VI | EN
23.Minh văn phản ánh đời sống tư tưởng văn hóa và tình hình Phật giáo trên chuông đồng thời Nguyễn... (TBHNH 2002)
TBHNH2002

MINH VĂN PHẢN ÁNH ĐỜI SỐNG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA VÀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO TRÊN CHUÔNG ĐỒNG THỜI NGUYỄN LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM

PHẠM THUÝ HỢP - PHẠM VŨ SƠN

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

      Chuông đồng là loại hiện vật gắn liền với những sinh hoạt tôn giáo. Hầu như trong các đình, chùa, đền, miếu hiện nay chúng ta đều có thể thấy sự hiện diện của những quả chuông đồng với nhiều kích thước và phong cách khác nhau. Ở nước ta dưới thời Nguyễn ngoài Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo còn có Thiên chúa giáo bắt đầu được mở rộng, tuy Phật giáo không phải là quốc giáo nhưng nó vẫn có một sức sống mạnh mẽ trong đời sống tư tưởng của nhân dân. Chính vì thế mà dưới thời Nguyễn có nhiều công trình kiến trúc, đặc biệt là chùa chiền được sửa sang, tu bổ, xây dựng và số lượng chuông được đúc trong thời kỳ này còn lại cho đến ngày nay rất phong phú, trong đó số chuông được đúc dưới thời vua Minh Mạng và Tự Đức nhiều hơn cả.

      Cho đến trước năm 1954 số lượng chuông đồng của Bảo tàng Louis Finot – Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ngày nay còn hạn chế. Từ năm 1954 đến nay sưu tập chuông của Bảo tàng chúng tôi đã được bổ sung đáng kể tổng số lên tới 45 quả chuông, trong đó số lượng chuông thời Nguyễn chiếm một tỷ lệ rất cao: 30/45 quả. Chúng được đúc rải rác vào nhiều thời điểm khác nhau từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.


S TT

Tên chuông

Số đăng ký

Niên đại

Kích thước

Địa điểm

Cao toàn bộ

Cao quai

Đường kính

1

Bồng Lai tự chung

Lsb 23142

Ngày 22-4 Minh Mệnh năm thứ 1 (1820)

95

24

46

Thôn Cồn Mộc, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Giang

2

Linh Tiên tự chung

Lsb 23141

Ngày 13 tháng 6 Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)

120

30

64

Xã Pháp Kiệt, tổng Thuận Lê, châu Bố Chánh, phủ Quảng Bình

3

Viên Quang tự chung

Lsb 23143

Minh Mệnh năm thứ 3 (1822)

95

29,5

47,5

Xã Năng Lữ, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, Nam Định

4

Dư Duệ tự chung

Lsb 23146

Tháng 5 Minh Mệnh năm thứ 19 (1840)

75,5

 

55,5

Thôn Điện Tiền, xã Đề Cầu, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Bắc Ninh

5

Na Lai tự chung

Lsb 23147

Minh Mệnh năm thứ 21 (1840)

83

 

55,5

Thôn Liên Cúc, xã Hưng Lục, huyện An Lạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây (cũ)

6

Linh Thông tự chung

Lsb23149

Tháng 10 Tự Đức năm thứ 3 (1850)

102

33

48

Thôn Vân Hồ, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội

7

Phố Quang tự chung

Lsb 23150

Ngày 15 tháng 3 Tự Đức năm thứ 7 (1854)

78

 

57,5

Thôn Mông Trường, xã Đạm Xuyên, huyện Yên Lãng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây

8

Lâu Phúc tự chung

Lsb 23132

Tự Đức năm thứ 30 (1877)

70,5

 

48,5

Thôn Tiền, xã An Lạc, tổng Đăng Khôi, huyện Vụ Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

      Trên 30 quả chuông có niên đại thuộc thời Nguyễn nói trên có 24 quả được khắc chữ Hán và chữ Nôm, 20 quả có niên đại tuyệt đối, còn lại 10 quả không chắc niên đại. Các bài minh văn trên chuông có giá trị nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: minh văn là nguồn sử liệu về chính trị-xã hội, minh văn nói về tổ chức các cấp hành chính tạm thời, minh văn nói về những biến động xã hội... Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số bài minh văn có nội dung phản ánh đời sống tư tưởng văn hoá và tình hình Phật giáo trên một số quả chuông trong sưu tập chuông thời Nguyễn của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nói trên.

      Có thể nói “Âm thanh của chuông đồng là phương tiện để cái tâm nghe rung động mà giác ngộ đạo Phật, nó cụ thể như huyền diệu, sâu sa, nhờ cái cơ vốn hữu hạn mà người ta nhận ra cái không ở ngoài nó là có thức nhưng mênh mông không cùng, ấy là sự giác ngộ sẽ tự giải thoát. Người dân không biết gì về triết lý cao xa của Phật, mà chỉ biết việc cầu phúc, chỉ biết chuyện quả báo luân hồi. Từ lâu, từ rất lâu rồi, triết lý Phật giáo đã chuyển thành một thứ đạo đức học mà từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn là hạt nhân, chúng sinh có thể hiểu được và làm được, không cao xa rối ren như triết lý Phật giáo nguyên thuỷ. Tu nhân tích đức kiếp này để an vui hưởng phúc kiếp sau. Niết bàn khó hiểu, khó đạt nên trở thành cõi thiên đường, thành cõi cực lạc dành cho những người làm điều thiện kiếp này qua kiếp khác, đối lập với địa ngục, nơi trừng trị quân gian ác (Trần Văn Giàu. Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập I. Nxb KHXH.H, 1973).

Trong bài minh văn chuông chùa Bồng Lai (1820) cũng có đoạn viết:

Phật Tam Bảo chứng minh

Nhờ muôn thần bảo hộ!

Để từ đây dân thôn

Sống vững vàng kiên cố...

Các thần ác đâu đó

Nghe chuông kêu trốn dài

Các thần thiện dù xa

Nghe chuông gào đến ngay!

      Bài ký trong minh văn chuông chùa Viên Quang (1822) có đoạn bàn luận ý nghĩa của tiếng chuông: “Thường nghe nói: chuông là nhạc khí hình tròn, tiếng kêu của nó trở thành điệu nhạc ở các cung bậc, nó thường oà theo tiếng trống”. Chùa phải có chuông cũng do ý nghĩa đó để kinh động thức tỉnh những tâm hồn đang mê muội, mờ chìm trong trần tục. Tác dụng của chuông giúp cho việc giáo hoá như thế thì chùa càng không thể thiếu nó được! Lời của bài minh còn ca ngợi âm hưởng của chuông như sau:

“Đúc quả chuông lớn, xưa nay kỳ công!

Thành hình nhờ lửa, chất liệu là đồng.

Tiếng kêu vang vang, tiếng lan trầm trầm!

Tiếng chày “Ngưu vĩ” vẫn có kình âm.

Tiếng linh hướng đạo, tiếng động sơn lâm.

Ngồi lặng nghe chuông, khơi động thiện tâm.

Phật tử mười phương, thấy phúc đến gần!”

      Minh văn chùa Dư Duệ (1838), cho một ý nghĩa tương tự:

      “Thường nghe nói: “Đạo chỉ một thôi, chẳng phải là khí vật thì chẳng rõ hình hài, chuông cũng thế chăng”... “chuông cho một tiếng kêu trong năm âm sắc, vang động chùa chiền miếu vũ, tiếng đồng thưa ngặt ngân lên, gợi cho các chùa đều nên có chuông chứ?”. “Tiếng chuông thức tỉnh tấc dạ phàm trần, tiếng chuông du dương tạo thành ý thiện. Trong bếp nghe chuông tâm tư như đèn nến, dưới nguyệt chày kình khua theo nhịp nhặt thưa; hai lễ tế xuân thu dâng lên rượu thịt, một trận gió điều hoà chuông vọng thấp cao”...

“Tiếng chuông rung động, lòng người lẽ trời.

Ca tụng những gì, không thể đổi dời

Giàu lên, mạnh lên! phúc để muôn đời”.

      Minh văn chuông chùa Na Lai (1840) cho hay: “Danh khí chuông đồng là pháp âm huyền giáo ở không gian. Tỉnh ngộ chúng sinh không gì bằng tiếng chuông, do thế, việc đúc chuông không thể không nên làm”.

      Minh văn chuông chùa Linh Thông (1850) cũng viết: “Thường nghe rằng: âm thanh của chuông ngân vút cao, thì vong hồn dù thuộc “tứ sinh, thất thú” cũng đều được siêu thăng; tiết tấu nhạc chuông ngân du dương, thì vong hồn bị “bát nạn, tam đồ” cũng từ đó giải thoát. Công đức của chuông như thế há còn gì phải bàn bạc nữa?”.

      Minh văn chuông chùa Phổ Quang (1854), cũng bàn luận về tiếng chuông: “Thường nghe nói trong tám âm thanh thì tiếng chuông được xếp vào loại tiếng nhạc khí lớn. Cái khuôn tròn lớn của nó tượng trưng cho bầu trời (tượng càn) đó chăng? Thanh trầm bổng của chuông chứa những linh phù của cõi Hoàng giác; âm vang động của chuông nhắc lời chỉ giáo của thượng phương. Chùa miếu phải có chuông không phải là điều bày vẽ”...

      “Tiếng chuông rung thấu lòng người Đạm Xuyên lên bờ giác ngộ; nó mở đường cho dân Mông Trường đến bến phúc lành”...

      Minh văn chuông chùa Lâm Phúc đúc năm 1877, có đoạn viết “Nghe tiếng chuông, phiền não vơi đi, trí tuệ mở mang, điều thiện nảy sinh, xa nơi bể khổ, thoát nơi hoả ngục. Nhà Phật lấy tiếng chuông để giác ngộ đám chúng sinh lầm lỗi... âm thanh là để đạt tới sự hoà hợp âm dương, quét sạch u mê trí tuệ, lợi ích lại có thể nói là nhỏ sao?”.

      Ngoài đời sống tư tưởng văn hoá, minh văn còn phản ánh tình hình Phật giáo.

      Nhà Nguyễn lên cầm quyền, coi Nho giáo là quốc giáo, còn Phật là tà đạo. Trong Điều lệ hương đảng của Gia Long có đoạn “... người thờ Phật cốt để cầu phúc báo, nhưng sách nhà Phật nói: có duyên thì Phật độ, không duyên thì Phật không độ, lại nói: thờ cha mẹ chẳng ra gì, dù hằng ngày ăn chay niệm Phật cũng không ra sao. Như thế thì người có duyên cần gì Phật độ, còn không duyên thì Phật độ làm sao được...” (sđd).

      Minh Mệnh, Thiệu Trị đều đi một con đường với Gia Long, hạn chế Phật giáo, nhưng về thực tế, lệnh hạn đó chỉ nằm trên giấy. Bản thân Minh Mệnh lập đàn chay, dựng chùa Khải Tường, bệnh vực Phật giáo. Minh Mệnh bảo quan hầu “Nhà Phật dùng thần học để dạy đời còn Đạo Khổng thì chỉ dạy luôn thường là món dùng hàng ngày, song chung quy cả Phật lẫn Khổng đều dạy người ta làm điều thiện mà thôi”. (sđd)

      Tự Đức trở lại với những lệnh cấm với Phật giáo như thời Gia Long. Sách Đại Nam thực lục chính biên có đoạn cho biết dưới thời Tự Đức, vào các năm 1853, 1854 ban hành một sắc lệnh để chấn chỉnh Phật, Lão như lệnh bỏ bớt sư tăng ở các chùa, ban hành quy chế về tăng lễ. Lại ra lệnh: “các chùa quán thờ Phật, nơi nào đổ nát mới cho phép sửa chữa, còn như làm mới, đúc chuông, tô tượng, cúng đàn chay, hội thuyết pháp, hết thảy đều cấm cả (Quốc Sử quán Nguyễn. Đại Nam thực lục chính biên. Từ tập I đến tập XXIII. Nxb Sử học, H. 1962). Luật vua thì như vậy, nhưng lệ dân thì khác và khác xa, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển trong các làng quê, việc đúc chuông mới, tô tượng mới, lập đàn chay... vẫn diễn ra khắp nơi thể hiện sự phục hưng của đạo Phật. Phật giáo lúc này không theo hướng tìm đến các triết lý cao xa mà đi vào giữa quần chúng bình dân, đã làm thành truyền thống văn học Phật giáo trong dân, thể hiện rất rõ trong các bài minh văn trên chuông đồng. Tư tưởng chính được đề cao toát ra trong đó là lòng thiện, việc thiện ca ngợi cái thiện, lý giải điều thiện, gắn bó giữa vương quyền và thần quyền. Có thể nói, đây là ý nguyện của mọi người dân mong cảnh thái bình thịnh vượng.

Lời minh chuông chùa Bồng Lai (1820) có đoạn:

“Ngôi vua dài vạn kỷ

Chuông này truyền ngàn đời

Núi sông tồn tại mãi

Tiếng chuông vang xa vời

Nhà nhà sống hạnh phúc

Người người được thảnh thơi

Tượng đài Chu còn dáng

Bóng trời Nghiên sáng ngời...”

Lời minh văn chuông chùa Linh Tiên (1822) cùng một ý tưởng:

“Ngôi vua bền vững, ngày Phật dài lâu!

Chín đỉnh sáng ngời, nơi nơi trở thành an lạc;

Muôn dân yên ổn, ngày ngày hiểu đạo thêm sâu.

Dân lành càng thọ càng an;

Thí chủ được hưng được thịnh.

Tăng ni thấm sâu đức phật;

Muôn dân vui hưởng phúc lành”

Lời minh chuông chùa Linh Thông (1850) cũng có đoạn viết:

“... Chuông vàng trông đẹp mắt

Phúc quả được kiên trinh

Dân thôn vui cuộc sống

Phật tử hưởng phúc lành.

Ngôi vua thêm vững chãi!

Ngày Phật toả quang minh”.

      Tóm lại, việc nghiên cứu những chuông đồng thời Nguyễn không những giúp chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm về mỹ thuật trang trí, kỹ thuật đúc đồng dưới thời Nguyễn, những bài minh văn trên đó còn giúp chúng ta nghiên cứu nhiều lĩnh vực của lịch sử dưới thời Nguyễn mà nhiều khi không thể tìm thấy trong nguồn sử liệu thành văn được. Số lượng chuông đồng thời Nguyễn đến nay còn lại rất nhiều, chúng ta cần khai thác nghiên cứu chúng nhiều hơn nữa góp phần vào việc bảo vệ và phát huy giá trị của cổ vật.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.202-209

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm