VI | EN
24. Thành Thăng Long qua thơ Hán Nôm (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

THÀNH THĂNG LONG QUA THƠ HÁN NÔM

ĐỖ THỊ HẢO

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Để góp thêm tư liệu xác định vị trí, các di tích của Thành Thăng Long xưa, chúng tôi đã tiếp cận và khai thác mảng thơ Hán Nôm về Thăng Long - Hà Nội hiện còn lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm với hy vọng minh họa được đôi điều mà các nhà khảo cổ học, sử học đã dày công nghiên cứu.

Chúng ta đều biết Thăng Long - Hà Nội nơi giao lưu, hội tụ kết tinh và tỏa sáng những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc; dẫu trải qua biết bao biến cố thăng trầm, dẫu đã từng rơi xuống vị trí là một tỉnh thành Hà Nội suốt 200 năm, song mãi mãi vẫn là chốn đế đô của muôn đời.

Lý Thái Tổ vị vua khởi nghiệp nhà Lý trong Chiếu dời đô năm 1010 đã khẳng định “… Xem khắp nước Việt đó là chỗ đất danh thắng, thật là đô hội trọng yếu để bốn phương xum họp và là đô thành bậc nhất đáng mặt làm kinh sư cho muôn đời…”

Chính vì đất kinh sư là nơi tụ hội của bao nho sĩ, trí thức, nghệ nhân… đất thiêng có lắm người tài, cho nên Thăng Long - Hà Nội chỗ nào cũng đậm đặc các di tích lịch sử văn hóa, những công trình kiến trúc sáng tạo và tài hoa do tiền nhân để lại. Đây chính là những đề tài để các thi nhân gửi gắm, giãi bày cảm hứng cũng như suy tư của mình. Điều đặc biệt là hầu hết các bài thơ đều có lời tiểu dẫn tỉ mỉ cặn kẽ, đây chính là những tư liệu vô giá để lại cho đời sau. Có thể nói hầu hết những bài thơ Hán Nôm về Thăng Long - Hà Nội đều gắn với những di tích với những danh lam thắng cảnh của Hà Nội, ví như bài Đề Huyền Thích quán của Trần Nguyên Đán, Báo Thiên tháp của Phạm Sư Mạnh, Nhất Trụ tự của Lý Đạo Thành, Tây hồ đề vịnh (10 bài) của Phùng Khắc Khoan, Du Trấn Vũ quán của Tùng Thiện Vương, Quá Kim Liên tự của Phạm Đình Hổ; cùng với 25 bài thơ trong La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm, 8 bài thơ vịnh cảnh Thăng Long của Ngụy Tiếp đời Thanh, Thăng Long tam thập vịnh của Đoàn Nguyễn Tuấn, Long Biên bách nhị vịnh của Bùi Cơ Túc… Những công trình uy nghi tráng lệ do bàn tay con người tạo dựng đã đan xen hòa quyện với cảnh trí thiên nhiên thơ mộng của một kinh thành trong sông hiện lên lung linh huyền ảo trong thơ, nó đã khắc họa được diện mạo của Hà Nội xưa một cảnh quan không phải ở đâu cũng có. Với những bài thơ về các di tích của Thăng Long xưa kèm theo lời khảo cứu trong từng bài, khiến người đọc như được chứng kiến những sự kiện lịch sử diễn ra trên đất Hà Thành đã từng trải qua bao phen thăng trầm dâu bể. Đó là quang cảnh phủ chúa Trịnh ở phường Cẩm Chỉ, huyện Thọ Xương nay gọi là phố Cấm Chỉ quận Hoàn Kiếm. Họ Trịnh chuyên quyền lấn át vua Lê, đặt ra 5 điếm trong phủ để điều hành chính sự. Khi các quan vào chầu, chúa ngồi ở nhà chính giữa 5 điếm, các quan văn võ không có lệnh chỉ thì không được vào. Uy nghi là thế mà nay phủ chúa bị đốt cháy, chỉ còn trơ lại nền cũ, cỏ dại mọc um tùm che cả tầm mắt (bài Cẩm Chỉ phố). Rồi câu chuyện xảy ra ở phường Đông Các (cách cửa Đông thành 1 dặm) thuộc huyện Thọ Xương. Niên hiệu Thuận Bình nhà Lê, nguyên soái Trịnh Tùng từ lộ Đà Giang thừa thắng dẫn quân đánh úp vào Thăng Long, Mạc Mậu Hợp bỏ thành chạy. Trong lúc nguy cấp có một viên quan áo gấm vàng tự xưng là Tiến sĩ triều Mạc làm chức Ngự sử đài, từ phía hồ Thái cực xông ra giữa Đông các khấu đầu chặn trước ngựa chúa Trịnh giúp Mạc Mậu Hợp chạy thoát. Trịnh Tùng tức giận sai quan chém đầu về sau Mậu Hợp trở lại Thăng Long lập tức cho dựng miếu thờ, đắp mộ ngay giữa đường chỗ viên quan bị chết, đặt tên là miếu Cẩm Thanh. Ngôi miếu này hiện nay là nhà số 10 ngõ Trung Yên, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Hơn 200 năm trước đại thi hào Nguyễn Du đã từng bùi ngùi tiếc nuối mà than rằng:

Sông Lô núi Tản trơ trơ,

Thăng Long dưới mắt bạc phơ mái đầu.

Dinh xưa cung cũ còn đâu,

Mà nay đường trước thành sau khác rồi.

Thăng Long với bao phen trở thành chiến địa, với biết bao vật đổi sao dời, đến nay những đền đài cung điện thời Lý, Trần Lê, thậm chí cả thời Nguyễn chẳng còn nữa. Có chăng chỉ là dấu tích cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên đời Trần nay là chùa Trấn Quốc, đền Ngọc Sơn bây giờ xưa là cung Khánh Thụy, hoặc điện Kính Thiên thời Lê và Đoan Môn với 5 vòm cửa còn sót lại trong khu vực thành Hà Nội cũ… Trên đây là vài nét đại quan về Thăng Long - Hà Nội xưa qua thơ Hán Nôm.

Trong phạm vi Hội nghị Thông báo Hán Nôm này, chúng tôi muốn tiếp cận với một vài di tích trong khu vực “Hoàng thành” và “Cấm thành” các đời trước, thông qua con mắt của các thi nhân xưa ngõ hầu góp phần rộng đường cho ngôn luận.

Văn bản chính chúng tôi căn cứ là tác phẩm La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (sách ký hiệu A.1941, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Hãy xem lời tiểu dẫn của tác giả: “La Thành là nơi đại đô hội đại giai cảnh. Ta từ nhỏ đã cắp tráp theo thầy đi qua nơi này một vài lần. Khi ấy đã có lúc đàm luận về sông núi, thắng cảnh và đã nghe nói về cảnh đẹp nơi này. Ta thường đọc Dư địa chí của cụ Nguyễn Trãi, bất giác vọng tưởng mà than thở. Gần đây nhân vì việc công đã ngụ ở trong thành đến ba tháng. Nhân khi công việc nhàn rỗi, đi thăm thú các nơi cảnh đẹp trong thành, các chùa quán không nơi nào là không lân la tìm đến, bèn chọn ra những nơi mình tận mắt nhìn thấy và những nơi cổ tích mình cho là đẹp viết thành sách, lấy tên là La thành cổ tích vịnh. Mỗi bài đề vịnh còn ghi thêm một thiên tiểu dẫn để giúp cho việc tham khảo được đầy đủ. Nếu như nơi thắng cảnh nào còn chưa khảo sát được kỹ lưỡng thì xin hãy chờ đợi.

Tháng trọng đông (tháng 11) năm Mậu Thân niên hiệu Chiêu Thống nhà Lê

Tiến sĩ đệ nhị giáp xuất thân, Chế khoa năm Đinh Mùi, Trần Bá Lãm viết lời dẫn và vịnh thơ.

Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu với những thi phẩm Hán Nôm viết về Thăng Long - Hà Nội, kể cả những sách như Thăng Long cổ tích khảo hoặc Thăng Long cổ tích khảo tịch hội đồ để tìm ra những dị biệt ta có thể hiểu về các di tích trong thành Thăng Long xưa cụ thể như sau:

1. Vịnh núi Nùng - Tiểu dẫn: núi Nùng là ngọn núi đất ở chính giữa thành, đỉnh núi hình tròn bằng phẳng, cây cối tươi tốt tiếp liền với hồ Tây. Phía sau có 3 ngọn núi làm Chẩm, sơn thủy hữu tình, là thắng cảnh nơi thành đô. Thời Lý dựng kinh đô lấy núi này làm án, xây chính điện ở trên núi, thường có đôi chim hạc ngũ sắc bay tới nhảy múa trước điện. Giữa chừng nhà Lý suy vi, chim hạc không bay đến nữa. Thời Trần đổi làm hành cung, dựng lầu Vọng nguyệt đối diện với núi Nùng. Hoàng triều đổi thành điện Kính Thiên. Tương truyền sau ngự tòa có lỗ thông thẳng ra Tây Hồ, là nơi thông khí của núi đầm, gọi là rốn rồng (núi đất hiện ở trong Bách thảo tên là núi Sưa - không phải núi Nùng. Đền thờ trên núi Sưa thờ Huyền Thiên Hắc đế. Căn cứ theo thần tích nơi đây thờ Thành hoàng làng Hữu Tiệp và Xuân Biểu, hiện thuộc quận Ba Đình, Hà Nội).

Dịch nghĩa bài thơ:

Vịnh núi Nùng

Trời đặt núi Nùng để làm vững kinh đô của vua,

Thắng tích núi Nùng xưa nay còn lưu dấu.

Mây bạc hạc đẹp về nơi nao,

Chỉ còn đền đài cung điện đối diện vọng lâu như cũ.

2. Vịnh Tam Sơn - Tiểu dẫn: núi ở phía Bắc thành, đằng sau núi Nùng có một ngọn cao nhô lên, đất đá xen nhau, là chẩm sơn của núi Nùng. Trên núi có tòa lũy trồng trúc đốm, tương truyền vua Lý thường đến chơi nơi đây, có những phiến đá có chữ ngự đề nằm nghiêng trên đỉnh núi. Nay những chữ đó mòn hết, không thể khảo cứu được.

3. Vịnh Thái Hòa sơn - Tiểu dẫn: quả núi đất này ở phía Tây thành thuộc địa phận phường Thái Hòa. Triều Lý là núi Ngự Sơn, xa giá nhà vua thường tới đây. Trên núi có ngôi chùa Phật, trước chùa có lầu chuông, sư trụ trì ở đây sớm tối thỉnh chuông, tiếng chuông ngân xa tận trời xanh. Thời Trần vẫn theo như thế. Hoàng triều Thánh Tông Hoàng đế cho dựng hành cung trên núi, đặt là cung Thái Hòa.

4. Ngọc Long trì (bài thơ trong tập Long Biên bách nhị vịnh, tác giả Bùi Cơ Túc, ký hiệu A.1310, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

Nguyên chú: thềm rồng ngọc ở sân điện Nùng Sơn. Thềm bằng đá có chín bậc, chạy dọc từ trên xuống hai bên tả hữu là hai con rồng ngọc dài hơn 2 trượng tạc từ thời Lý.

Tương truyền năm Thống Nguyên (1522) trong buổi lễ trao lại ngôi báu cho nhà Mạc, vua Lê dẫn qua các bậc lên điện thì rồng bốc cháy lan cả vào áo long cổn của họ Mạc. Đăng Dung tức quá liền ra lệnh chặt bỏ. Đến nay chỗ rồng bị chặt vỡ vẫn còn.

5. Nùng Sơn điện - Nguyên chú: điện nằm ở chính giữa thành. Sử chép vào thời Lý xây cung điện trên đỉnh núi Nùng làm chỗ thiết triều. Đến đời Trần, đời Lê vẫn làm theo như thế. Sau đời Lê Trung hưng đổi điện Kính Thiên làm nhà Minh đường thờ Thiên đế, đổi thiết triều ở điện Long Thiên.

Triều nhà Nguyễn trùng tu ngôi điện trên núi Nùng (tức điện Kính Thiên) đặt là điện Long Thiên, đó chính là hành cung của thành Thăng Long. Căn cứ theo sách Cao Biền linh ký thì “núi Nùng ở chính giữa thành là như vậy”.

Và còn biết bao bài thơ nữa gắn với di tích như Đoan Môn hay Ngũ Môn lâu, được nhà Nguyễn tôn tạo trên cơ sở bảo tồn cổng Ngũ Môn đã có sẵn từ trước mà theo Bùi Cơ Túc (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) thì “Ngũ Môn lâu ở trước điện núi Nùng, xây từ đời Lý gọi là Đoan Môn). Phải chăng Đoan Môn không chỉ có niên đại ở vào khoảng Nguyễn Lê mà có thể lên đến thời Lý Trần. Và như vậy có nhiều khả năng đây chính là Dương Minh Môn đã được sứ nhà Nguyên là Trần Phụ (năm 1293) viết trong “Sứ giao Chân Cảo” với những gác “Triều Thiên” với cửa ngách “Nhật Tân”, “Đông Hội”. Hoặc trong bài thơ “Kỳ đài” Bùi Cơ Túc đã chứng kiến sự kiện cột cờ được xây đúng vào chỗ cổng Tam môn của thành Thăng Long đời Lý.

Tóm lại qua một vài tư liệu nêu trên phần nào có thể hiểu rằng: “Thành cổ Hà Nội” (tức thành tỉnh Hà Nội nhà Nguyễn) vẫn nằm ngay trên khu vực “Hoàng thành” và “Cấm thành” các đời trước và theo giả thuyết “trục chính tâm” của kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh… các thời Lý Trần Lê từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII vẫn được “thành tỉnh Hà Nội thời Nguyễn”, thế kỷ XIX cơ bản giữ nguyên như cũ./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.207-212)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm