23. Bài vị và câu đối ở từ đường Nguyễn Bảo (TBHNH 1997)
BÀI VỊ VÀ CÂU ĐỐI TỪ ĐƯỜNG NGUYỄN BẢO
TRƯƠNG SĨ HÙNG
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
Có lẽ trong số các quan chức làm việc thân cận với nhà vua Lê Thánh Tông (1442-1497) và Lê Hiến Tông (1497-1504); chỉ có Nguyễn Bảo là người đương nhiệm lâu nhất. Năm 1460 Lê Thánh Tông lên ngôi đúng lúc 18 tuổi. Đến năm 1472 thì Nguyễn Bảo thi đỗ “Đệ tam giáp Đông tiến sĩ xuất thân”. Một thí sinh được thầy chấm thi là Nguyễn Trực nói “được chấm bài của ông”; rồi đánh giá “bài ấy đứng vào hàng kiệt tác. Từ nay về sau, nghĩa lý trong kinh sách thánh hiền đều kí thác vào ông cả”.
Khi ứng chế thi Đình giữa những người đã đỗ kì thi Hội, Nguyễn Bảo đọc 5 bài thơ Vịnh nguyệt và bài phú Nguyệt trung Quế được vua Lê Thánh Tông khen ngợi; rồi đặc cách cử ông vào làm việc ở tòa Đông các. Năm Hồng Đức 21 (1490) Triều đình đánh giá Nguyễn Bảo “là người có tài học, có phẩm hạnh, thăng lên chức Tả tư giảng ở Tả xuân phường, giữ việc phò tá, dạy học cho Thái tử. Năm 1495, Nguyễn Bảo được thăng chức Hữu thuyết thư ở Tả xuân phường. Có lúc, bộ Lại định cử ông đi giữ chức Tham chính trấn Hải Dương, vua Lê Thánh Tông liền viết sắc chỉ: “Nguyễn Bảo là bây tôi tin cẩn, giữ trọng trách phò Thái tử ở Đông cung, vậy bộ Lại nên cất nhắc một viên chức khác”.
Sau 38 năm trị vì thiên hạ, năm 1497 Lê Thánh Tông qua đời. Nguyễn Bảo tiếp tục làm việc trong triều. Lê Hiến Tông nối ngôi cha, vẫn trọng dụng Nguyễn Bảo. Đáng quí hơn, Lê Hiến Tông còn giao cho ông soạn văn bia ghi công đức vua cha ở chùa Thầy khắc vào đá núi Sài Sơn ở am Hiển Thụy; Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đã từng sao chép trong Hoàng Việt văn tuyển và Lịch triều hiến chương loại chí. Đặc biệt, sách Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn đã chép tuyển gần 200 bài thơ, phú của Nguyễn Bảo.
Như vậy, ngoài cương vị một quan chức có uy tín, Tiến sĩ văn chương, Nguyễn Bảo còn là một nhà thơ được đánh giá cao, có vai trò nhất định trong lịch sử văn học Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XV.
Năm 1991 trong sách Nguyễn Bảo – Nhà thơ danh nhân văn hóa, nhóm sưu tầm, tuyển dịch chúng tôi, đã chọn in được 34 bài thơ phú của ông. Bài Văn bia Sơn lăng do Nguyễn Bảo viết chung với Nguyễn Xung Xác, hiện có bản rập, lưu trữ tại Viện Hán Nôm (1919) với tên gọi Khôn nguyên chí đức chi bi đã được Hoang Lê giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm (Số 1 năm 1993).
Cho đên nay hơn 500 năm đã qua huân công Nguyễn Bảo vẫn được truyền tụng, ghi chép. Tiếc rằng không có tài liệu cụ thể, cho phép ta biết chính xác về năm sinh năm mất của ông. Những thông tin từ bia Sơn lăng: “Dựng ngày Canh Dần, tức ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thống thứ nhất” và bài minh ở am Hiển Thụy “Năm Cảnh Thống thứ hai, nhà vua nhớ đến nguyện ước xưa, muốn tỏ công thần thánh, đặc biệt sai tôi lầm văn bia” thì đến năm 1498-1499 Nguyễn Bảo vẫn đương triều. Năm 1502 “tháng 2, thi Hội các Cử nhân trong nước. Sai (…) Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn Lâm viện Thị độc, chưởng Hàn lâm viện sự Nguyên Bảo” (…) đọc quyển thi. (ĐVSKTT, Q.XIV).
Sách Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn cho biết sau năm 1501 “khoảng vài năm thì ông mất”.
Vậy Nguyễn Bảo mất ở đâu và trước khi mất có được hưu quan không? Việc qua đi gần 500 năm rồi, sử sách, gia phả đều không có ghi chép gì.
Năm 1979, chúng tôi đã tìm về quê ông, ở làng Phương Lai (nay thuộc xã Phú Xuân thị xã Thái Bình). Giữa miền quê yên bình ấy hiện còn ngôi từ đường; tuy nhỏ hẹp nhưng cũng là xây cất thành 3 gian, nguyên liệu là gạch nung đỏ và vôi vữa. Quan sát nguyên liệu, kỹ thuật nề, mộc đơn giản, ta dễ dàng nhận được thời điểm xây dựng của những năm đầu thế kỷ XX.
Con cháu họ Nguyễn nói rằng, khoảng 1925 cụ Nguyễn Am bấy giờ làm quan huyện, thấy ngôi nhà năm gian thờ Nguyễn Bảo bị đỗ nát, bèn dỡ ra xây dựng lại như hiện trạng.
Trong số các di vật, có bức đại tự đắp chữ nổi: NGUYỄN TƯỚNG CÔNG TỪ. (Nhà thờ Nguyễn Tướng công). Bàn thờ xây gạch có hai bài vị, người sở tại gọi là thẻ mộc bài. Thẻ thần chủ của Nguyễn Bảo có chữ: “Tứ Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ xuất thân, Lễ bộ Thượng thư, chưởng Hàn lâm viện, Đô ngự sử đài, trí sĩ, Nguyễn Quí công”.
Tạm dịch: Vị được ban tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn giữ chức Thượng thư bộ Lễ, Chưởng Hàn lâm viện kiêm Đô ngự sử đài, rồi về trí sĩ Nguyễn quí công.
Dẫu là đời sau có Làm lại thẻ mộc bài thì mấy dòng chữ đó cũng nói rõ việc Nguyễn Bảo có nghỉ hưu về quê. Song, năm 1462, Lê Thánh Tông đã ban hành lệ trí sĩ “các quân văn võ đương chức, đến 65 tuổi muốn về hưu thì gửi đơn cho bộ Laịi..”. Vì vậy, rất có thể, cuối năm 1502 - Tiến sĩ Nguyễn Bảo mới nghỉ hưu về quê nhà. Hẳn là cũng có ngoại lệ, nhưng chính Nguyễn Bảo đã viết trong bài tiễn Ngô Sĩ Liên “trí sĩ”:
Tạo tựu anh tài tư quốc dụng
Tuân thừa cổ lễ khất thân quy
Tứ triều ký tác nhân gian ngưỡng
Thất dật khang cường thế diệc hy.
Nghĩa dịch thơ là:
Tạo dựng anh tài ra cứu nước
Đến già theo Lễ trở về quê
Bốn triều kỳ cựu người tôn kính
Bảy chục khang cường, đời hiếm ghê.
Chi tiết dù nhỏ, nhưng có ý nghĩa với cuộc đời một quan chức ở Trung ương ở thế kỷ XV, mà có Châu Khê thi tập còn góp công của văn chương, giáo dục Việt Nam. Thơ điền viên của Nguyễn Bảo cũng tỏ ý mãn nguyện ngợi ca triều chính và cảnh phong lưu, ấm cúng nơi thôn dã.
Hai đôi câu đối khá hay:
1- Lạc địa từ đương kim tái xưởng
Thượng thư thế duệ tích do truyền.
(Đất Lạc từ đường nay mở rộng
Dòng dõi Thượng thư vẫn dõi truyền).
2. Văn danh hoạn nghiệp Lê triều sử
Thiện chỉ nhân cơ Nguyễn Thị từ
(Văn chương, sự nghiệp ngời Lê sử
Móng nền nhân thiện Nguyễn từ đường).
Như thế, bên cạnh các nguồn thư tịch, bài vị, đại tự, câu đối ở từ đường Nguyễn Bảo đã góp phần giúp ta hiểu biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Nguyễn Bảo đã nghỉ hưu rồi mất ở quê hương, nơi chôn rau cắt rốn.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.219-223)