VI | EN
22. Về hai bức thư viết bằng chữ Hán của một số giáo dân Bắc Kỳ gửi Giáo Hoàng La Mã năm 1630 (TBHNH 2001)
Thông báo Hán Nôm học 2001

VỀ HAI BỨC THƯ VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CỦA MỘT SỐ GIÁO DÂN BẮC KỲ GỬI GIÁO HOÀNG LA MÃ NĂM 1630

NGUYỄN THANH HÀ

Thạc sĩ. Học viện Khoa học Quân sự

Kitô giáo là một tôn giáo bắt đầu ở Tây Á, trong xứ Palestine (đầu thế kỷ 1), rồi lan truyền sang Châu Âu, Bắc Phi, Trung Á (thế kỷ 1, 2); Đông Á và Nam Á (từ thế kỷ 8), Trung Phi, Nam Phi (từ thế kỷ 15), Châu Mỹ (từ thế kỷ 16)...

Ở Việt Nam, công cuộc truyền giáo được phôi thai từ thế kỷ 15, thế nhưng, cho đến mãi tận đầu thế kỷ 16 cũng vẫn chưa có được thành tựu gì rõ rệt ngoài những lần tiếp xúc và gặp gỡ với các linh mục người Châu Âu, phần đông là Tuyên uý trên các tàu thuyền của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Công cuộc truyền giáo vào Việt Nam thực sự được bắt đầu vào đầu thế kỷ 17, với các thừa sai Dòng Tên và cũng từ thời này, chúng ta mới có nhiều sử liệu chắc chắn.

Đầu thế kỷ 17, nước Việt Nam của chúng ta ở trong tình trạng bị chia cắt thành hai nửa: miền Nam và miền Bắc, Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở Đàng Trong, họ Nguyễn vừa chống cự với họ Trịnh ở phía Bắc vừa tiến hành mở rộng bờ cõi về phía nam. Ở Đàng Ngoài, triều đình nhà Lê chỉ còn là danh nghĩa, tất cả quyền hành đều nằm trong tay họ Trịnh.

Chính do tình hình của đất nước ta như vậy, nên việc truyền giáo của đạo Kitô vào nước ta được tiến hành ở hai miền Nam Bắc có sự khác nhau. Ở Đàng Trong, cong cuộc truyền giáo bắt đầu từ năm 1615 ở Đà Nẵng, với sự đóng góp nổi bật của hai vị linh mục Buzomi và Alexandre de Rhodes. Ở Đàng Ngoài, công cuộc truyền giáo được bắt đầu từ năm 1627, sau Đàng Trong 11 – 12 năm với thừa sai Rhodes(1).

Công cuộc truyền giáo của các thừa sai Dòng Tên ở Việt Nam được tiến hành một cách tương đối thuận lợi trong một khoảng thời gian dài 3, 4 chục năm. Nhưng, sự khai phá của những người nước ngoài ào ạt xâm nhập đã làm cho vua chúa Việt Nam thời giấy giờ lo ngại. Cuối năm 1663, tất cả các thừa sai Dòng Tên ở Đàng Ngoài đều bị trục xuất; đầu năm 1665, tất cả các thừa sai người nước ngoài ở Đàng Trong cũng bị trục xuất ra khỏi xứ(2).

Trong khoảng thời gian đó, đã xuất hiện mối dây liên hệ giữa giáo dân Việt Nam với Giáo hoàng La Mã, hiện nay, ở Roma còn lưu giữ hai bức thư viết bằng chữ Hán của giáo dân Việt Nam gửi Đức Giáo hoàng năm 1630 (một bức tại Thư viện của Bộ Truyền giáo ở Roma và một bức ở Thư viện Dòng Tên Roma) để bày tỏ tình cảm của mình đối với đạo và các giáo sĩ đến Việt Nam truyền đạo. Đối chiếu với lịch sử truyền giáo của đạo Kitô ở nước ta thì liệu có thể coi đây là những bức thư ngoại giao đầu tiên giữa giáo dân Việt Nam và Toàn thánh Vatican được chăng? Điều này thì chúng tôi chưa có đủ cơ sở để khẳng định, song, đứng về mặt tư liệu mà nói thì hai bức thư này rất có giá trị cho những người làm công tác nghiên cứu trong một số lĩnh vực khoa học xã hội. Tháng 6 năm 1999 nhân chuyến đi công tác cùng với Linh mục – Tiến sĩ Sử học Trương Bá Cần, Tổng biên tập báo Công giáo và Dân tộc sang Roma (Italia), Giáo sư – Tiến sĩ Sử học Chương Thâu đã sưu tầm được 2 bức thư này. Trong khuôn khổ của một bản tham luận tham gia Hội nghị thông báo Hán Nôm học năm 2001 này, chúng tôi xin được giới thiệu toàn văn hai bức thư cùng phần phiên âm, dịch nghĩa của chúng tôi.

Bức thư thứ nhất, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Bộ Truyền giáo thuộc Toà thánh Vatican, nằm trong mục COCINCIA RELATIONES 1622 – 1727, ký hiệu Soc.Jesu Roma – Jap.Sin. 68.

1. Phần nguyên văn chữ Hán(3):

使西

使

(1630)

2. Phiên âm:

An Nam quốc các bản đạo thần đẳng bái tạ

Thiên địa chân chủ thư cẩn tấu.

Chí thánh đại Da Tô vị duy phụng sự

Thiên Chúa sử các tôn sư giáo hoá vạn bang y An Nam quốc, thiên phương tự cổ tích dĩ lai đắc văn chính đạo. Tư hạnh kiến.

Tây Vực Hoa Lang nhị sư bất tỵ phong ba gian hiểm, trực đáo bản quốc phụng Thiên Chúa lệnh, vị đạo khuyến nhân, cố bản quốc hân mộ thụ đạo đắc ngũ thiên dư, kỳ dư nguyện học dụ đa nhiên bản quốc bản quốc quân thần thượng vị thông hiểu, phỉ báng bất dĩ tắc viết: “Sơ lai vị hữu kim hà xứ đắc lai, độc bản đạo tâm vô nghi nhị ý, đốc kính thành nhân thử thư cẩn tấu”.

Chí thánh đại từ bi chi chân tình, cứu man di chi tiểu quốc tương hà kế, sử An Nam quốc quý tiện cộng đắc Thánh đạo, tận khí tha (kỳ) dĩ thoát trầm luân thụ phúc chỉ, tắc tứ hữu dư hĩ.

Thần bản đạo đẳng thể thủ đốn thủ cẩn tấu.

Tư thư

Tự Thiên Chúa giáng sinh chí kim nhất thiên lục bách tam thập niên (1630)

3. Dịch nghĩa:

Các bầy tôi của bản đạo nước An Nam bái tạ.

Cẩn tấu vị chân chúa của Trời đất,

Gửi đến vị Thánh thay mặt phụng sự Da Tô giáo.

Thiên Chúa cử các vị tôn sư đến giáo hoá vạn bang, khắp nơi trên đất nước An Nam từ trước đến nay, chưa từng được nghe về chính đạo, (nay) may mắn gặp được.

Hai Thầy từ Tây vực Hoa Lang đã không nề hà sóng gió gian khổ hiểm nguy, phụng mệnh Thiên Chúa đến bản quốc giảng đạo khuyên răn dân chúng. Vì vậy, số người hâm mộ theo đạo ở bản quốc đã có tới hơn năm ngàn người và ngoài ra (số người) tự nguyện theo học đạo ngày càng đông. Nhưng, do vua quan ở bản quốc chưa thông hiểu đạo (nên đã) không ngớt lời phỉ báng rằng từ trước đến nay ở bản quốc chưa hề có đạo này, nay sao lại có thể từ đâu mà đến đây được. Duy chỉ có dân bản đạo chúng tôi là không hề nghi ngờ hai lòng gì cả, một lòng đốc kính. Vì vậy, có thư này cẩn tấu.

Chí thánh đại từ bi chân tình cứu vớt tiểu quốc man di, có cách gì để khiến cho mọi người dân không kể sang hèn đều có thể được hưởng thánh đạo, để vứt bỏ mọi con đường (sai lầm) khác, để thoát khỏi trầm luân, để được hưởng phúc thì xin hãy ban cho chúng tôi.

Kẻ bầy tôi của bản đạo xin dập đầu cẩn tấu bức thư này.

Năm 1630 kể từ khi Thiên Chúa giáng sinh đến nay.

Bức thư thứ hai, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Dòng Tên Roma, trong mục Espitola Christianoz Turquinensiu do admodum in X:P nro P.Matio Vitellesco Praepos, ký hiệu Gnali soc. IESV.

1. Phần nguyên văn chữ Hán

謹呈

西使來,

使

(1630)

2. Phiên âm

An Nam quốc các bổn đạo thẩn đẳng bái tạ. Thiên địa chân chính thư túc cẩn trình.

Đại sư tại Tây Phương Ý - đại – lí - á quốc sử tôn sư vãng Đông phương giáo hoá chúng sinh hạnh ngộ hữu sư đáo An Nam quốc giảng. Thiên Chúa thánh đạo, cố bản quốc hân mộ bất thăng văn đạo thậm man, kế đắc ngũ thiên dư nhân, kỳ dư tín đạo dụ đa.

Nhiên bản quốc quân thần thượng vị thông hiểu, phỉ báng bất dĩ, tắc viết sơ vị hữu kim hà xứ đắc lai, độc bản đạo tâm vô nghi nhị ý đốc kính thnàh vị thử cảm thư túc trình.

Đại sư Bỉnh Liên Mân (Buzomi?) chi chân tình, cứu man di chi tiểu quốc hữu hà kế sử An Nam quốc quý tiện cộng đắc Thánh đạo, tận khí tha kỳ dĩ thoát trầm luân, thu phúc chỉ tắc kỳ tứ hữu dư hĩ.

Thần bản đạo đẳng khể thủ đốn thủ túc trình tư thư.

Tự Thiên Chúa giáng sinh chí kim, Nhất thiên lục bách tam thập niên (1630)

3. Dịch nghĩa

Các bầy tôi của bản đạo An Nam

Bái tạ:

Thư kính gửi vị chân chúa của Trời đất

Kính trình:

Đại sư ở nước I-ta-li-a sai vị tôn sư sang Phương Đông giáo hoá, chúng sinh may gặp được Thầy đến An Nam giảng đạo.

Thiên Chúa Thánh đạo vốn là đạo mà bản đạo rất hâm mộ, không phải là như đã nghe được rằng (đây là) đạo rất dã man, kể có hơn năm ngàn người rất tín đạo, và ngoài ra (số người theo đạo) ngày càng đông.

Nhưng vua quan ở bản quốc chưa thông hiểu được đạo (nên đã) không ngớt phỉ báng, bảo rằng, từ trước đến nay đạo chưa được biết đến, nay sao lại ở đâu mà đến được. Chỉ có dân bản đạo chúng tôi là không hề có sự nghi ngờ hai lòng gì cả, luôn một lòng đốc kính. Vì vậy mà có thư này để trần tình, rằng:

Đại sư Bỉnh Liên ân (Buzomi?) chân tình cứu một tiểu quốc man di, có cách gì để khiến cho tất cả mọi người ở nước An Nam, bất kể sang hèn đều được chung hưởng Thánh đạo, từ bỏ hết những con đường (sai lầm) khác để thoát khỏi cảnh trầm luân, để được hưởng phúc thì xin hãy ban cho chúng tôi.

Những kẻ bầy tôi của bản đạo xin cúi đầu trình bày bức thư này.

Năm 1630 kể từ sau khi Thiên Chúa giáng sinh đến nay.

* * *

Như vậy, nội dung của cả hai bức thư trên rất gần nhau, đều đã phần nào nói lên được bối cảnh lịch sử của nước ta buổi ban đầu khi đạo Kitô mới được truyền bá vào Việt Nam. Văn bản bức thư không cho biết đây là bức thư do giáo dân xứ Đàng Trong hay Đàng Ngoài gửi đến đức Giáo hoàng, nhưng căn cứ vào lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, chúng tôi suy đoán rằng, có thể đây là hai bức thư của giáo dân xứ Đàng Ngoài gửi đến đức Giáo hoàng. Bởi vì, như đã nói ở trên, công cuộc truyền giáo của các thừa sai Dòng Tên ở xứ Đàng Ngoài được bắt đầu từ đầu năm 1627, khi đó, hai linh mục là Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và Marquez đang truyền giảng ở Thanh Hoá thì gặp chúa Trịnh trên đường đi chinh chiến trở về, chúa Trịnh gặp và mời hai cha vào Thăng Long. Buổi đầu, hai cha được chúa Trịnh (Trịnh Tráng) ưu đãi, cho phép tự do giảng đạo. Số người theo đạo rất đông. Đến tháng 3 – 1629, chúa Trịnh đổi ý ra lệnh cấm đạo, trục xuất hai cha, cho thuyền đưa hai cha và Đàng Trong. Tới Bố Chính, hai cha lại tìm cách quay trở lại, giảng đạo ở ven biển Cửa Lò, Cửa Sót, Cửa Rùm (Nghệ Tĩnh) trong vòng 8 tháng. Sau đó, do tình hình tài chính ngặt nghèo, không có tiếp tế, hai cha gặp tàu buôn Áo Môn, theo tàu trở lại Thăng Long, trước khi vĩnh biệt xứ Bắc vào năm 1630. Kết quả 3 năm giảng đạo ở xứ Đàng Ngoài, số người theo đạo lên tới 7000(3). Đây phải chăng là hai bức thư của giáo dân xứ Đàng Ngoài viết gửi cho Giáo Hoàng nhân dịp hai linh mục trở lại Thăng Long và được cha Rhodes mang về Toà thánh? Rất mong được sự chỉ đạo của các nhà chuyên môn để làm rõ hơn xuất xứ của hai bức thư này.

Từ trước đến nay, trong kho tàng văn bản Hán Nôm của đất nước chúng ta có một mảng văn bản thuộc đề tài tôn giáo rất phong phú đã được các nhà nghiên cứu chú ý khai thác để phục vụ cho công cuộc nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Giới thiệu hai bức thư bằng chữ Hán của giáo dân Việt Nam gửi Giáo hoàng La Mã năm 1630 trong Hội nghị thông báo Hán Nôm học lần này, chúng tôi mong muốn được đóng góp thêm một phần tư liệu vào kho tàng văn bản Hán Nôm của chúng ta hiện nay, hy vọng là sẽ có ích đôi chút đối với các nhà nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này.

Chú thích:

1. Dựa theo Trương Bá Cần Lịch sử phát triển công giáo ở Việt Nam Tập 1 Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Do Thư viện ở Toà thánh Vatican không cho phép sao chụp các văn bản lưu giữ ở đó cho nên chúng tôi xin giới thiệu 2 bức thư bằng chữ Hán này theo bản chép tay của G.S Chương Thâu.

3.Theo Trần Quang Chu Hành hương giáo phận Huế 2000.

Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.187-195

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm