồn Yên Thế, trăm trận dọc ngang.
Có người là Mã Khắc, là Tôn Văn, khơi nguồn trước cho Khoa học xã hội.
Có người là Lư Thoa, là Mạnh Đức, dập ngòi lửa của đế chế độc quyền,
Ngoài ra còn Nhật Tảo lửa bùng, Ba Đình súng nổ,
Với những chuyện chống sưu, đầu độc, nghe rất sướng tai;
Với những cuộc Yên Bái, Thái Nguyên, diễn ra nhộn mắt.
Quốc hồn trở lại, sinh khí tươi lên.
Tuy tay trắng mình trần, hào kiệt cứu thời đã khuất;
Mà trước ngã sau dậy, tinh thần cách mạng vẫn còn !
Truyền đến từ xa, người xưa đã dậy; giữ cho đừng mất, mong ở ngày nay.
Hồ Chí Minh tiên sinh chúng ta:
Chí sĩ chân chính yêu nước,
Cách mạng lão luyện lành nghề.
Chân đạp năm châu, mắt nhìn mọi vật, nhận rõ toàn cục, lắng biết tiên cơ.
Tổ chức quân sinh lực giải phóng.
Lãnh đạo đội cán bộ hùng cường.
Chứa sức lâu năm, kịp thời ứng dụng
Thủ xướng có Việt Minh đứng trước, một tiếng giơ tay;
Hưởng ứng được toàn quốc quân dân, bốn bề vung gậy.
Sấm sét ầm ầm vang đất hạn; gió mây rầm rập thét oai quân.
Cây cỏ giúp thiêng; núi hang trợ lực.
Cờ đỏ năm tia che bóng nhật, làng xa chợ nhộn, rợp đất tung bay,
Máu hồng 3 xứ nhuộm in mây, tả hợp hữu chia, đầy trời phun tóe.
Xác nằm đầy nội, ôi đội quân Phát xít tan tành
Khí mạnh thêm hùng, ấy tự vệ chiến tranh anh dũng
Một trường oanh liệt, dựng lại non sông.
Tám mươi năm dưới gót cường quyền, hàm ngựa ách trâu, một phen quét sạch;
Hơn nghìn năm trò hề phong kiến, râu rồng cánh hổ, mọi cảnh xòa mờ.
- Sướng biết bao nhiêu ? Thoát nô lệ mà lên ngôi tự chủ;
Vui làm sao nhỉ? Bỏ quân quyền mà phục vụ nhân dân.
Đặt phiến đá dưới nền tảng hòa bình, thuận ứng với trào lưu khoa học xã hội;
Dâng tên nước lên võ đài thế giới, không để làm miếng thịt trong màn kín thực dân.
Gần thì Nam Dương, Tinh Châu, Cao Ly, Ấn Độ, Miến Điện;
Xa thì Phi châu, Ai Cập, Li Băng, Á Li
Bao nhiêu nước nhỏ bị chinh phục ở hoàn cầu, là mặt trận đòi tự do cho dân tộc chúng ta vậy!
Chính nghĩa kháng chiến, có đủ điều kiện độc lập quốc gom phần;
Tự chủ quyết tâm, hợp với hiến chương của đồng minh công nhận.
Chẳng những cao cấp Trung Hoa dân quốc vốn đã tán thành;
Mà đến cả đại biểu Anh, Mỹ yếu nhân, cũng đều mặc nhận.
Gồm cả bình dân nước Pháp mới, đa số nghiêng theo;
Và chính phủ tiền lâm thời, nhiều lần bàn tới.
6 tháng 3 bắt đầu hiệp định, cùng nhau ký kết, Pháp đặc ủy trịnh trọng sang ta;
14 tháng 9 tạm ước thi hành, nhận được giấy mời, Hồ Chủ tịch đường hoàng qua Pháp.
Rõ ràng ước thệ, trời đất sáng soi.
Tai mắt trông nghe, trong ngoài nhận biết.
Đã mang tiếng văn minh cường quốc,
Há lẽ đâu trém trước ăn lời.
Nhưng vì phái phản động của thực dân, lòng tham không đáy, giấc ngủ còn mê.
Xé bỏ giấy ký kết của Chính phủ họ, khiêu khích lòng tôn trọng tín mục của Ngoại giao ta.
Bom đạn máy bay, ném giết những lương dân vô tội.
Thủy bình tàu chiến, xâm lấn vào quan thuế chủ quyền.
Biểu thị thói dã man, phá rối hòa bình trong nhân loại.
Chống ngăn nguồn tiến hóa, không theo công lệ dưới trào lưu.
Phạm tội rất nhiều, thảm không nhân đạo, nín không thể nín, thêm chẳng buồn thêm.
Sau đành vác giáo giữ mình,
Thề quyết trường kỳ kháng chiến.
Hòa máu đỏ đấu tranh nơi tiền tuyến, đổ vào máu giặc để buông ra.
Gom mỡ nhờn tiếp tế của hậu phương; há nghĩ mỡ dân mà dám tiếc.
Nói vừa tới đó, đau đớn vô cùng !
Lớn tiếng kêu lên, chỉ trời thề thuyết !
Cúi xin đồng bào quốc dân ta, nào chú bác cô dì, nào anh em chị em là những người yêu nước, không kể lớn bé, không kể mới cũ không phân biệt giai cấp, không chia rẽ Đảng phái. Thượng du trung thổ, cũng như nhau. Tăng lữ giáo đồ không có khác, 50 vạn Hoa kiều yêu quí, há quên nơi làng cũ thứ hai. Hơn nghìn năm Âu Mỹ bạn buôn, cũng nhận đó thú vui bực nhất.
Anh em bốn biển hàng xóm năm châu.
Dân tộc ngày xưa, thực một sống ở trong chín chết;
Nghĩ ơn đất nước, như sợi tóc động cả toàn thân.
Cứu cháy vớt chìm, ở khi nóng mắt.
Nhường chăn sẻ ấm, giúp lúc thư chân.
Vả khi đủ mặc đủ ăn, theo lời Khổng thánh.
Được lúc hằng tâm hằng sản, nhớ sách Mạnh hiền.
Trương Tử Phòng bỏ của nghìn vàng, dốc lòng vì nước!
Lỗ Tử Kính vâng cho vựa thóc, vui bụng giúp quân.
Dỡ kho trong đem để kho ngoài, ngọc ngựa thu về như cũ;
Tan đụn nhỏ ra thành đụn lớn, kho tàng chứa để xiết bao?
Ai người hăng hái nhiệt thành, bia hào hiệp tạc ghi tên họ;
Ai kẻ lừng khừng lãnh đạm, bút Xuân Thu nghiêm chép búa rìu.
Kìa Thạch Sùng giầu ở hang vàng, một mai đầy vạ,
Nọ Tần Cối chết mang đầu sắt, muôn thuở bêu nhơ.
Tức nay đọc sử cận thời,
Soi thấy mảnh gương dĩ vãng
Chọn hay thì học, thấy lỗi đừng theo.
Đồng bào yêu dấu ta ơi !
Quốc dân yêu đấu ta ơi !
Lòng tốt sẵn rồi !
Niềm tin vững nhé !
Người sau hẳn giỏi, đất cỏ tranh chi thiếu kẻ anh hùng.
Vùng dậy tiến lên, xe lịch sử hẳn không quay bánh lại.
Nhân hòa có thiên thời địa lợi, đắc đạo thì người giúp hẳn nhiều.
Dân sinh đương khát uống, đói ăn, việc làm nửa mà công nên gấp bội;
Thu được buổi tối chung thắng lợi, mỗi người gom giọt máu hòa vào;
Mặc dầu quân phản động âm mưu, thề chẳng khoác vòng nô lần nữa.
Than ôi ! Trần - Diên Hồng hỏi mưu kỳ lão, đồng thanh quyết đánh, Bạch Đằng kia Sát Thát dựng bia.
Nguyễn - Quang Trung khích lệ quân dân, khắc chí diệt thù, Hồng Hà nọ phù kiều thắng trận.
Đại đoàn kết một khối rất mạnh, ta phải khuyên nhau.
Độc lập quốc muôn thuở vinh quang, gì còn hơn nữa ?
Vài hàng chữ mực; Một tấm lòng son.
Trời có thấu chăng ? Mong cả quốc dân soi tỏ !
Gặp ba ngày tết, chúc chung hai chữ xuân hỉ !
Mính viên Huỳnh Thúc Kháng soạn
Nguyễn Thanh Hà sưu tầm
Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch
(Cụ Nguyễn Ngọc Tỉnh nguyên là cán bộ nghiên cứu của Viện Sử học Việt Nam).
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.224-232)