VI | EN
24.Đôi nét về VĂN THIỆN ĐÀN (TBHNH 2002)
TBHNH2002

ĐÔI NÉT VỀ VĂN THIỆN ĐÀN

(kinh giáng bút)

MAI HỒNG

Tiến sĩ. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

         Bên cạnh những bộ sách đồ sộ về sử học, văn học, triết học, địa lý thiên văn học, dân tộc học, xã hội học... chứa đựng trong kho sách Hán Nôm – một di sản văn hoá của tổ tiên ta từ ngàn xưa để lại, chúng ta còn được biết có một khối lượng khá lớn về Văn thiện đàn (có tới hàng ngàn bản). Đó là các tựa bài tán, bài tụng, bài thơ, bài ca, bài ngâm, bài phú... Giáng bút phần lớn bằng Quốc âm của các hội Lạc thiện thiện đàn.

         Thật không ngờ, những bài kinh kệ tưởng chừng như chỉ có tính chất mê tín nhảm nhí ấy thế mà khi ta đã tìm hiểu làm đọc, thì đó lại là những tác phẩm văn học hay cả về hai phương diện hình thức lẫn nội dung.

         Như mọi người chúng ta đã biết, vào giữa hai thập kỷ: cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi mà các phong trào thuộc nhiều xu hướng chống Pháp đã bị đàn áp lãnh tụ của các phong trào đó đã bị bắt bớ cầm tù, hoặc phải trốn tránh, lưu vong ở nước ngoài, nền thống trị của thực dân Pháp đã đi vào thế ổn định để chuyển sang giai đoạn khai thác và bóc lột trên quy mô lớn.

         Đứng trước bối cảnh lịch sử đất nước đầy bế tắc về đường lối, khủng hoảng về lãnh tụ như vậy, các Nho sĩ yêu nước đã phải sử dụng phương pháp đấu tranh mới, đó là việc nắm lấy các diễn đàn tôn giáo, mà đó lại là những tôn giáo sẵn có truyền thống yếu nước như Phật giáo và Đạo giáo để lập ra các hội Thiện đàn.

         Thiện đàn đã có nhiều tên khác nhau như: Lạc đạo đàn, Chính tâm đàn, Hội thiện đồng, Khuyến thiện đàn, Bát tinh đàn, Thất diệu đàn, Vi thiện đàn, Xướng thiện đàn, Hội thiện đàn, Phổ thiện đường, Lạc thiện đường, Công thiện đường, Xuân Hoà đường, Lê Hoa đường... Bát tinh đàn Thất diệu đàn nghe nói là của Kỳ Đồng nổi tiếng một thời ở vùng Yên Thế, Hà Bắc. Thất diệu đàn được dựng lập ngay ở trung tâm bản doanh của Kỳ Đồng.

         Tác giả của Văn thiện đàn là Thánh, Thần, Tiên, Phật. Ví như Thái thượng Lão quân, Đức thánh Trần, Phạm Điện suý (Phạm Ngũ Lão), Vân Hương thánh mẫu, Hoàng Mai công chúa...

         Cơ sở ấn loát của Văn thiện đàn là các chùa chiền, từ vũ, đền miếu. Còn tên các bài Kinh ta thấy có: Khôn nghi chân kinh (truyện phụ nữ đảm việc nhà, giúp chồng lo việc nước). Minh đức chân kinh (tấc đất tấc vàng); Khuyến từ dân ái quốc ca; Khuyến phu ca (vợ khuyên chồng nuôi chí tang bồng); Hồi thuần quốc âm chân kinh (bảo vệ thuần phong mỹ tục); Bách tường hoa chân kinh (trăm điều lành); Bảo tạng trích cú quốc âm chân kinh, Bảo xích tử chân kinh (bảo vệ trẻ em); Càn khôn định vị chân kinh (quy luật về trời đất ở hiền gặp lành); Khuyến trừng minh kính chân kinh (luật thưởng phạt của âm dương); Trần triều hiển thánh chân kinh (Trần Hưng Đạo); Trần triều Phạm Điện suý (Phạm Ngũ Lão chân kinh); Vân Hương Liễu Hạnh công chúa Tâm căn chân kinh; Nam bang quái vật phú; Tỉnh mê phú (phú đánh thức cơn mê);...

         Như trên, cái vẻ của Văn thiện đàn là mê tín tôn giáo nhưng nó đã có tác dụng giáo dục quần chúng lòng yêu nước thương nòi, giữ gìn thuần phong mỹ tục, phân rõ chính tà, lòng căm thù giặc ngoại xâm. Nội dung của Văn thiện đàn nói chung rất sâu sắc, uẩn súc mà lời văn lại nhẹ nhàng, bóng gió. Thảng hoặc cũng có khi dùng lời lẽ gay gắt quyết liệt như Tỉnh mê phú cao giọng chửi lũ bán nước cầu vinh rước voi dày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà. Thủ pháp sử dụng từ ngữ điêu luyện, bằng lời ca Nôm năm chữ, song thất lục bát, thể phú, có khi cả một bài phú dài đến mấy chục câu chỉ một vần. Độc đáo hơn nữa là tác giả khéo sắp xếp toàn những câu thành ngữ, tục ngữ dân gian quen thuộc làm thành một bài phú quốc âm dài trọn tứ đẹp lời.

         Đôi điều nhận xét về văn thiện đàn (kinh giáng bút)

         - Về thời gian xuất hiện: chúng tôi lấy 55 bản Kinh ra xem thì thấy văn bản xuất hiện sớm nhất là Thái thượng cảm ứng thiên giải âm do Khuyến Thiện đàn, Nam Định ấn hành năm Kiến Phúc 1 (1884) [AB.533]; văn bản muộn nhất là văn bản Chính kinh diễn âm do Bảo Thiện đàn xã Quất Hương, Phú Xuyên ấn hành vào năm Khải Định Ất Sửu (1925). Trong vòng 45 năm ấy: thời Kiến Phúc có một văn bản, Tự Đức một văn bản, Thành Thái có 15 văn bản, Duy Tân có 36 văn bản, cuối là Khải Định có 4 văn bản, ta thấy việc in ấn Kinh giáng bút của các đàn thiện nhiều và đông đặc nhất là thời Duy Tân (1907-1916), rồi đến Thành Thái (1889-1907).

        - Về địa điểm (địa phương), gồm 11 địa phương có cơ sở đàn thiện in ấn Kinh giáng bút: Phúc Yên, Hà Đông, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên. Đã có 37 ấn phẩm thì thấy rõ đền Ngọc Sơn, Hà Nội là trung tâm (gồm 9 ấn phẩm); thứ hai là Nam Định (6 ấn phẩm); Bắc Giang (5 ấn phẩm); Thái Bình (4 ấn phẩm); Hải Dương (3 ấn phẩm); Phúc Yên, Hà Đông, Bắc Ninh, Sơn Tây (đều có 2 ấn phẩm) và hai địa phương ít nhất là Hưng Yên và Thái Nguyên mỗi nơi chỉ có một ấn phẩm. Qua đó, ta cũng có thể nhận định: đây là một phong trào đấu tranh yêu nước chống ngoại xâm dưới hình thái rất đặc biệt bằng màu sắc tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân ta trong lịch sử mà nó để lại một kho di sản thành văn cũng khá đặc sắc như thế này, đáng để chúng ta quan tâm nghiên cứu và khai thác.

         Sau đây chúng tôi xin phiên âm toàn bài phú Tỉnh mê - ấn phẩm của đền Ngọc Sơn, Hà Nội, in năm 1905, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.561.

TỈNH MÊ PHÚ

Lấy chữ nay làm vần

Trời cao đất dày,

Con tạo vần xoay,

Ơn trời nhờ thánh,

Sinh được hội này.

Ai là chẳng nức lòng nức dạ

Ai chẳng mong mở mặt mở mày.

Hậu giả hậu lai,

hiền lại gặp lành,

Mà biết tre già măng mọc;

Ác giả ác báo,

Ăn mặn thì khát nước,

Khác nào cây yếu gió lay

Trách những người thịt bắp vai u,

Đường lui tới lẽ thiệt hơn,

chẳng trông sau ngó trước?

Nào những kẻ mặt hoa da phấn,

Chí tang bồng duyên hồ thỉ,

Đi cho biết đó biết đây.

Đương cơn bình địa ba đào,

Có chí làm nên quan,

Có gan làm nên giàu,

Sao chẳng khoe khôn cậy khéo;

Gặp lúc cơn đen vận túng,

Có mồm thì cắp có nắp thì đậy,

Cũng nên giả dại làm ngây.

Của bụt mất một đền mười,

Xin chớ ăn chay nói dối,

Nam mô một bồ lấy bốn,

Thà bằng ăn mặn nói ngay.

Ngắn cánh bay chẳng đến trời

Tuồng trí thiển lũ tài ngu,

Vòng danh lợi bon chen sao kể xiết,

Ra tay gạo xay ra cám,

Kẻ văn hay người vũ mạnh

Bối kinh luân vùng vẫy cũng ghê thay.

Bò của chú chú phải lo,

Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu.

Tình ân ái chẳng nhầm chẳng lẫn,

Đèn nhà ai ai ấy rạng,

Của anh anh mang, của nàng nàng xách,

Nợ phong trần nay giả nay vay

Chị em ơi lấy chồng cho đáng tấm chồng

Cho bõ lúc nghiên văn tráp,

Lúc án thư hương,

Trong năm ba chữ Cương thường,

Sao cho xứng đáng.

Quân tệ nhỉ lấy vợ chỉ biết mặt vợ,

Chẳng nhớ ai bế anh nhi,

Ai bồng xích tử,

Ba mươi sáu tháng nuôi nấng bao quản đắng cay.

Có cha có mẹ như đàn có dây,

Thế mới biết,

Đạo mẹ đức cha,

Bể rộng trời cao khôn xiết,

Thuận vợ thuận chồng bể đông cũng cạn.

Mới biết,

Đạo chồng nghĩa vợ,

Nguồn ân bể ái nào tầy,

Chị ngã đã có em nâng,

Máu chảy ruồi bâu

Lá rách lá lành đùm bọc

Cha sinh không bằng mẹ dưỡng.

Áo dày cơm nặng,

Công nuôi công nấng đêm ngày.

Một cội chẳng thành rừng,

Đông có mây tây có sao,

Đông đúc anh em là quý,

Mười voi không bát xáo,

Kẻ nói thánh người nói tướng,

Chớ nghe miệng thế thêm rầy,

Lúc vui chơi chén chú chén anh,

Rước voi về dầy mồ,

Ai chết mặc ai,

Mặc sức nay bàn mai cuộc,

Khi cấp nạn le le chân vịt,

Huých chó vào bụi rậm,

Chú chết mặc chú,

Tìm đường cao chạy xa bay.

Người Hà Nội khách Sơn Tây,

Những tiếng thị phi cùng lắm kẻ khôn người dại.

Gái giang hồ giai tứ chiếng,

Mặc ai ngang dọc,

Tha hồ kẻ bắc người tây.

Mưa bao giờ mát bấy giờ,

Chẳng nghĩ lúc rét cắt ruột,

Lúc đói nhăn răng,

May xống chẳng phòng khi cả dạ;

Gió chiều nào che chiều ấy,

Để cho nó qua thời đói,

Nó khỏi thời loạn,

Thế nào cũng được bữa no say.

Trẻ chẳng tha già chẳng thương,

chẳng phòng xa,

Vuốt mặt không nể mũi,

Cha cũng kính mẹ cũng vái,

Đi đâu mà thiệt,

Sảy vai xuống cánh tay.

Báng đầu thằng trọc nể đầu ông sư.

Cứng cổ cứng đầu ai trách những phường ngu dại;

Vắng mặt thằng ngô lúc có mặt ông sứ

Sấp mày sấp mặt vẫn nghe nói xưa nay.

Giặc bên ngô cô bên chồng,

Liệu gió phất cờ đường cư xử sao cho trọn vẹn;

Cháu bà nội tội bà ngoại,

Vì cây dây cuốn, lẽ phải chăng đâu dám đổi thay.

Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời,

Đói cho sạch, rách cho thơm,

Có chữ công bằng cho phải đạo,

Sống người một nết, chết người một tật,

Mẹ sinh con trời sinh tính,

Há rằng số phận có ưa may,

Ngán cho kẻ ở người đi,

Ai là người dạy bảo,

Ai đàm đạo mở mang.

Có lẽ cha chung ai khóc,

Nhắn nhủ kẻ xa người gần,

Phải nên để tấc lòng,

Phải nên chôn khúc dạ,

Chớ hề mẹ hát khen hay.

         Trần Lãm, Phạm Luật phụng khắc Ngọc Sơn từ tàng bản, năm Thành Thái Ất Tị (1905).

         Kinh thành cấm môn thị nữ Hoàng Mai công chúa phụng truyền, Vân Hương đệ tam Thánh mẫu thuật.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.210-218

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm