VI | EN
23. Đôi nét về Vương tôn Cơ Quận công Trịnh Lãng (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

ĐÔI NÉT VỀ VƯƠNG TÔN CƠ QUẬN CÔNG TRỊNH LÃNG

DƯƠNG VĂN HOÀN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) có cho biết Trịnh Lãng là vị quan Đề điệu của khoa thi này qua câu “Đặc sai Đề điệu là Thiếu uý Cơ Quận công Trịnh Lãng”. Như chúng ta đã biết Đề điệu là viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi, thường do các quan đại thần đảm trách. Tuy nhiên, các tài liệu chính sử, cũng như các sách báo hiện nay đều không cho biết thông tin gì hơn về nhân vật có tầm cỡ này, do đó nhân dịp Hội thảo Thông báo Hán Nôm học năm nay, chúng tôi xin cung cấp thêm một số sử liệu có liên quan nhằm làm rõ thân thế, sự nghiệp của ông.

Trịnh Lãng - dòng dõi nhà chúa

Trước tiên, qua tìm hiểu của chúng tôi trên cứ liệu gia phả và văn bia được biết ông chính là vị Vương tôn, tức cháu nội của chúa Chiêu Tổ Khang Vương Trịnh Căn, và là chú họ của chúa Trịnh Cương đang nắm quyền chính tại thời điểm bấy giờ.

Sử liệu 1

Sách Trịnh vương phả ký (kí hiệu A.676) cho biết như sau:

:

Nghĩa là: “Đức Chưởng Tể sinh được 3 công tử:

Con trưởng là Thái phó Viên quận công;

Con thứ là Thái Phó Đĩnh quận công;

[Con thứ ba] là Phó Đô tướng Thái tể Cơ quận công(1) Trịnh Lãng”.

Sử liệu 2

Chi tiết hơn, sách Trịnh thị gia phả (kí hiệu A.641), trang 19a ghi như sau:

宰上, , , , , , ; 太宰, . . Nghĩa là: “Chưởng tể Thượng tướng công Trịnh Chuyên (có thể đọc là Trịnh Duyên), là con thứ của Khang Vương [Trịnh Căn], khi Lương Mục vương [Trịnh Vĩnh] mất(2), được phong là Tiết chế, Khiêm quận công, được mở phủ Lý Chính. Ông mất sớm. Con trưởng là Trịnh Du đã được phong là Hằng quận công(3), con thứ là Trịnh Bản đã được phong là Diên quận công(4), đều phạm tội ác nghịch, phế làm dân thường; Thái tể(5) Cơ quận công Trịnh Lãng; Bao phong Quận chúa(6) là Trịnh Thị Ngọc Đổ lấy Tựu quận công(7). Cháu đích tôn [của Trịnh Chuyên] là Côn quận công Trịnh Hào phụng tự”.

Qua chi tiết này, chúng ta được biết đức Chưởng tể Trịnh Chuyên có tất cả 4 người con (3 trai, 1 gái), đó chính là Trịnh Du, Trịnh Bản, Trịnh Lãng, Trịnh Thị Ngọc Đổ. Đồng thời còn giải thích được tại sao cuốn sách Trịnh vương phả ký ở trên lại không nhắc đến tên hai người con đầu của ông, bởi theo lệ chép phả của nhà chúa, nếu người nào phạm tội đại nghịch, phế làm thứ dân, sẽ không được mang họ Trịnh và ghi tên vào gia phả nữa.

Như thế, qua hai sử liệu trên, chúng ta được biết Trịnh Lãng chính là người con thứ ba của đức Chưởng tể Trịnh Chuyên, cháu nội chúa Trịnh Căn.

Một vấn đề đặt ra Trịnh Lãng là con của bà Thị tần nào?

Bài văn bia dựng năm Ất Hợi Chính Hòa thứ 16 [1695] là Trùng tu Pháp Vân tự bi ký (ký hiệu 10022-23) do Thám hoa Vũ Thạnh(8) soạn, mới được biết rõ. Trong bài văn bia này có đoạn: “Nay duy có Vương tôn Trịnh Lãng người xã Sóc Sơn, nhà ở hương Biện Thượng huyện Vĩnh Phúc phủ Thiệu Thiên(9) dòng dõi gót lân nhân hậu(10), ao trời vắt trong(11); dốc lòng vì đạo, hâm mộ đức nhân từ của Sở Nguyên [vương](12), vui với điều thiện noi theo đức hiếu trung của Đông Bình [Hiến vương](13). Ấp này là quê của mẹ ngài, xiết kể hương trời thơm tho ngào ngạt(15), chín làng phấn khởi tắm gội ơn nhuần. Nhân thấy có sư trụ trì đến thỉnh, thiện tâm nảy sinh tự nhiên, bèn đem chuyện ấy bẩm lên với Tôn mẫu Thị nội cung tần Trần quý thị, và mẹ đẻ là Lý Chính phủ Thị tần Lưu quý thị. Được hai bà bằng lòng ưng thuận, rộng phát tiền bạc giao cho ông bà ngoại là Lưu Đình Tá tự Đạo Kiêm pháp hiệu Huyền Phúc và Phạm Thị Năm hiệu Diệu Nghiễm trông nom quán xuyến mọi việc như tuyển chọn cột xà, lựa tìm trụ đá…”

Qua tìm hiểu một số văn bia, tài liệu khác(16) và gia phả dòng họ Lưu Ngọc ở Liêu Trung, chúng tôi được biết, bà Lưu quý thị là Thị tần trong phủ Lý Chính (phủ của Tiết chế Trịnh Chuyên), chính là bà Lưu Thị Ngọc Tài, con của ông Lưu Đình Tá và bà Phạm Thị Năm, người thôn Nhất Lý xã Liêu Trung huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương, nay là làng Liêu Trung xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên. Như vậy, làng này chính là quê ngoại của Vương tôn Trịnh Lãng vậy.

Cũng theo một tấm bia Hậu Phật khác ở làng Liêu Trung là Hậu Phật bi (kí hiệu 9998), chúng ta không những biết được ngày làm giỗ của Vương tôn Trịnh Lãng là ngày mồng 10 tháng 6, mà còn biết được chức tước trước lúc ông mất là Trung quân Tả Đô đốc Cơ quận công Trịnh công Lãng.

Tóm lại, qua một số tài liệu trên, tính tới thời điểm hiện nay, chúng ta mới chỉ biết được đôi nét về tiểu sử của Vương tôn Cơ quận công Trịnh Lãng. Ông là con thứ ba của Chưởng tể Trịnh Chuyên với bà Thị tần Lưu Thị Ngọc Tài, cháu nội chúa Trịnh Căn, năm 1710 làm Đề điệu của khoa thi Tiến sĩ năm Canh Dần, và làm quan trải các chức Thiếu úy, Trung quân Tả Đô đốc, Thái tể, tước Cơ quận công, sống vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII dưới thời Lê Trịnh, mất ngày mồng 10 tháng 6 Âm lịch.

Việc làm này của chúng tôi, chắc chắn sẽ góp phần giúp ích ít nhiều trong việc khớp nối phả hệ của dòng họ chúa Trịnh, một dòng họ có nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ và cống hiến lớn lao trong lịch sử dân tộc ta.

 

Chú thích:

(1) Trong quá trình tìm hiểu về Cơ quận công Trịnh Lãng, chúng tôi được biết có 2 nhân vật gần thời bấy giờ cùng được phong tước là Cơ quận công, cụ thể đó là Cơ Quận công Nguyễn Thành Trân (1641-1693) người xã Bát Tràng (xem văn bia Cơ Quận công chi bi, ký hiệu 3653/3654, thác bản sưu tầm tại nhà thờ Cơ quận công thôn Báo Đáp xã Hạ Tốn huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Báo Đáp xã Kiêu Kỵ huyện Gia Lâm, Hà Nội); và Cơ Quận công Đỗ Nguyễn Thụy người thôn Đình Cả xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, xứ Kinh Bắc làm đến chức Tổng Thái giám thế kỷ thứ XVIII (xem văn bia Trùng tu Cổ Lũng tự miếu bi ký, ký hiệu 6749-52, thác bản bia sưu tầm tại chùa Cổ Lũng thôn Đình Cả xã Nội Duệ tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Đình Cả xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh).

(2) Trịnh Vĩnh là con trưởng của chúa Trịnh Căn, từng được chọn làm Thế tử, nhưng do mất sớm, nên chúa Trịnh Căn chọn người con thứ là Trịnh Chuyên lên thay, cho mở phủ Lý Chính. Tuy nhiên, Trịnh Chuyên chưa kịp làm chúa thì đã chết, chúa Trịnh Căn lại đưa cháu đich tôn Trịnh Bính là con trưởng của Trịnh Vĩnh lên nối nghiệp. Trịnh Bính cũng chưa kịp lên ngôi chúa thì đã chết, chúa Trịnh Căn lại phải đưa người chắt nội (tằng tôn) là Trịnh Cương lên thay.

(3) Sách Trịnh vương phả ký ở trên chép là Viên Quận công, chữ Viên và chữ Hằng có tự dạng giống nhau, chưa rõ tài liệu nào đúng.

(4) Sách Trịnh vương phả ký ở trên chép là Đĩnh Quận công, chữ Đĩnh và chữ Diên cũng có tự dạng khá giống nhau, chưa rõ tài liệu nào đúng.

(5) Nguyên bản chép là Thái bình 太平, là chép nhầm do tự dạng của chữ bìnhvà chữ tểkhá giống nhau. Vì theo Chu lễ, chức Thái tể giữ sáu điển lễ để dựng nước, sáu điển là: Trị điển, giáo điển, lễ điển, chính điển, hình điển, sự điển. Thời Lê Trung hưng còn dùng chức này làm hàm truy tặng cho các quan Tể tướng sau khi mất, như Ngô Trí Hòa, Nguyễn Thực, Nguyễn Quý Đức,…

(6) Con gái của chúa mới thực thụ là Quận chúa, ở đây Trịnh Thị Ngọc Đổ là con gái của Thế tử Trịnh Chuyên, sau được bao phong là Quận chúa.

(7) Chưa rõ là ai.

(8) Vũ Thạnh (1664-1727) người quê xã Đan Luân, huyện Đường An, trú quán phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, đỗ Thám hoa năm 1686, làm quan trải nhiều chức, từng bị bãi miễn, rồi lại được khởi dụng, là nhà giáo dục nổi tiếng đào tạo hàng nghìn sĩ tử, gắn với trường Hào Nam thời bấy giờ.

(9) Đây là quê của chúa Trịnh, nay là làng Bồng Thượng xã Vĩnh Hùng huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa.

(10) Nguyên văn: chân chân lân chỉ (gót con kỳ lân nhân hậu), lấy ý trong bài Lân chỉ, Chu Nam, Kinh Thi có những câu như “Lân chi chỉ, chân chân công tử, hu ta lân hề,…”, nghĩa là: chân của con kỳ lân, công tử nhân hậu, ôi như con lân vậy thay. Các tiên nho đều chú giải đây là lời thơ khen ngợi dòng dõi của Văn Vương nhà Chu.

(11) Nguyên văn: thực thực thiên hoàng (ao trời trong vắt nhìn thấu tới đáy), thời xưa gọi dòng dõi tông thất nhà vua là ao trời, muốn nói việc chia tách các chi phái trong hoàng tộc giống như bắt nguồn từ ao trời. Cho nên cả hai câu này đều hàm ý tán dương Trịnh Lãng là dòng dõi nhà chúa cao quý.

(12) Sở Nguyên vương, tên là Lưu Giao, tự Du, em cùng mẹ với Hán Cao Tổ Lưu Bang. Sau khi Cao Tổ bắt Sở vương Hàn Tín, liền lấy đất ấy phong cho em là Lưu Giao làm Sở Nguyên vương, định đô ở Bành Thành, ở ngôi 23 năm thì mất. Sở Nguyên vương rất thích Kinh Thi, các con của ông cũng đều học Kinh Thi. Khi ông làm vương, dùng Thân Công làm Trung đại phu, và sai con trai là Dĩnh Khách và Thân Công đến Trường An theo học Kinh Thi của Phù Khâu Bá. Khi Hán Văn Đế Lưu Hằng lên ngôi, biết tiếng Thân Công là người rất giỏi Kinh Thi, nên trao cho làm Bác sĩ.

(13) Đông Bình Hiến vương: tên là Lưu Thương, con của Quang Vũ Đế, em cùng mẹ với Minh Đế thời Đông Hán, năm Kiến Vũ thứ 15, được phong làm Đông Bình công, năm thứ 17 phong làm Đông Bình vương, định đô ở Vô Diêm. Sách Hậu Hán thư khen Lưu Thương: lúc nhỏ ham thích Kinh Thư, rất có tài trí. Năm Vĩnh Bình nguyên niên, Minh Đế cho làm Phiêu kỵ tướng quân, lưu lại kinh đô phụ chính, ngôi vị ở trên tam công, sau mấy năm lại xin về Đông Bình. Cũng sách này, Đông Bình Hiến vương Thương truyện chép, năm Vĩnh Bình thứ 15, mùa xuân, vua Hán Minh Đế đến Đông Bình,... nhà vua đem việc biên soạn sách Quang Vũ bản kỷ nói với Thương, Thương nhân đấy dâng bài Quang Vũ thụ mệnh trung hưng tụng (bài thơ ca tụng vua Quang Vũ nhận mệnh trời trung hưng nhà Hán), vua rất khen ngợi.

(14) Chỉ vẻ đẹp sắc nước hương trời.

(15) Đó là văn bia Hậu thần bi ký khắc trên tấm bia khối hộp long đình bốn mặt có chạm khắc rất đẹp, hiện bia nay vẫn còn trên nền miếu cũ giáp bờ sông (miếu nay không còn), nhưng bia bị đạn bắn vào nên bị vỡ nhiều chỗ, tấm bia này trước đây đã được rập lấy thác bản, nay các bản rập còn được lưu ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, với các kí hiệu No10009-12. Và tài liệu Hưng Yên tỉnh Yên Mỹ huyện Liêu Xá tổng Liêu Trung xã cổ tự chỉ, kí hiệu AHa.1/4./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.639-645)

Dương Văn Hoàn
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm