VI | EN
24. Nhà Mạc và những văn bia mới phát hiện
tb2006

NHÀ MẠC VÀ NHỮNG VĂN BIA

MỚI PHÁT HIỆN

PHẠM ĐỨC HÂN

Viện Bảo tồn di tíchBộ Văn Hóa - Thông Tin

Vừa qua trong đợt khảo sát các di tích thuộc khu di tích Dương Kinh (Hải Phòng) và vùng phụ cận, chúng tôi đã tiến hành in dập văn bia trong đó phát hiện thêm được 7 bia đá có niên đại Mạc chưa được công bố.

Đáng chú ý có tấm bia Bảo Quang tự chung bi ký tại chùa thôn Đồng Quang xã Dũng Tiến huyện Vĩnh Bảo với đặc điểm: bia bằng đá xanh, cao 1,20m, rộng 0,70m, rộng 0,18m, được đặt trên lưng rùa, khắc chữ bốn mặt. Ở trán bia mặt trước chạm nổi đề tài Lưỡng long triều nguyệt, mặt nguyệt tại trung tâm trán bia có hình tròn điểm những đường tròn đồng tâm, mỗi bên trái phải có bốn tia lửa chạy ngang tạo thành hào quang, bên cạnh điểm những đám mây cuộn. Đôi rồng chầu được chạm sắc nét, đầu to, bờm tóc dựng ngược, có sừng như sừng nai, tai thú, mắt tròn lồi, mũi khoắm, miệng há rộng, răng nanh sắc nhọn, tư thế như vồ lấy hạt châu trước mặt. Thần rồng uốn khúc thành hình chữ U, có vây ở sống lưng và phần đuôi, dưới bụng có bốn chân, chân trước đang vuốt cuộn râu dài dưới cằm, hai chân sau có bốn móng sắc nhọn quặp lại như chân gà. Dưới trán bia có dòng đại tự Bảo Quang tự chung bi ký. Trán bia mặt sau chỉ chạm mặt nguyệt tròn ở giữa, hai bên có hai đám mây cuộn thành hình bông hoa. Dưới trán bia mặt sau có dòng đại tự Hoàng đế vạn vạn tuế. Diềm bia cả hai mặt được chạm văn dây tay mướp, diềm dưới chạm cánh sen điểm thủy ba cách điệu. Lòng bia và hai bên hông được khắc kín chữ, nội dung tóm lược như sau: Chùa Bảo Quang là danh lam nổi tiếng, đẹp nhất xứ Hồng Kỳ. Pháp âm trong trẻo từ trên gác sớm chiều tuyên giáo chính là chuông Bảo Quang. Trải qua vận hạn, may nhờ đại lực chuông được đúc lại, pháp âm truyền giáo lại được gióng lên sớm sớm, chiều chiều. Nam quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Kỳ Quận công được sắc tứ là An Khê sĩ thừa hưởng phúc lành của Thái hoàng, Thái hậu, đứng ra cưu công xây 1 tòa Thượng điện, 3 gian Tiền đường, 3 gian Thiêu hương, 7 gian Hậu đường vào tháng 7, năm Sùng Khang thứ 7 (1572). Cổng chùa đặt tại phía Đông, ngoài lại dựng cầu. Trên nền đất bằng lâu đài nguy nga sừng sững mọc lên. Trải qua khoảng 10 năm mọi việc theo tuần tự mà thành, mõ khua động trời, chuông vang tám cõi, khung cảnh trang nghiêm nào khác gì thế giới Đại Hùng. Khi công quả đã viên thành có ý mời ta viết bài minh để truyền lại muôn đời. Ta nghĩ đến nghĩa lý sâu xa của hai chữ Bảo Quang: Giữa khoảng đất trời con người là quý, muôn đức trong tâm, có gì hơn đức thiện, vốn nó tự cao minh, vốn nó tự khoáng đạt ngập tràn trong lục hợp, nếu chế ngự được nó ắt sẽ phổ khuyến được rộng khắp trong bốn biển. Tốt đẹp thay !

... Phàm đã là người kết nơi Đàn việt, dự bút chốn Đàn na tạm mượn hương thơm của bông Huệ báu, hấp thụ chút ánh sáng của mặt trời trí tuệ cũng là cái phúc của muôn đời rồi. Công đức lớn lao do người xác lập sẽ còn mãi lưu cùng trời đất, há chẳng ghi ghép truyền lại sao ?

Ngày mồng 1, tháng 4, năm Mậu Dần, niên hiệu Diên Thành sơ niên tạo lập bia (1578).

Lão đần Đỗ Uông, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn, được phong Gia Hành đại phu, giữ chức Công bộ Tả Thị lang, phụng kiêm Đông các Đại học sĩ, Khuông Tiễn doãn, Hồng Phúc tùng viện soạn.

Hoàng đế vạn vạn tuế.

Tín chủ tín thí. Phụng: Thái hoàng Thái hậu, Liêm Thái Vương, Diễn vương. Thái Bảo phu nhân Trịnh Từ Ân, tiền Dương quốc phu nhân Phạm Thị Nhượng, phu nhân Phạm Từ lập thiên...

Bài Văn phổ khuyến việc đúc chuông

Từng nghe: ... Đạo lớn chẳng tầm thường mượn chính thanh khải phát những chốn còn mông muội, lý lại là cái có thể cảm theo nhưng tùy các tuớng. Chùa Bảo Quang là Danh lam xếp hàng thứ 13 trong quận, là di tích cổ đã trải mấy trăm năm... Nay... Hoàng thái hậu thùy từ. Ngôi báu vững bền, dốc lòng tạo phúc, xây dựng tòa lan lộng lẫy nguy nga, trong nắng trong sương, lâu đài ẩn ánh. Muốn truyền rộng đạo pháp thì lòng muốn gióng chuông chốn Đàn na... Muôn người đồng lòng... nhưng quả phúc viên thành thì rất cần công đức của nhiều người, cẩn khuyến những người có đủ nhân duyên.

Qua nội dung văn bia này cung cấp cho chúng ta biết về lịch sử ngôi chùa Bảo Quang vốn là một danh lam nổi tiếng, đẹp nhất xứ Hồng Kỳ. Danh làm này đã có trước thời Mạc, trải qua vận hạn, đến đây chuông được đúc lại. Nam quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Kỳ Quận công được sắc tứ là An Khê sĩ thừa hưởng phúc lành của Thái hòng Thái hậu, đứng ra cưu công xây 1 tòa Thượng điện, 3 gian Tiền đường, 3 gian Thiêu hương, 7 gian Hậu đường vào tháng 7 năm Sùng Khang thứ 7 (1572), mà còn cung cấp cho chúng ta tên, chức vị của một loạt hoàng thân quốc thích cũng như tên các chức quan của nhà Mạc. Thiết nghĩ, đây là những tư liệu quý bổ sung thêm những điều còn khuyết thiếu trong việc nghiên cứu một cách toàn diện về nhà Mạc và vương triều Mạc.

Bia 02: Vân Thủy Am bi ký tại chùa Minh Phúc (Minh Thị - Toàn Thắng - Tiên Lãng). Niên đại: Sùng Khang thất niên, cửu nguyệt sơ lục nhật (ngày mồng 6, tháng 9, niên hiệu Sùng Khang thứ 7 (1584). Nội dung ghi việc: Hoàng Thái hậu người dòng họ Vũ công đức xây dựng lại chùa Minh Phúc và cầu, quán xã Cẩm Khê. Tín thí mua thửa ruộng 5 mẫu tại xứ Mả Ả, xã Đốc Hành, huyện Tân Minh. Vốn trước đây là ruộng Thế nghiệp của Phúc Tuy Thái Trưởng công chúa. Các ông Bùi Thế Mỹ, Bùi Thế Tích, Bùi Thế Triết đã bán hẳn với số tiền theo thời giá là 120 lạng. Số ruộng này được bà công đức cho tam bảo lo việc phụng sự Phật pháp. Ranh giới của thửa ruộng như sau: Phía đông giáp ruộng ban cấp của phủ Phúc Nghi. Phía tây giáp ruộng quan xã Đốc Hành. Phía nam giáp với đường. Phía bắc giáp ruộng Thế nghiệp của phủ Phúc Tuy...

Bia 03: Bia chùa Trà Phương(1) tại chùa Bà Đanh (Trà Phương - Thụy Hương - Kiến Thụy). Nội dung ghi: Ngày mồng 8, tháng 10 nhuận, năm Bính Dần, bản Điện đem số ruộng được phân cấp và mua thêm 1 mẫu, chín sào cúng vào chùa Bà Đanh làm ruộng của tam bảo.

Một thửa 1 mẫu, 9 sào tại xứ Tổ Cối... Phía đông giáp Hương La, phía tây giáp... , phía nam giáp bên, phía bắc giáp đường.

Ngày mồng 5, tháng 10, năm Mậu Thân... mua 1 sào đất xứ Trung Lang, phía đông giáp..., phía tây giáp..., phía nam giáp..., phía bắc giáp... cúng vào tam bảo.

Căn cứ vào nghệ thuật trang trí và nội dung văn bia chúng tôi cho rằng năm Bính Dần được ghi trên bia là năm 1566 tức niên hiệu Sùng Khang thứ 1 đời vua Mạc Mậu Hợp.

Bia số 04: Bảo Phúc tự bi tại chùa Bảo Phúc (Câu Tử Ngoại - Hợp Thành - Thủy Nguyên). Niên đại Quảng Hòa tứ niên, chính nguyệt, thập ngũ nhật. Nội dung viết: Tên chùa là Bảo Phúc, vốn dĩ là chúc tụng thánh mà cầu phúc cho dân. Chùa vốn rất cổ, làm mới lại nếp cũ cũng là việc làm giàu vốn cổ, nếu chẳng có cũ thì làm sao có mới. Nay các bậc quân tử họ... Bùi, Trịnh, Nguyễn, Đỗ, Mạc đã gom công tu sửa lại chùa. Chùa nay khang trang cũng là lời chúc tụng, thỉnh cầu nên đức thánh vì cái phúc của dân. Từ đây về sau ắt lại có người kế tiếp và nền phúc của dân sẽ tuôn mạch vô cùng. Nay kính lập bia này ghi lại công đức ngàn năm. Sách có câu rằng: Đạo tuy nhỏ cũng có cái đáng xem, vì lẽ đó ta miễn cưỡng làm bài tự, lại có lời minh...

Ngày 15, tháng Giêng, năm Quảng Hòa thứ 4 (1544). Niêm sơn Nguyễn Kính An, Nho sinh cục Tú Lâm làm bài tựa.

Bia số 05: Quán Nệ độ bi tại chùa thôn Câu Tử Ngoại (Hợp Thành - Thủy Nguyên). Niên đại Diên Thành ngũ niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật. (Ngày 15, tháng 12, năm Diên Thành thứ 5 (1592). Nội dung ghi: Phủ Mậu Lâm, Tá Tức, Phúc Thái trưởng Công chúa cùng các bậc hiền sĩ Nguyễn Đình Lương, tự Đạo Minh, vợ là Hoàng Thị Ngọc ở xã..., huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn dốc lòng tác thiện. Ngày 13, tháng 4, năm Sùng Khang thứ 6 (1583) đã bỏ tiền tu tạo am, quán, chùa, bến đò. Ngày 22, tháng 7, năm Nhâm Ngọ lại bỏ tiền xây dựng bến đò cúng cho tam bảo.

Hưng công: Nguyễn Đình Lương, tự là Đạo Minh, vợ là Hoàng Thị Ngọc... Nguyễn Thị Biên... Nguyễn Đình Tích, Lê Thị Phượng, Nguyễn Thị Cập, Lê Luận... Bùi Kính Văn... Nguyễn Đăng Long, Hoàng Ngọc Giản... Bùi Trinh, Bùi Công Khanh...

Bia số 06: Tân tạo Khánh Long kiều bi ký tại chùa thôn Trung (Phục Lê - Thủy Nguyên). Niên đại “Tuế thứ Kỷ Tỵ, Sùng Khang nhị niên, thập nhất nguyệt, nhị thập lục nhật tạo. Nội dung như sau: Bài ký ghi việc hai xã... (mờ), huyện Vĩnh Đường, phủ Kinh Môn tân tạo cầu Khánh Long.

Dương Hùng tráng lệ, đất lại tốt tươi, lọt trong thế ấy nên cất dựng cầu. Năm Sùng Khang thứ hai (1579), chính trị hòa mục, muôn dân hòa thuận, các ông bà Chu... Phú, Đinh Phúc Lương, Nguyễn Sư Chí, Vũ Bỉnh Di, Đinh Kim Cái, Đinh Phúc Lâm, Bùi Hoàng, Nguyễn Quang Cửu, Vũ Đức Thọ, Vũ Văn Huy, Đinh Công Hiển. Các ông, bà cùng các vị giúp việc đã tranh thủ được vô lượng công đức của thiện nam, tín nữ quyên cúng tiền tài hưng công xây dựng chỉ trong vài ngày đã khánh thành cầu Khánh Long. Đây là nghĩa cử cao đẹp, trên ích nước, dưới lợi dân, mà xe ngựa trong sáu trấn lại được thông đạo lộ. Nay cầu sừng sững mọc lên dù ngàn vạn đời trước hay trăm vạn đời sau cũng đâu sánh được. Sinh ra ở đây, trưởng thành ở đây, hưởng lợi cũng ở đây, sung sướng cũng ở đây. Công đức của thiện nam, tín nữ lớn lao vô cùng sẽ được truyền lại mãi. Nói chi thì nói chẳng gì có thể biểu dương hơn việc khắc vào bia để truyền lại muôn đời. Sách có câu rằng: Nhà dung điều thiện, ắt được tốt lành, dung điều thiện rồi thì sau ắt hưng thịnh, nhân ý câu này mà ta đặt tên cầu là Khánh Long vậy.

Hội chủ: Chu Văn... Đinh Phúc Lương, Nguyễn Sư Chí,... Đinh Kim Tận, Đinh Phúc Lâm...

Văn bia tạo dựng ngày 26 tháng 11, năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Sùng Khang năm thứ 2 (1579). Người đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi viết chữ.

Bia số 07: Bia nhà thờ họ Mạc tại xã Ngũ Đoan - Kiến Thụy, mới khai quật được tháng 01 năm 2006. Nhiều khả năng đây là bia mộ, tên bia viết bằng chữ triện đã bị mờ, khó đọc. Phần niên đại của bia chỉ còn đọc được mấy chữ “... Nhâm Thìn tam nguyệt cốc nhật”. Qua nghiên cứu nghệ thuật trang trí và điêu khắc, thể chữ khắc trên bia chúng tôi kết luận rằng năm Nhâm Thìn được khắc trên bia là năm 1592 tức thuộc niên hiệu Hồng Minh năm thứ 2 đời vua Mạc Mậu Hợp. Vấn đề nghiên cứu nội dung văn bia cần có thêm thời gian và áp dụng những tiến bộ khoa học hỗ trợ khác mới có thể làm sáng tỏ nội dung văn bia này.

Kết luận: Qua nội dung những văn bia mới phát hiện này cung cấp cho chúng ta những thông tin mới, bổ sung những cứ liệu còn khuyết thiếu cho vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện về nhà Mạc và lịch sử vương triều Mạc trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội...

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.248-255)

Phạm Đức Hân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm