VI | EN
22. Tác phẩm chữ Nôm và các kiểu định danh chúng (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

TÁC PHẨM CHỮ NÔM VÀ CÁC KIỂU ĐỊNH DANH CHÚNG

NGUYỄN QUANG HỒNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. TÁC PHẨM CHỮ NÔM VÀ TÊN TÁC PHẨM

1.1 Tác phẩm chữ Nôm

Khi tiếp xúc với kho tàng các tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ Nôm mà người xưa đã để lại, điều khiến chúng ta phải chú ý đến trước tiên là những khía cạnh ngữ văn học của hiện tượng này. Trong số những khía cạnh ngữ văn học đó, thì những gì thuộc về chất liệu ngôn ngữ - văn tự lại là những nhân tố cần phải được xem xét ngay từ đầu và dường như… chẳng bao giờ kết thúc.

Có lẽ cái thao tác đầu tiên mang tính ngữ văn học một cách thô sơ nhất là phân biệt các tác phẩm chữ Hán với các tác phẩm chữ Nôm trong kho tàng văn bản Hán Nôm. Quả là có không ít cơ sở thực tế để ủng hộ sự phân biệt này. Trên đại thể, trong nhiều trường hợp, ta dễ dàng nhận ra đâu là tác phẩm chữ Hán, và đâu là tác phẩm chữ Nôm. Tuy nhiên, nếu đi sâu xem xét các văn bản của từng tác phẩm cụ thể, thì ta thấy sự thể phức tạp hơn nhiều: Không ít những tác phẩm chứa đựng (hay đúng hơn: được thể hiện bằng) chữ Hán và cả chữ Nôm, nếu như không muốn nói đến cả chữ Pháp, chữ Việt La tinh hóa (chữ Quốc ngữ), và cả chữ Phạn. Mặc dù vậy, sự phân biệt chữ Hán và chữ Nôm vẫn là sự phân biệt chủ yếu về ngôn ngữ và văn tự ở đây. Duy có điều là cần có một sự giới thuyết nào đó về sự phân biệt này.

Trong bài này, chúng tôi quan tâm đến cái đối tượng vẫn được gọi là tác phẩm chữ Nôm. Chấp nhận đến mức tối đa những ấn tượng hiện có về đối tượng này, chúng tôi cố gắng đưa ra một nhận định (hay gọi là “định nghĩa” cũng được) về tác phẩm chữ Nôm. Những tác phẩm Hán Nôm khác không nằm trong giới hạn này, có thể được coi là tác phẩm chữ Hán (Hán văn) trong kho tàng tư liệu Hán Nôm. Vậy thì, theo chúng tôi, có thể gọi tác phẩm chữ Nôm là những tác phẩm thành văn trong đó chữ Nôm tiếng Việt đóng vai trò chủ yếu làm nên bộ mặt và nội dung của tác phẩm. Gồm:

a, Những tác phẩm chỉ viết bằng chữ Nôm. Vd: “Đoạn trường tân thanh” (Nguyễn Du), “Các Thánh truyện” (J.Maijorica), “Chàng Chuối tân truyện” v.v..

b, Những tác phẩm song ngữ Hán - Việt (chủ yếu là Hán – Nôm, Nôm – Hán). Vd: “Thi kinh giải âm”, “Tân biên Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú”, “Trung Dung giảng nghĩa” v.v…

c, Những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, rải rác có dùng cả chữ Hán. Vd: “Thù thế tân thanh” là một vở chèo về Kim Vân Kiều, dĩ nhiên là bằng chữ Nôm, nhưng có cả một số bài thơ bằng chữ Hán đệm vào. Lại như “Trực giải chỉ nam dược tính phú” là một cuốn sách thuốc chép 180 bài thuốc Nam (chữ Nôm) và một số bài thuốc gia truyền khác (chữ Hán) cùng một bài tổng luận về mạch (chữ Nôm), v.v…

1.2 Tên tác phẩm

Dựa vào hai bộ thư mục hiện có về kho sách Hán Nôm là bộ “Tìm hiểu kho sách Hán Nôm” của Trần Văn Giáp (Hà Nội, tập I: 1970, tập II: 1990) và bộ “Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu” (Hà Nội, 3 tập, 1993) do Trần Nghĩa và Franscois Gros chủ biên, chúng tôi đã thu thập hơn 550 tên tác phẩm chữ Nôm theo giới thuyết đã nêu ở trên (1.1.). Để làm việc này cũng cần phải phân biệt tên đầu sách với tên tác phẩm. Có không ít các trường hợp như sau đây:

a, Một đầu sách (tên sách) có thể đóng gộp vào đó mấy tác phẩm độc lập với nhau: Vd: Tên sách “Dương Tiết diễn nghĩa” mang kí hiệu VHv.1259 bao gồm trong đó không chỉ có bản dịch Nôm cuốn “Dương Tiết” của Phan Vinh (Trung Quốc), mà còn có:

- “Nhị thập tứ hiếu diễn ca” (Nôm)

- “Ấu học Việt sử thi” (Hán)

- “Tam thiên tự giải âm” (Hán – Nôm)

- “Minh đạo gia huấn” (Hán).

b, Một tác phẩm có thể được gọi bằng nhiều tên sách khác nhau. Vd: Tác phẩm “Chữ Quốc ngữ cổ” (VHv.2944) còn được gọi là “An Nam quốc ngữ tân thức” (VHv.43)

Nhiều tác phẩm khác nhau, có khi được gọi tên trùng nhau. Vd: Dưới một tên sách “Ca trù thể thể cách”, ta có ít nhất 5 bộ sưu tập khác nhau về ca trù và các điệu hát ở cung đình và dân gian (AB.431, AB.160, VNv.99, AB.499, AB.20, v.v..).

Dưới đây, chúng ta sẽ chỉ đề cập đến tên tác phẩm chứ không lấy tên các đầu sách làm đơn vị đo đếm. Cần lưu ý rằng các tác phẩm chữ Nôm được nói đến ở đây cũng chỉ giới hạn trong phạm vi sách vở được các bộ thư mục trên ghi nhận, và do đó cũng chưa đề cập đến tên các tác phẩm chữ Nôm được định bình theo phương thức khắc tay, tức là loại hình văn khắc (trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ v.v…).

2. CHỮ NÔM VÀ CHỮ HÁN VỚI TÊN TÁC PHẨM

2.1 Tác phẩm mang tên thuần Nôm (Việt)

Trong số các tác phẩm chữ Nôm ghi nhận theo giới thuyết ở trên có 43 tên tác phẩm được viết bằng tiếng Việt hoàn toàn (khoảng 8%). Chẳng hạn, các tác phẩm sau đây đã được viết bằng chữ Nôm:

- “Bài tâu về việc cấp ruộng cho xã Bình Hải Lí” (VHv.1215-1220).

- “Hành trình chùa Yên Tử” (AB.382)

- “Sự tích ông Trạng Lợn” (VNb.57)

Nhưng cũng có mấy tác phẩm Nôm mà tên tác phẩm được ghi bằng chữ Việt la- tinh (Quốc ngữ) và chữ Pháp. Vd:

- “Sưu tập các bài hát dân gian” (Recueil de Chansons populaires) (Paris, BN B42/1-5)

2.2 Tác phẩm mang tên nửa Hán nửa Nôm

Chỉ có 26 tên tác phẩm Nôm thuộc loại này (chiếm chừng 5%). Nói chung tên tác phẩm được đặt theo cấu trúc Hán văn, trong đó đã dùng một số từ Việt chữ Nôm cùng với chữ Hán. Vd:

- “Chàng Chuối tân truyện” (AB.84)

- “Tây Nam hai mươi tám hiếu diễn ca” (VNv.62)

- “Tế bà Chúa Đỏ văn” (AB.353)

- “Đồng tiền truyện” (VNb.71)

- “Lưu Bình trò” (AB.640)

2.3 Tác phẩm Nôm được đặt tên theo Hán văn

Một điều có vẻ nghịch lí là mặc dù dùng chữ Nôm (và có khi cả chữ Hán) để viết thành tác phẩm, song người xưa lại ưa dùng kiểu Hán văn để gọi tên tác phẩm của mình. Vd:

- “Đại Nam quốc sử diễn ca” (AB.1)

- “Đoạn trường tân thanh” (AB.12)

- “Đường thi quốc âm” (AB.172)

- “Chiêu Quân tân truyện” (VNb.70)

- “Cung oán ngâm khúc” (AB.392)

Có đến 477 trên tổng số 550 (chiếm hơn 82%) tên tác phẩm chữ Nôm được định danh theo chữ Hán hoàn toàn như vậy.

Vấn đề đặt ra là trong cách định danh theo kiểu đặc Hán văn như thế, phải chăng có thể tìm ra những dấu hiệu chỉ báo rằng tác phẩm nào đó chính là tác phẩm chữ Nôm. Mặc dù khó có thể tìm thấy một dấu hiệu nào có khả năng bao quát được thật nhiều tác phẩm, song một số những thuật ngữ thường gặp trong tên các tác phẩm chữ Nôm có lẽ chẳng phải là không có giá trị gì về mặt này. Các mục dưới đây sẽ xem xét các thuật ngữ như thế.

3. QUỐC NGỮ, QUỐC ÂM, NAM ÂM

Khi gặp tên các tác phẩm Hán Nôm trong đó có chứa các từ ngữ như thế, ta biết chắc chắn rằng đó là những tác phẩm chữ Nôm. Quả thực là các từ ngữ này đã chỉ bảo khá chính xác rằng trong tác phẩm ấy có vai trò đặc biệt của ngôn ngữ nước ta (quốc ngữ), của tiếng nói, giọng nói của người nước ta (quốc âm), của người nước Nam ta (Nam âm).

3.1 Quốc ngữ. Từ ngày này xuất hiện trong gần 40 tên tác phẩm (chiếm 7,5% so với toàn bộ 550 tác phẩm). Có tác phẩm trực tiếp viết bằng chữ Nôm, như “Đại Nam sử kí quốc ngữ” (AB.6). Nhưng phần lớn là những tác phẩm diễn dịch từ các nguyên tác Hán văn, như “Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca” (VNv.215).

Nói chung, thuật ngữ quốc ngữ trong sách vở Hán Nôm chỉ liên quan với chữ Nôm tiếng Việt. Song cũng có vài trường hợp thuật ngữ này còn chỉ cả chữ Việt la tinh (chữ Quốc ngữ). Đây là những tên sách xuất hiện muộn, vào khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX. Chẳng hạn, trong các sách “Ngũ thiên tự dịch quốc ngữ” (AB.229) “Tam thiên tự giải dịch quốc ngữ” (VNv.120). Có dùng chữ Nôm (và về sau) cả chữ Quốc ngữ để giải dịch chữ Hán.

Cá biệt có trường hợp như tác phẩm “Từ hàn cử ngung dịch quốc ngữ” (AB.507), trong đó chỉ dùng chữ Việt La tinh để dịch chữ Hán, không có chữ Nôm. Dĩ nhiên đây không được tính là tác phẩm chữ Nôm.

3.2 Quốc âm. Từ ngữ này xuất hiện khá phổ biến, có đến 72 lần trong tên các tác phẩm chữ Nôm (chiếm 14% toàn bộ). Thuật ngữ này được sử dụng cho cả 3 loại tác phẩm chữ Nôm như đã nêu ở (1.1.) Vd:

- “Quốc âm thi tập” (VNv.14) thuộc loại (a).

- “Chu dịch quốc âm ca” (AB.29) thuộc loại (b).

- “Chấp trung quốc âm châu kinh” (AB.504) thuộc loại (c).

3.3 Nam âm. Từ ngữ này xuất hiện không nhiều, dưới 10 tên tác phẩm, song tính chỉ báo khá cao vì hầu như thuộc loại tác phẩm vừa có chữ Nôm, vừa dùng chữ Hán (loại c). Một số là sưu tập các bài thơ chữ Nôm và chữ Hán như:

- “Nam âm phú tịnh thi ca” (VNv.76)

- “Nam âm tập lục” (AB.464).

Một số khác là sưu tập các bài “giáng bút” của Phật, Thánh, Thần, Tiên, như:

- “Danh sơn thái ngọc Nam âm chân kinh” (AB.248).

- “Ngọc thành Nam âm chân kinh” (AB.245)

- “Thiên hoa phóng nhị Nam âm chân kinh” (AB.262).

4. DIỄN ÂM, GIẢI ÂM, DIỄN CA

Diễn âmgiải âm đều có khả năng chỉ báo cao. Hầu như không có tác phẩm nào mang các thuật ngữ này mà lại không phải tác phẩm chữ Nôm.

4.1 Diễn âm. Xuất hiện không ít, có đến gần 50 tên tác phẩm mang từ ngữ này (chiến hơn 9%). Thường đây là các tác phẩm văn vần, thuộc loại thuần chữ Nôm (a) hoặc diễn dịch nguyên văn chữ Hán thành chữ Nôm (b). Vd:

Thuộc loại (a) như:

- “Việt sử diễn âm” (AB.110)

- “Lưu Bình Dương Lễ sự tích diễn âm” (Ab.394).

- “Bình Sơn Lãnh Yến diễn âm” (AB.135)

Thuộc loại (b) như:

- “Chính kinh diễn âm” (VNv.350)

- “Di Lặc chân kinh diễn âm” (VNv.145)

- “Thi kinh diễn âm” (AB.169).

4.2 Giải âm. Thuật ngữ này xuất hiện không nhiều lắm, độ 16 lần trong các tên tác phẩm, thiên về loại chuyển dịch từ nguyên tác chữ Hán sang chữ Nôm, hoặc tác phẩm song ngữ Hán – Nôm (b).

- “Thi kinh giải âm” (AB.144).

- “Tân biên Tuyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (VNv.704-7).

- “Tam thiên tự giải âm” (AB.19).

4.3. Diễn ca. Từ ngữ này gặp khá nhiều, có dến 44 lần trong các tên tác phẩm chữ Nôm. Nếu như giải âm có thể là văn vần hoặc văn xuôi, thì diễn âm và đặc biệt là diễn ca chỉ gắn với tác phẩm văn vần. Phần lớn tác phẩm “diễn ca” là thuộc loại thuần chữ Nôm, như:

- “Đại Nam quốc sử diễn ca” (AB.1).

- “Chẩn đậu diễn ca” (VNv.85)

- “Nhị độ mai diễn ca” (VNb.28).

Nhưng cũng có một ít tác phẩm dịch song ngữ (vẫn là văn vần) như:

- “Ngữ ngôn thi diễn ca” (AB.303) - dịch thơ Hán sang Nôm.

- “Quốc phong thi diễn ca” (AB.335) - dịch thơ Nôm sang Hán.

Có điều đặc biệt là, khác với “diễn âm” thuật ngữ “diễn ca” còn xuất hiện trong tên một số vở tuồng hoặc chèo cổ. Vd:

- Tuồng “Trần Quang Nhĩ diễn ca” (AB.207)

- Chèo “Trương Viên diễn ca” (VNb.80)

Tuy nhiên, tính chỉ báo tác phẩm Nôm của thuật ngữ “diễn ca” là có hạn chế. Đôi khi, một vài tác phẩm Hán văn vẫn chưa được gọi là “diễn ca”. Chẳng hạn, đó là trường hợp của “Quảng Đông tỉnh phủ châu huyện danh diễn ca” là một tác phẩm Hán văn được viết theo thể văn vần thất ngôn.

5. TÂN TRUYỆN, DIỄN TRUYỆN, DIỄN NGHĨA, VÀ VÂN VÂN.

5.1 Tân truyện. Hầu hết các tác phẩm gắn với thuật ngữ này đều là truyện Nôm viết theo thể lục bát (6/8). Vd:

- “Bạch Viên tân truyện” (VNb.68)

- “Đổng Thiên Vương tân truyện” (AB.648).

- “Lí Công tân truyện” (AN.76)

Trong số gần 35 trường hợp (chiếm 27% toàn bộ) chỉ có vài tác phẩm không phải là truyện thơ lục bát. Đó là tập “Nam ca tân truyện” (AB.641) bao gồm các bài hát theo điệu cổ, hay như sách “Phong tình tân truyện” (AB.63) là một sưu tập các bài hát đối đáp nam nữ trong dân gian (chủ yếu vẫn là thể 6/8).

5.2 Diễn truyện. Gắn với thuật này hiện chỉ thấy có 6 tác phẩm chữ Nôm được ghi nhận trong bộ (DSHNVN – Thư mục đề yếu). Nhưng tính chuyên biệt khá cao: tất cả đều là các vở tuồng. Vd:

- “Đường chinh Tây diễn truyện” (EFEO, Paris)

- “Tây du kí diễn truyện” (EFEO, Paris)

- “Lão bạng sinh châu diễn truyện” (Paris, BN, A.100)

Bên cạnh “diễn truyện” còn có một số tác phẩm được gọi là diễn hí, tân trò (hoặc đơn giản là trò). Đó đều là các kịch bản chèo, và cả tuồng nữa. Chẳng hạn:

- Tuồng “Văn Duyên diễn hí” (AB.280)

- Chèo “Trương Sinh tân trò” (VNb.61)

- Chèo “Nhị độ mai trò” (AB.216).

5.3 Diễn nghĩa. Có hơn 15 tên tác phẩm gắn với từ ngữ này (chiếm gần 3% toàn bộ). Thường đó là các tác phẩm song ngữ, dùng chữ Nôm để dịch các nguyên tác chữ Hán. Có thể là văn xuôi, cũng có thể là văn vần. Văn xuôi như “Dương Tiết diễn nghĩa” (AB.88) là bản dịch xuôi tác phẩm Hán văn của Phan Vinh (Trung Hoa). Văn vần như “Quan âm chân kinh diễn nghĩa” (VHv.725) là diễn Nôm ra thể lục bát bộ kinh này.

Tuy nhiên, từ ngữ “diễn nghĩa” vẫn thường thấy trong tên các tác phẩm Hán văn (ngay ở Trung Hoa). Cho nên không loại trừ trường hợp như “Thư kinh diễn nghĩa” (A.1251) chỉ là một tác phẩm Hán văn in ở Việt Nam.

Một tình trạng như vậy cũng xảy ra đối với các từ ngữ giải nghĩa, dịch nghĩa, giảng nghĩa, mặc dù cũng có một số tác phẩm song ngữ Hán – Nôm (b) gắn với các thuật ngữ này, chẳng hạn:

- “Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa” (AB.372)

- “Hiếu kinh dịch nghĩa” (VHv.1007)

- “Trung Dung giảng nghĩa” (AB.278)

6. MỘT VÀI NHẬN XÉT CHUNG

a, Mặc dù phạm vi khảo sát là có giới hạn, và những con số nêu lên có thể còn xê dịch, song quang cảnh chung về các kiểu đặt tên tác phẩm chữ Nôm trong kho tàng văn hiến Hán – Nôm hầu như đã hiện lên khá rõ. Trên các tác phẩm chữ Nôm được đặt theo kiểu Hán văn, là chiếm ưu thế. Điều này không hẳn chỉ là do áp lực của Hán văn đối với người xưa khi cầm bút, và có lẽ một phần là do nhu cầu tự thân của việc định danh. Người xưa đã không quen và không muốn đặt tên cho tác phẩm của mình bằng những lời nói “nôm na” cửa miệng, mà phải bằng những câu chữ “trang trọng” theo sách vở vậy.

b, Trong số các tác phẩm chữ Nôm được định danh theo kiểu đặc Hán văn (chiếm 82% toàn bộ), có đến hơn 60% tên tác phẩm gắn với một số những thuật ngữ nào đó, khiến ta có thể ở chừng mực nhất định, nhận diện ra chúng là tác phẩm chữ Nôm. Có nhiều khả năng chỉ báo nhất là các thuật ngữ quốc ngữ, quốc âm, diễn âm, diễn catân truyện.

c, Hàm nghĩa của các thuật ngữ định danh đó không thật sự xác định, có khi là không phân biệt. Song giữa chúng không phải là không có những xu hướng khác nhau đối với các loại tác phẩm là chữ Nôm hoàn toàn (a) hay có xen lẫn Hán văn (c), đặc biệt là loại song ngữ Hán – Nôm (b), và cũng ít nhiều có sự “phân biệt đối xử” với văn xuôi và văn vần, truyện thơ hay là vở diễn v.v… Có lẽ chính vì vậy mà trong số tên tác phẩm đã có hiện tượng cùng xuất hiện hai thuật ngữ định danh khác nhau. Vd:

- “Tam tự kinh giải âm diễn ca” (AB.304).

- “Tì bà quốc âm tân truyện” (AB.272)

- “Hảo cầu tân truyện diễn âm” (AB.134).

d, Một điều đáng lưu ý là trong tất cả các tên sách chữ Nôm đã được xem xét, hãn hữu mới bắt gặp chính cái chữ này. Tạm thời chỉ thấy có 2 trường hợp:

- “Thi ca Nôm” (VNv.43)

- “Thơ Nôm tập” (VNv.290).

Và cả những thuật ngữ mà ngày nay ta hay dùng như chữ Nôm, diễn Nôm, dịch Nôm cũng đều vắng bóng trong tên tác phẩm chữ Nôm ngày xưa.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.207-218)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm