VI | EN
23. Tìm hiểu hương phả xã Bình Cách.
tb2006

TÌM HIỂU HƯƠNG PHẢ XÃ BÌNH CÁCH(1)

MAI XUÂN HẢI - Viện Nghiên cứu Hán Nôm

NGUYỄN QUANG TRUNG - Viện Sử học

Trong khi khảo sát lịch sử địa phương tại thôn Bình Hạ, xã Yên Thọ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, chúng tôi đã được các cụ địa phương cho biết ở đây có một tài liệu Hán Nôm là Hương phả xã Bình Cách do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), và đây cũng là tài liệu cơ bản để ngành văn hóa thông tin dựa vào đó ra quyết định xếp hạng cấp tỉnh di tích lịch sử đình Bình Hạ (thôn Bình Hạ, xã Yên Thọ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) (2). Nhận thấy vấn đề có sự lạ bởi vì từ lâu giới sử học, nghiên cứu Hán Nôm đã rất quen thuộc với cái tên Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, soạn giả của hàng nghìn bản thần phả, thần tích cho các đình đền chùa ở các địa phương từ Nghệ Tĩnh trở ra Bắc. Tuy nhiên việc ông soạn Hương phả thì ít thấy.

Để tiện theo dõi vấn đề trên, chúng tôi xin được phiên âm dịch nghĩa toàn bộ bản Hương phả nói trên.

Phiên âm:

Tích ngã Nam quốc Lý thời, tại Thanh Trì huyện Hoàng Mai xã Cổ Mai trang hữu nhất gia trang tính Nguyễn Viết Tâm. Công bản kế gia thanh, nhân đức trì gia vũ văn kiêm hữu, phú thê tại Từ Liêm huyện, Bồng Lai xã Đông Hiên cư sĩ thứ nữ Hoàng Thị Thanh. Nhân cư tại thê hương bác xã trung thôi vi hương sư, xã nội hiền lương tử đệ giai đắc nhân bần khốn giả, giai khuyên Hoàng thị thi vi tận lực. Nhất nhật ngộ trung khanh dạ, xã trung lão thiếu liên tự thử tiên đới đảnh hương hoa lễ bái thần tổ, hoan lạc, hốt bất tri tự tòng hà lai hữu nhất hoàng y tặc lai. Tiền giả hoàng y hội dĩ kiếp lược. Chư lân hương giai vị hữu cự. Công tri giả tất bất miễn lụy, tiện tụ đinh tráng khai tứ khanh tại thành hoàng miếu hậu, hựu dụng tiểu khô mộc khô diệp biến phú kỳ thượng, phân hương nhân vi tam chi, nhất chì trì trượng, trượng giai thụ thiết đinh như thích thảo, ẩn tại li trung thụ hạ, tồn nhị chi bị cung nỗ xuất ngoại li, nhược kiến tặc chí miến viên, bán li tức nhất tề phóng tiễn truy hậu sử địch nhân tốc thâm nhập hậu viên, tưởng ỷ thụ tị tẩu hướng, chư nhân tòng hắc xứ giai dĩ thích trượng đả nhập khanh trung hoàng y tặc thất kỳ thủ lãnh dữ ngũ thập dư nhân, tồn lục thập dư giai trọng thương công hô hương nội chư tạm cứu khả sinh phóng hồi giáo tự hậu bất nghi sương cuồng tầm tử. Thử tặc hoành hành dĩ lịch sổ niên phương nhân thụ hại bất thiểu kim đắc công thiết kế giải cứu tương linh mễ ngưu tửu lai lao. Công giai khuyến lý lão nhận thủ khao thưởng chư nhân. Kỳ sự văn phủ quán đắc sở tại quan Trần Duy Bình công hứa công đại tự "Hiền phụ nhân hào" dĩ tán, công hựu xuất hương nhân mưu tu "Linh Lang đại vương" miếu tạo phúc hưng công, phương dân đa thụ kỳ huệ, chí đại Định nguyên niên hựu lịch tam niên hoàng trùng hại hòa, thiên tai khinh trọng tương biến thiên hạ ngã nhi sấu quỷ mãn lộ bất tri dĩ hà diệu kế ngự giải. Công toại mưu dữ gia nhân cập lân cận, phạm thập nhất gia Nguyễn, Hoàng, Mai, Lê, Đỗ, Trần huề đới hành lý thiên cư quá nhị thập nhật vị tầm sở trú. Nhất nhật tàng đại giang lưu, chí Ý Yên huyện Hương Mạch xã, kiến kỳ địa thế quảng mạc nhân yên hi thiểu, sổ lý vị hữu nhất gia thác lạc điền giang, duy tồn tam tứ cổ mộ thảo khâu. Chư công toại thượng ngạn tầm dã diệp thảo căn tạm thực sung cơ tầm tiệm tương khuyến tương trợ khảm trúc tiến ốc, thai hoang cổ trúc, thông lộ phân canh cư sứ quá lục thất niên, nhân gia tiệm tiệm trù mật, trư công tiệm phân lập nhất xá hiệu vi Bình Cách xã, thời Đại Định Quý Dậu niên hựu lịch tam niên, trư công luận tác tam giang mao ốc mao thất tự cựu cư thành hoàng vị hiệu viết "Lý triều hoàng tử long tộc Linh Lang phù tộ diễn khánh đại vương thần vị", thời sở tại tân khai điền tuy đa nhiên khả chủng hòa giả cận ngũ bách dư mẫu nhi dĩ. Chí Cao Tông Bính Thân niên, thương nội thủy thiết tiền lục tộc công vị phối tự vu ngoại, diệc phân tả hữu, tả giả tiền lục tiên công viết "chư tổ khai sáng thần vị", hữu giả viết "Liệt tiên kế thành linh vị". Tự thử nhi hậu, lão thiếu kỳ đảo ngô sự bất ứng. Chí Minh tặc tại ngã quốc Đinh Dậu niên, ngã hương hữu thập công Trần Thường, Nguyễn Lâm, Hoàng Gia Thụy, Dương Trọng Hòa, Tống Đạt, Mai Xuân Sinh, Mai Quế Phương, Lê Như Sơn, Đỗ Hoài, Trịnh Hoán tụ hội đồng tầm nhập Lam Sơn khứ tòng Lê Lợi. Công thảo tặc hậu Trần Thường vi Lôi Dương tiên phong, tương Nguyễn Lâm vi Trấn ba tướng quân. Quý Mão niên, Thánh Tông Đế hữu sắc phong Trần Thường công vị Nhân Trung phúc thần, Nguyễn Lâm vi Hiếu Thành phúc thần tồn bát vị giai phong "Dực bảo trung hưng tôn thần" ban thanh tiền, nhị vạn quan, tu từ phụng tự dĩ biểu hữu công vu quốc. Kim hậu giai tuân, bất cải kỳ thường. Chí Kỷ Mùi niên, Trịnh tổ chinh Mạc nghịch quá thử tu hương đăng chí đảo vu từ trung, cập ban tứ tụ "Thiện giả tất thành" dữ trí điền nhị mẫu tại từ biên, chuẩn miễn chư công hậu dĩ chuyên phụng sự đắc tận kỳ thành.

Nhất đại vương sinh nhật chính nguyệt sơ tứ nhật, lễ dụng tam sinh, hoa quả.

Đại vương hóa nhật thập nhất nguyệt nhị thập nhật, lệ như tiền chính nguyệt sơ thập nhật lập xá hiệu, nhật thập nguyệt sơ cửu nhật lễ dụng thượng tiến trai bàn, hạ thiết tam sinh, lễ cập trà tửu.

Nhất khánh hạ nhật kỷ kỳ thập công lai phụ Lê tổ nhật thập nguyệt, thập nhất nhật lễ dụng tam sinh trà tửu dữ ca xướng tự bát nhật chí thập nhị nhật.

Hồng Phúc nguyên niên thập nhất nguyệt sơ ngũ nhật.

Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu tam niên ngũ nguyệt sơ ngũ nhật.

Dịch nghĩa:

Khi xưa vào thời Lý ở nước Nam ta, tại trang Cổ Mai xã Hoàng Mai huyện Thanh Trì có một gia đình họ Nguyễn tên Tâm. Ngài kế tục tiếng thơm nhân đức mà ông cha để lại, giữ gìn nếp nhà. Ngài là người văn võ song toàn, lấy vợ là bà Hoàng Thị Thanh, con gái thứ của cư sĩ Đông Hiên làng Bồng Lai huyện Từ Liêm. Nhân sống tại quê vợ, được người trong làng tiến cử làm hương sư. Những người hiền tài là con em trong làng đều được cha mẹ đưa đến nhập học. Ngài là đại tinh thông nghề y. Phàm những việc gì có thể giúp đỡ cho người nghèo thì ngài đều khuyên vợ làm hết sức mình. Một hôm vào đúng ngày tết Trung nguyên mọi người tụ tập lại, vai đội hương hoa lễ bái thần tổ, trong lúc đang vui vẻ bỗng nhiên không biết từ đâu kéo đến một lúc giặc, bọn chúng kéo đến cướp bóc đập phá, mọi người trong làng không ai giám chống cự lại. Ngài biết điều đó ắt không tránh khỏi phiền muộn bèn tụ tập thanh niên trong làng cho đào 4 cái hố sau miếu Thành hoàng của làng, tiếp đó dùng các cành lá khô che phủ lên trên, rồi chia mọi người thành 3 nhóm, một nhóm cầm gậy đều có đóng đinh sắc nhọn như đâm cỏ, ẩn lấp ở dưới gốc cây trong hàng rào. Còn hai nhóm chuẩn bị sẵn cung nỏ ngoài hàng rào nếu thấy giặc đến vườn miếu thì một nửa số người đứng ở hàng rào lập tức đồng loạt phóng cung tên truy đuổi quân giặc về phía sau, khiến cho quân địch nhanh chóng tiến sau vào phía sau vườn, tưởng sẽ dựa vào cây để tránh tên thì tức khắc rơi xuống hố sâu. Khi rơi xuống hố thì ắc bị sắt nhọn ở dưới đâm, không thể tìm đường lên. Chưa biết chạy hướng nào trong khi mọi người cứ theo chỗ tối lấy gậy đâm vào trong hố. Lũ giặc mất thủ lĩnh và hơn 50 tên, còn lại trên 60 tên đều bị trọng thương. Ngài bảo người trong làng tạm thời cứu những kẻ còn sống cho tha về để dăn dạy bọn chúng không nên ngông cuồng mà tìm đến cái chết. Khi đó lũ giặc hoành hành đã vài năm nên người dân chịu thiệt hại không ít. Nay đã được Ngài bày kế giải cứu nên đem gạo ngon, trâu, rượu đến để đền đáp công lao Ngài đều khuyên người già trong làng nhận lấy và khao thưởng mọi người. Sự việc đó đến tai vị quan đang nắm quyền là Trần Duy Bình, quan liền ban thưởng cho ngài mấy chữ "Hiền phụ nhân hào" (kẻ hào kiệt, người hiền tài) để ca ngợi. Ngài lại mưu tính cho binh lính và người làng tu sửa "Linh Lang Đại Vương miếu" để dấy hưng điều khúc. Công việc hoàn thành, người dân nhiều lần nhận được ơn huệ.

Đến năm thứ 3 niên hiệu Đại Định nguyên niên, sâu bọ hại lúa, thiên tai không nhỏ, khắp trong thiên hạ bệnh tật đói khổ, xác chết đầy đường không biết lấy cách gì để thoát khỏi tình cảnh trên. Ngài bèn bàn tính cùng với người nhà sang các nhà láng giềng khoảng 10 nhà họ Nguyễn, Hoàng, Mai, Lê, Đỗ, Trần dẫn dắt nhau mang theo hành lý chuyển chỗ ở, hai mươi ngày mà chưa tìm được nơi trú ngụ. Một hôm xuôi theo dòng sông đến xã Hương Mạch, huyện Ý Yên thấy thế đất ở đây rộng rãi, vắng vẻ không bóng người, mấy dặm không có lấy một nhà, lác đác vài mảnh ruộng, duy chỉ có ba, bốn ngôi mộ cổ và gò đất cỏ mọc hoang. Các ngài bèn lên bờ tìm rau cỏ ăn tạm cho đỡ đói rồi cùng nhau dựng nhà, khai hoang, mở đường, chia nơi ở. Trải qua sáu, bảy năm dân cư dần dần đông đúc, các ngài bèn xây dựng một làng gọi là làng Bình Cách. Năm Quý Dậu niên hiệu Đại Định, trải qua ba năm các ngài bàn với nhau làm ba gian nhà cỏ để thờ Thành hoàng như cũ gọi là: "Lý triệu hoàng tử long tộc Linh Lang phù tộ diễn khánh đại vương thần vị" (thần vị đại vương giúp nước kéo dài nền thái bình dòng tộc con rồng triều Lý).

Lúc đó, ở chỗ ấy ruộng mới mở nhiều nhưng ruộng có thể trồng lúa chỉ có khoảng hơn 500 mẫu mà thôi. Đến năm Bính Thân thời Cao Tông trong làng bắt đầu thiết lập bài vị của sáu họ các ngài để cùng thờ cúng, ở ngoài cũng phân ra bên trái, bên phải. Những người bên trái phía trước là sáu vị gọi là "Chư tổ khai sáng thần vị" (thần vị của các vị tổ khai sáng). Những người phía phải gọi là "Liệt tiên kế thành linh vị" (linh vị của các ngài đã tiếp nối thành tựu của chư tổ). Từ đó về sau già trẻ trong làng thường cúng tế không có việc gì mà không linh ứng).

Đến năm Đinh Dậu khi giặc Minh cướp nước ta, làng ta có mười ông: Trần Thường, Nguyễn Lâm, Hoàng Gia Huy, Dương Trọng Hòa, Tống Đạt, Mai Xuân Sinh, Mai Quế Phương, Lê Như Sơn, Đỗ Hoài, Trịnh Hoán tụ hội lại cùng tìm đến vùng đất Lam Sơn theo Lê Lợi. Sau khi đánh tan quân giặc, Trần Thường làm Lôi Dương tiên phong, Nguyễn Lâm làm Trấn ba tướng quân. Năm Quý Mão vua Thánh Tông có sắc phong cho Trần Thường là "Nhân Trung phúc thần", Nguyễn Lâm là "Hiếu Thành phúc thần". Tám vị đều được phong là "Dực bảo trung hưng tôn thần", ban cho hai vạn quan tiền kẽm, tu sửa đền thờ cho phụng thờ để biểu dương công lao của các ngài ở trong nước, từ đó về sau đều noi theo, không thay đổi lệ thường đó.

Đến năm Kỷ Mùi, chúa Trịnh đem quân đánh nhà Mạc qua đây sửa sang cúng bái ở trong đền và ban cho bốn chữ "Thiện giả tất thành" (điều thiện ắt thành) và cho đặt hai mẫu ruộng ở bên đền để lấy đó chuyên cần phụng sự thể hiện tận tấm lòng thành.

1. Đại vương sinh nhật ngày 4 tháng giêng, lễ dùng tam sinh, hoa quả để dâng lên Đại vương.

2. Ngày hóa thần là ngày 20 tháng 11, lễ như trên….

….. ngày 9 tháng 10 lễ dùng trên dâng lễ chay, dưới lễ tam sinh và trà rượu ăn mừng để ghi nhớ ngày 10 ngài đến phụ giúp vua Lê.

Ngày 10 tháng 10 ngày khánh hạ kỷ niệm 10 ngài đến phụ giúp vua Lê Lợi.

Ngày 11 tháng 10 lễ tam sinh, trà rượu và ca hát từ ngày 8 đến ngày 12.

Ngày 5 tháng 11 năm thứ nhất niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) thần Nguyễn Bính - Đông các Đại học sĩ phụng soạn.

Ngày 5 tháng 5 năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) Quản giám bách thần, Tri điện Hùng Lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền theo bản chính của triều trước phụng sao.

Ngày 5 tháng 3 năm Đồng Khánh 2 (1887) Hương sư trong xã Nguyễn Duy Trinh lại sao tiếp.

Kết luận

Qua nghiên cứu nội dung lịch sử bản hương phả trên, chúng ta thấy rõ ràng đây là một tài liệu Hán Nôm có giá trị đặc biệt vì ngoài việc thờ vọng vị thành hoàng thời Lý là Hoàng tử Linh Lang, ở đây thờ chính là các vị nhân thần có công với dân làng trong việc khai hoang, lập làng, đánh giặc ngoại xâm, tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn… Qua sự thể hiện việc thờ cúng "Chư tổ khai sáng thần vị" (thần vị của các vị tổ khai sáng) và "Liệt tiên kế thành linh vị" (Thần vị của các vị tổ tiếp nối).

Đây là bản gốc thần phả các vị thành hoàng làng được thờ ở đình Bình Hạ do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), và Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737).

Người sao cuối cùng là vị Hương sư trong xã Nguyễn Duy Trinh, ngày 5 tháng 3 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887).

Như vậy do yếu tố chân thực của lịch sử đã được thể hiện qua nội dung thần phả và việc thờ phụng các vị nhân thần mà người sao lại cuối cùng là vị Hương sư trong xã Nguyễn Duy Trinh ở thời điểm năm 1787 khi mà cơ cấu kinh tế xã hội ở Việt Nam đang chuyển dịch từ xã hội phong kiến sang chế độ xã hội thuộc địa nửa phong kiến, các cụ nho học trong làng với tinh thần yêu nước đã chuyển dịch sự nhận thức từ thần phả sang hương phả và vì vậy việc xếp hạng di tích cũng dựa vào đó. Như vậy rõ ràng hương phả xã Bình Cách phải được hiểu đúng trên cơ sở khoa học lịch sử đó là thần phả xã Bình Cách.

Chú thích:

(1) Xã Bình Cách nay là thôn Bình Hạ, xã Yên Thọ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

(2) Xem thêm tài liệu "Lý lịch di tích đình Bình Hạ" - Ban Quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định ngày 20/12/2002. Tài liệu lưu trữ tại Ban Nghiên cứu lịch sử địa phương - Viện Sử học./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.240-247)

Mai Xuân Hải - Nguyễn Quang Trung
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm