24. Tri phủ Phan Hữu Đại với vấn đề văn hóa giáo dục (TBHNH 2001)
TRI PHỦ PHAN HỮU ĐẠI VỚI VẤN ĐỀ VĂN HÓA GIÁO DỤC
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Phan Hữu Đại người xã Phù Chính, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây. Ông sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết thi đỗ Cử nhân năm Giáp Thân (1884).
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, thuở nhỏ Phan Hữu Đại nổi tiếng hay chữ trong vùng, khi lớn lên dự thi một lần đỗ luôn Cử nhân khoa Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc thứ 1 (1884) triều Nguyễn.
Theo sách Sơn Tây tỉnh chí ông là nhân vật hào hoa, nổi tiếng khắp vùng, tuy thi Hương sớm đỗ, nhưng nhiều lần thi Hội chỉ đỗ đến Tam trường. Ông từng được bổ làm quan Tri phủ phủ Thường Tín, ít lâu sau đổi làm Tri phủ phủ Quốc Oai. Là vị quan cần mẫn và sáng suốt, ông luôn đề cao văn hóa - giáo dục, đặt nó song song với nhiệm vụ cai trị và giữ yên thiên hạ.
Khi làm Tri phủ phủ Thường Tín ông rất quan tâm đến văn hóa địa phương, đặc biệt là đi sâu sưu tầm văn hóa dân gian. Một lần nhân chuyến công cán đến huyện Phú Xuyên, ông và bạn đồng liêu thấy ở đây phong cảnh hữu tình, lại thấy dân gian lưu truyền câu chuyện rất kỳ thú về Cầu Anh, cầu Em, dặng đa bà Chị. Ông bèn làm thơ phẩm vịnh:
Anh em bà Chị hỏi ai ta
Hỏi quán hỏi cầu hỏi dặng đa
Dịp gãy hổ ngươi đò mặc khách
Gốc ngồi mỏi mắt gọi đâu bà
Nhọc lòng khí khái chi chi đó
Đặt truỵên khoe khoang khéo khéo mà
Đi lại cầu tây đông đúc nhỉ
Muốn cho ngói mít rợp cây nhà.
Bài thơ đã vẽ lại quang cảnh địa phương đượm buồn. Cầu Anh, cầu Em, dặng đa bà Chị là đặc trưng văn hóa của vùng quê này, là hình ảnh quen thuộc, thân thương đã đi sâu vào tâm trí mỗi con người nơi đây. Trải qua bao năm tháng, phát huy biết bao tác dụng, nhưng cũng như mọi sự vật khác, dặng đa, cây cầu cũng chịu ảnh hưởng trước sự vận động, vô thường của năm tháng. Cầu đã gãy, dặng đa cũng không còn nữa. Nó chỉ còn lại trong tâm tưởng mỗi người. Giờ đây họ chỉ còn biết ngồi trơ trọi dưới gốc cây cụt kia để hồi tưởng, để nhìn lại chính họ, chứng kiến sự thăng trầm, biến thiên của lịch sử. Cây cối hai bên đường chẳng còn đâu, cầu thì đã hỏng, chỉ còn lại người lái đò bên kia sông dơ tay vẫy khách. Than ôi, sự đời là vô định, chỉ trong chớp mắt thôi mà mọi sự chả còn gì. Người ta dường như đã quên mất cái vốn có của mình, đến với cái hợp thời hơn. Họ bỏ lại đằng sau cây cầu gỗ, nô nức kéo nhau trên cây cầu được xây bằng bê tông cốt thép, bằng hiện vật của thế giới văn minh. Với những tâm sự ấy không có nghĩa là Phan Hữu Đại không thức thời, không muốn tiếp thu những cái văn minh hiện đại mới mà có lẽ ông nuối tiếc cho con người ta đã dần mất đi chính mình. Trước sự biến đổi nhanh chóng ấy, ông muốn kéo mọi người trở về với cội nguồn, với quê hương bản quán, với một tâm trạng hoài cổ.
Rất tâm đắc với bài thơ vịnh cảnh, Phan Hữu Đại gửi thơ cho Giáo thụ Ngô Hoan để chia sẻ nỗi niềm. Tuy chưa từng đặt chân đến đất này, nhưng đã đọc được tâm sự của Phan Hữu Đại, quan Giáo thụ Ngô Hoan dựa theo vận bài thơ trên chấp bút đề họa:
Tân Độ nghe truyền địa hạt ta
Anh Em cầu dựng chị trồng đa
Dịp ngang đôi ngả kìa công cậu
Bóng mát ngàn thu ủa sức bà
Dâu bể cơ trời đâu biết đến
Khen chê bia miệng vẫn còn mà
Rủ nhau làm phúc cầu noi đó
Cây đức mong sao rợp một nhà.
Là người am hiểu về văn hóa - giáo dục, Phan Hữu Đại không chỉ nuối tiếc những di sản, truyền thống văn hóa đã mất đi mà ông còn dày công sưu tầm, tìm hiểu sâu xa truyền thống văn hóa của địa phương nơi ông đã đến.
Khi làm Tri phủ phủ Quốc Oai, Phan Hữu Đại đã bỏ nhiều công sức sưu tầm tư liệu, tìm hiểu và khơi dậy truyền thống của vùng quê giàu bản sắc văn hóa này. Năm Thành Thái thứ 4 tức năm 1892, ông soạn bia Văn chỉ cho xã Yên Nội, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai.
Theo ông Nguyễn Văn Xứng trưởng phòng văn hóa huyện Quốc Oai cho biết: Đất Yên Nội xưa vốn là lị sở của huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai. Vì vậy những tấm bia đá này chính là bia văn chỉ của hàng huyện. Các cụ trong ban di tích địa phương cho biết, thời hợp tác hóa nông nghiệp trước đây có rất nhiều bia đá trong văn chỉ bị phá đi để lát đường. Tấm bia Đại khoa bi kí hiện còn này chính là một trong số những tấm bia bị lát đường mới tìm lại được. Rất nhiều sự tích về khoa cử địa phương lưu truyền từ đời này qua đời khác rồi được khắc lại trên bia đá. Người dựng bia đau đáu lo ngại các truyền thuyết đó sẽ mai một, nên đã dụng công tìm hiểu và ghi chép lại. Nào ngờ cũng có lúc bia bị san lấp chôn vùi trong lòng đất. Tìm thấy được tấm bia, chúng ta như tìm lại được tấm lòng một con người luôn quan tâm đến văn hóa, xã hội. Để giúp mọi người hiểu biết thêm thịnh tình quan Tri phủ Phan Hữu Đại, chúng tôi xin phiên âm, giới thiệu bài văn bia này:
Phiên âm:
Ngã Yên Nội nhất ấp, Lê Hồng Đức Mậu Tuất dĩ tiền khoa giáp hữu vô, bất ký. Duy ký đắc thị khoa Mậu Tuất, ngã ấp nhân tính Vương tiên sinh, húy Khắc Mại dĩ văn hạnh vô ưu đăng Đệ tam giáp Tiến sĩ. Tương truyền vi ngô ấp khoa giáp chi xướng. Kỳ gian tiên sinh chi hoạn trật, chi chính tích, chi thọ linh, bất ký. Tiên sinh chi quy điền lý chi lập sản nghiệp chi trọng, phó thác hựu bất ký, Ngõ Chùa xứ trì ngũ khẩu, điền viên thập tam sở, tứ chí cụ hữu trách, vi tiên sinh chi sở lưu. Hiện kim, Vịnh Vượng thôn luân lưu canh tác, xuân thu chí điện nhi dĩ. Đại dĩ Lê Hồng Đức Mậu Tuất chí kim Thành Thái tứ niên Nhâm Thìn cẩn tam bách dư niên nhi ấp trúng khoa giáp hữu ký hữu bất ký, tức ký đắc tiên sinh khoa giáp, nhi tiên sinh sự trạng hựu hữu ký, hữu bất ký. Bất ký cố dĩ, kỳ ký yên giả, diệc đồ đắc chi dân gian lão nông phố, liệt tiên sở khẩu truyền chí đa bất tường. Bi chi bất tác, toại chí như tư bi phù. Ô hô! thời hữu đại tạ, vật hữu biến thiên, đạo hữu hiển hối. Tự Quý Mùi hữu sự lai tư, cẩn đắc thập niên, tuy giang hà nguyên vô dị, nhi nhân dân dĩ bán phi hỹ. Thảng bất nhân nhi ký, kỳ hữu ký tắc bất nhi nhân dân dĩ bán phi hỹ. Thảng bất nhân nhi ký, kỳ hữu ký tắc bất duy ký giả, bất ký nhi hữu ký chi, đồ đắc chi khẩu truyền giả, hoặc hựu tòng nhi bất ký hỹ. Kỳ nại hà, ngã thôn vi thử cụ. Thị dụng điền viên trì đường, xuân thu chí điện chi sở tất, đăng chi trinh thạch dĩ thọ kỳ truyền. Viên vi chi từ viết:
Khuê sơn thanh thanh,
Đào thủy linh linh.
Tiên sinh đĩnh xuất,
Nhân kiệt địa linh.
Nhi kim nhi hậu,
Truyền giai tiên sinh.
Văn phong hạ dân,
Phiến niệm thạch trinh.
Tứ Hồng Đức Mậu Tuất khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ Thị lang Vương tiên sinh, húy Khắc Mại.
Bản phủ Thái thú Phan Hữu Đại soạn.
Hậu học Thạch Thán Nguyễn Văn Kỷ phụng thư.
Dịch nghĩa:
Một ấp Yên Nội ta, từ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức đời Lê trở về trước có hay không, không thấy ghi lại. Chỉ thấy ghi khoa Mậu Tuất có người ở ấp ta là Vương tiên sinh, húy là Khắc Mại, nhờ văn hạnh hơn người, thi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ. Tương truyền tiên sinh là người khởi xướng việc học hành thi cử ở ấp ta. Nhưng thời gian ông làm quan, công tích, tuổi tác đều không được ghi lại. Ngay cả việc gây dựng cơ nghiệp khi quay về hưu trí cũng không ghi lại. Ở xứ Ngõ Chùa có năm khoảnh ao, ruộng vườn có 13 thửa, bốn phía đều có cọc mốc, là quan lộc của tiên sinh để lại. Nay người thôn Vịnh Vượng luân phiên canh tác, đến tiết xuân thu thì dâng lễ. Từ khoa Mậu Tuất (1478) đời Hồng Đức đến khoa Nhâm Thìn (1892) đời Thành Thái chỉ khoảng hơn 300 năm, nhưng những người đỗ đạt khoa bảng ở thôn ta có lúc ghi lúc không, chỉ ghi lại được tiên sinh. Về việc khoa bảng, sự trạng của tiên sinh cũng có chỗ ghi chỗ không, không ghi coi như đã mất. Những điều ghi được đoán rằng do các lão nông nghe lại được từ các cụ đời trước, rất nhiều chỗ không rõ ràng. Vì không dựng bia nên mới có tình trạng đáng buồn này. Ô hô, thời thế xoay vần, vật có biến thiên, đạo có lúc sáng lúc tối. Những sự việc xảy ra từ năm Quý Mùi (1883) đến nay mới được 10 năm, tuy non sông vẫn không thay đổi, nhưng con người đã mất đi một nửa rồi. Nay nếu như không nhân đó mà ghi lại, thì có những cái đáng ghi mà không ghi, cái không cần ghi thì lại ghi, hoặc chỉ biết lưu truyền bằng miệng, hoặc lại theo lối cũ mà không ghi, thì biết làm thế nào? Vì vậy thôn ta cần phải ghi lại số ruộng đất, ao dùng vào việc tế tự xuân thu lên bia đá để truyền mãi cho đời sau. Bèn làm bài từ rằng:
Núi Khuê xanh xanh
Nước kênh róc rách
Tiên sinh đúc chung
Đất thiêng người giỏi
Sau trước một mình
Tiên sinh để lại
Phong tục tốt lành
Ghi vào bia đá.
Vương tiên sinh húy là Khắc Mại, thi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức, giữ chức Thị lang.
Bản phủ Thái thú Phan Hữu Đại soạn bia
Hậu học Nguyễn Văn Kỷ người xã Thạch Thán phụng chép.
Hiện nay chúng ta đang thực hiện công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhưng ít ai biết rằng cách chúng ta cả trăm năm Cử nhân Phan Hữu Đại đã nghĩ đến và dụng công sưu tầm tư liệu, tìm hiểu truyền thống và đặc trưng văn hóa của những vùng quê mà ông từng làm quan. Những kiến thức và đóng góp của ông đã góp phần lưu giữ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.
Do biến động của lịch sử, trải qua bao chiến tranh tàn phá, cho đến nay nhiều văn bản Hán Nôm không còn, hoặc nếu có thì tản mát trong dân gian, chưa có điều kiện thu thập. Các học giả như Hoa Bằng, Trần Văn Giáp, Giáo sư Trần Nghĩa đã dày công giới thiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam. Chúng tôi đã tìm hiểu các sách như Lược truyện các tác gia Hán Nôm. Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, Thư mục Hán Nôm phần các tác giả, Văn học Hán Nôm Hà Tây… đều chưa thấy nhắc đến tên tác gia Phan Hữu Đại. Trong bài viết này chúng tôi bước đầu giới thiệu về thân thế và văn tài của Cử nhân Phan Hữu Đại, những mong các sách sưu tập, tuyển chọn các tác gia Hán Nôm sau này, sắp xếp Cử nhân Phan Hữu Đại là tác gia Hán Nôm đời Nguyễn.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.201-208