VI | EN
22. Hiểu thêm về trạng bùng Phùng Khắc Khoan qua tư liệu văn khắc đá tại Thanh Hóa.
tb2006

HIỂU THÊM VỀ TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN QUA TƯ LIỆU VĂN KHẮC ĐÁ TẠI THANH HÓA

NGUYỄN VĂN HẢI

Thư viện Tổng hợp Thanh Hóa

Phùng Khắc Khoan, tên hiệu là Nghị Trai, tên tự là Hoằng Phu, người xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Tây). Ông sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước hết sức rối ren, nội chính nhà Lê vào những năm na đầu thế kỷ XVI rơi vào loạn lạc, thảm cảnh “nồi da nấu thịt” liên tục xảy ra giữa các tập đoàn phong kiến. Ở phía Bắc (gọi là Bắc triều) nhà Mạc cát cứ, ở phía Nam (gọi là Nam triều) tập đoàn Lê - Trịnh chiếm giữ. Chính sự mất ổn định như vậy đẩy nhân dân vào cảnh lầm than cơ cực, các hiền tài rơi vào tình thế ngập ngừng, muốn chọn đường đi riêng cho mình. Với ý niệm về một vua sáng Phùng Khắc Khoan đã quyết định rời bỏ Bắc triều, trở vào Nam triều thực hiện mưu đồ phò tá nhà Lê.

Trong thời gian Phùng Khắc Khoan sống và làm việc tại Nam triều, ngoài công việc chính sự, ông đã để lại cho đời một kho tàng thư tịch Hán Nôm phong phú, hết sức có giá trị.

Gần đây trong đợt đi điền dã, khảo cứu tổng hợp lại toàn bộ hệ thống văn khắc đá trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi đã tập hợp được ba văn bia do Phùng Khắc Khoan soạn và 2 thác bản bia được dập hiện lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Bia thứ nhất, dựng ở xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bia hai mặt, mặt dương đề tên “Trùng tu Ngọc Khê kiều tự,” mặt âm đề “Khấu phát thiện tâm tiến thi”(1). Mặt dương không khắc niên đại mà chỉ khắc dòng lạc khoản “Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580) đời Lê Thế Tông, được tặng Thượng thư Bộ Hộ kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mai Lĩnh hầu Phùng Khắc Khoan, hiệu là Nghi Phủ soạn. Mặt âm, lạc khoản đề: “Hoằng Định vạn vạn niên, mạnh xuân, cốc nhật” và tên người soạn là: Lê Phúc Thái, chức Quang tiến chân lộc đại phu, Đại lý tự Thiếu khanh, tước Văn Lộc tử.

Xưa kia bia được dựng ngay đầu cầu Ngọc Khê cạnh nghè cả Đế Thích thuộc làng Ngọc Tích. Vào những năm 1996 trở về trước bia còn rất đẹp, kể cả kiểu chữ và các đồ án hoa văn chạm khắc trên bia. Gần đây được chính quyền vận chuyển lưu giữ tại UBND xã, hiện bia bị vỡ làm ba mảnh.

Thông qua nội dung văn bia chúng ta biết sau một thời kỳ loạn lạc, nhà Lê lại Trung hưng, Hoàng thượng ngự giá tại kinh thành. Lúc đó có Đô Nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương Trịnh Tùng chăm lo việc nước. Thể theo ý chỉ của nhà vua cũng như nguyện vọng của muôn dân, các cầu đò trong thiên hạ đều cho sửa sang.

Lúc bấy giờ có ngài Đăng Quận công Nguyễn Khải, giữ chức Kiệt tiết Tuyên lực Dương vũ Uy dũng công thần, đặc biệt tiến phong: Phụ quốc Thượng tướng quân, Trung quân Đô đốc phủ, Đô đốc thiêm sự là người vốn dòng dõi danh gia thế phiệt trong xã Quỳnh - Thọ - Ngọc - Phúc của huyện Đông Sơn(2).

Ở vùng đất của ngài có cây cầu cổ Ngọc Khê, bắc qua sông Bôn, nguồn nước bắt nguồn tự huyện Thụy Nguyên(3), hợp nhánh thành con sông nhỏ chảy vào địa giới của huyện.

Các bậc thiện nhân, quân tử đã dựng cầu nơi đây. Ông nội của ngài là quan Tham Nghị, cha của ngài làm quan Thượng thư(4) cũng thường tu bổ cho tròn vẹn. Nhưng bởi lâu đời dấu cũ không còn chỉ còn trơ lại một chiếc cột giữa dòng, ngài muốn rạng đức sáng, mới dốc lòng lương thiện, tự bỏ của nhà, mua gỗ tận rừng sâu, mời thợ giỏi trong nước, khởi công dựng lại cầu.

Vào mùa hạ tháng 5 năm Nhâm Dần (1602) đến mùa đông tháng 10 thì xong. Cầu bắc 13 nhịp, cầu vồng 5 sắc nhọn uốn cong, đôi bên hiên lùa gió mát, trên dưới đều dùng gỗ lim, mái lợp bằng ngói sen vàng, lồng lộng chân cột in bóng nước trời, bàng bạc mái xoè dãi ánh trăng thu. Ngài lại mở thêm tấm lòng bồ tát, dựng thêm năm nhịp cầu Phúc Lai, ba nhịp cầu Hữu Nhưng và ba nhịp cầu Mỹ Ngọc. Mọi cầu dựng xong, muôn dân tấp nập. Việc dựng cầu xong xuôi mới đến xin tôi bài văn để khắc vào bia lưu truyền mãi mãi.

Bia thứ hai, hiện đang dựng tại vườn gia đình chị Vũ Thị Thạo, đối diện với chùa Du Anh, núi Xuân Đài, động Hồ Công thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bia thuộc nhóm bia hộp (bốn mặt) được tạc từ một mỏm đá nguyên khối hình trụ, kích thước khá lớn, nằm dưới chân núi cùng mạch với núi Trác Phong(5). Mặt chính có tên “Trùng tu Xuân Đài sơn, Hồ Công động, Du Anh tự bi”. Mặt phía sau khắc niên đại “Ngày lành tháng 10 niên hiệu Hoằng Định thứ 6 (1605)” và một dòng lạc khoản: Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580), được phong: Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Phụng vãng Bắc sứ, Đặc tiến Quang lộc Thiếu Bảo đại phu, Hộ bộ Thượng thư kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mai Lĩnh hầu trụ quốc là Phùng Khắc Khoan hiệu Nghị Trai soạn. Mặt bên tả khắc nối nội dung mặt chính, mặt bên hữu khắc tên các tín thí từ vua, chúa, hoàng thân quốc thích, đến các quan lại đương triều đóng tiền, trùng tu lại chùa.

Nội dung văn bia ghi chép: Đất Thiên Vực huyện Vĩnh Phúc(6) ở phía Tây nước Việt có núi Xuân Đài, trong núi có động Hồ Công, trong động có pho tượng đá Hồ Công Long Phí Trường Phòng, dấu tiên từ xa xưa để lại. Cạnh động có chùa Du Anh, sông Lỗi(7) và sông Bưởi như đôi rồng uốn khúc, núi lớn núi bé tựa bầy phượng ngồi trông. Hoa cỏ tươi xanh, thú chim lượn nhảy, khói mây giăng mắc cửa động, chòm xóm đông đúc tụ họp bên sông gom nhặt thành thế giới một bầu. Thật là danh thắng có một không hai, thiền thiên đệ nhất của đất Tây Đô. Người xưa dựng chùa Phật, tô tượng Bụt nơi đây, riêng chiếm một nơi khí thiêng hun đúc, người đời thường lui tới cầu đảo, tuỳ duyên mà được cảm ứng. Chùa lâu năm nên cổ, vật theo kiếp đổi thay, câu chuyện tu sửa còn phải đợi tay người thí chủ.

Nay có ngài Tuyên lực công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ, Đô đốc Đồng tri, tước Quảng Quận công là Trịnh Vĩnh Lộc quê Ốc Biện Thượng, xã Sáo Sơn, huyện Vĩnh Phúc(8) vốn là người văn dựa võ oai, tước cao chức đầy, ngài bèn dốc lòng Bồ đề, mở nẻo phương tiện mới nhân nền móng phúc trước kia khởi công tu sửa lại chùa vào năm Tân Sửu (1601) đến năm Ât Tỵ (1605) thì chùa cất dựng xong, tô tượng Phật Thánh. Lâu đài vàng ngọc, lồng lộng nguy nga, tượng phật thếp vàng lung linh chễm chệ y như là cõi Tây Thiên lại có một vị Phật đản sinh ra vậy.

Bia thứ ba hiện dựng tại đền thờ vua Lê Đại Hành, thuộc thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Bia hai mặt, mặt dương ghi tên “Lê Đại Hành hoàng đế điện điền chí” và niên đại khắc bia vào ngày 28 tháng 11 niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (1602). Sau phần niên đại là lạc khoản đề tên người soạn: Phùng Khắc Khoan, người đất Thạch Thất, tên tự là Hoằng Phu đỗ Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580) được phong: Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng thư bộ Công kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mai Lĩnh hầu .

Bia ghi vào năm Hoằng Định thứ 2 (1602), Đại Nguyên súy Tổng Quốc Chính Thượng Phụ, Bình An Vương Trịnh Tùng lệnh chỉ cho Đội trưởng, tước Phù Hương hầu là Mai Nạo cùng nhiều người khác trong xã Trung Lập huyện Thụy Nguyên theo như trước đây trong xã có miếu thờ Lê Đại Hành, có ruộng lộc điền, nay hợp ruộng ở các nơi giao cho lưu giữ, phân canh. Văn bia ghi các xứ đồng nằm trong các xã.

Ngoài ra chúng tôi còn thấy tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ hai thác bản văn bia chùa Vĩnh Phúc thuộc đất thôn Yên Trung, xã Chỉ Tín, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Thác bản mang ký hiệu số: 13487-13488. Thông qua thác bản chúng tôi thấy bia 2 mặt, kích cỡ 96x59cm, trán gợi nét âm trang trí mây lửa quanh mặt trời, viền chạm hoa văn dây leo. Tên bia và toàn văn khắc kiểu chữ Khải chân, mặt 1 khắc 21 dòng, mặt 2 khắc 24 dòng. Niên đại văn bia tạo niên hiệu Quang Hưng thứ 6 (1583) đời Lê Thế Tông. Người soạn là Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580), được phong Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thái thường tự khanh, tước Mai Lĩnh tử, người trang Phùng Xá, đất Thạch Thất là Phùng Khắc Khoan tự Hoằng Phu soạn.

Đối chiếu với địa danh ghi trong bia chúng tôi có về địa bàn xã Xuân Tín huyện Thọ Xuân, bia và chùa ngày nay đã bị phá, không còn gì.

Nội dung ghi: đất Yên Trung huyện Thụy Nguyên xưa có một ngôi chùa Vĩnh Phúc nổi tiếng cả một vùng, chùa được khai sáng từ các triều trước. Lúc bấy giờ có vị trưởng lão người đất Thuần Hựu - Hà Trung (nay là xã Thuần Lộc huyện Hậu Lộc) là Bùi Tất Thắng cùng các sãi vãi dốc lòng Bồ đề, quyên giáo các nhà thiện tín trong thôn góp sức, nhân làm lại chùa mới. Sau vài tuần chùa được dựng xong. Lại tạc 6 pho tượng vàng, tuy chưa được tráng lệ như xưa nhưng cũng làm hứng khởi lòng nuôi dưỡng điều thiện, tiêu trừ điều ác ở đời.

Thông qua một số văn bia do Phùng Khắc Khoan soạn, phần nào góp thêm tư liệu cho chúng ta về bước đường quan lộ của ông trên đất Thanh Hóa.

Thứ nhất về tên hiệu của ông ngoài tên Nghị Trai ông còn có tên là Nghi Phủ.

Thứ hai: khi làm quan ở Thanh Hóa (Nam Triều) ông đã giao du kết thân với nhiều các bậc công thần, trong đó có Quảng Quận công Trịnh Vĩnh Lộc và Thái Phó Đăng Quận công Nguyễn Khải. Ở cuối văn bia “Trùng tu cầu Ngọc Khê” có đoạn văn Phùng Khắc Khoan tự bạch: “Tôi biết rõ ngài vốn dòng dõi Nho gia, quan chức như thế, khoa bảng như thế… họ đều là những bậc văn chương cự phách đương thời, sao cứ đợi xin bằng được văn của lão già ngu muội này ? Thường ngày, ngài rất thích lời văn của ta nên ta không dám vụng về từ chối.

Thứ ba: Ngoài công việc ở chốn cung đình, ông đã dành thời gian đi ngao du ở các nơi đình, đền, chùa phủ danh lam thắng cảnh của xứ Thanh như: Đền Lê Hoàn, chùa Vĩnh Phúc, lăng Nguyễn Nghi, động Hồ Công v.v… Ở cuối bài văn bia trùng tu chùa Du Anh động Hồ Công núi Xuân Đài ông đã viết: “Ta nghĩ khắp trong thiên hạ đều có chùa Phật, nhưng chùa này trên có động Tiên Hồ Công, Tiên tức là Phật, Phật cũng là Tiên. Ta thường lên chơi xem thơ ngự đề trên vách của Thiên Nam Động chủ, Thượng Dương Động chủ, ngâm vịnh phong cảnh, cảm khái đất trời…”

Có thể nói rằng: Những tư liệu văn khắc trên đá do Phùng Khắc Khoan soạn hiện còn trên địa bàn Thanh Hóa là những tư liệu quí, thật sự có giá trị, góp phần phụ trợ thêm việc đánh giá công lao hành trạng của ông. Năm tháng đã qua, ngày tháng đã dài, nhưng những di văn của ông vẫn mãi còn đó, trường tồn vang vọng cùng thời gian.

Chú thích:

(1) Kích thước bia cao 2,15m, rộng 1,25m, dầy 0,25m. Trán lượn hình bán nguyệt chạm “lưỡng long chầu nhật”. Viền khắc hoa văn cúc leo xen lẫn chim thú. Hai bên khắc đôi câu đối. Tên bia và nội dung khắc kiểu chữ Khải chân, một vài chữ bị vỡ mất, mỗi mặt khoảng 26 dòng, mỗi dòng từ 6 đến 48 chữ.

(2) Đây là bốn làng Kim Bôi, Quỳnh Bôi, Ngọc Tích, Phúc Triền, dân gian thường gọi là tứ Bôn xưa, một vùng nổi tiếng khoa bảng, quan chức của đất Thanh Hóa. Nay thuộc xã Đông Thanh.

(3) Thụy Nguyên xưa kia là huyện Lương Giang, triều Lê đổi thành Thuỵ Nguyên thuộc các vùng tả ngạn sông Chu, tương đương các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa ngày nay.

(4) Theo Phúc Khê Tướng công bi dựng tại lăng Nguyễn Văn Nghi: ông nội Nguyễn Khải làm quan Tham Nghị Thái Nguyên tên húy là Tứ. Cha Nguyễn Khải là Thượng thư Bộ Công, tên thụy là Phúc Khê Tướng công Nguyễn Văn Nghi.

(5) Kích thước cao 1,97m, rộng 1,60m, chân bia cao 0,50m, rộng 2,1m được chạm ba lớp hình hoa sen đỡ lấy thân bia. Mặt trước và sau trán khắc “lưỡng long chầu nhật” cầu kỳ khá đẹp so với hai mặt bên. Tên và nội dung bia khắc kiểu chữ Khải chân, nhiều chữ bị rỗ mờ, bia có khắc húy chữ Anh.

(6) Huyện Vĩnh Phúc: Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì đến triều Tây Sơn đổi thành Vĩnh Lộc.

(7) Vĩnh Lộc phong thổ chí chép: sông Lỗi còn có tên là sông Mã.

(8) Nay là xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, quê hương của các chúa Trịnh./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.233-239)

Nguyễn Văn Hải
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm