VI | EN
25. Ba văn bia họ Trịnh ở huyện Yên Định Thanh Hóa (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

BA VĂN BIA HỌ TRỊNH Ở HUYỆN YÊN ĐỊNH

NGUYỄN VĂN HẢI

Thư viện KHTH Thanh Hóa

Họ Trịnh là một dòng tộc vốn tồn tại lâu đời trong lịch sử, nhắc tới họ Trịnh chúng ta nhớ ngay đến một dòng tộc vương hầu khanh tướng, đã cùng nhà Lê nắm quyền trị vì đất nước trong suốt giai đoạn triều Lê Trung hưng.

Từ trước tới nay, việc tìm hiểu về nguồn gốc lai lịch họ Trịnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nói chung và huyện Yên Định nói riêng vẫn chưa có một công trình nào mang tính toàn diện, bao quát thành một đồ hệ thống nhất, có chăng cũng chỉ dừng lại giới thiệu dưới dạng Vương phả như một số sử sách ghi chép.

Hiện nay tại địa bàn huyện Yên Định hiện vẫn lưu giữ được ba tấm bia ghi về nhân vật họ Trịnh, để cung cấp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu, bạn đọc, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây.

Bia thứ nhất: Tặng Thư Quận công thần đạo bi. Bia hiện dựng tại làng Duyên Lộc, xã Định Hải, kích thước cao1,65m, rộng 1,20m, dầy 0,28m dựng trên lưng rùa. Rùa thân dài 2,85m, đầu ngẩng cao, cổ dài, hai mắt mở to, bốn chân lộ rõ. Bia trán lượn hình vòng cung khắc dây cúc tạo hình sin, tư thế tay ngai chia làm ba ô, mỗi ô khắc một bông “cúc hóa sen” chia làm ba lớp nhụy, đài, cánh. Lớp cánh phía trên tạo thành một búp sen. Dây leo của cúc điểm lá có vân hồi kéo dài sang hai bên cánh cung tạo nên các đao lửa tựa hình rồng chầu vào. Tên bia khắc tám chữ tiểu Triện. Diềm đỉnh, chạm bảy bông hoa sen, hoa cúc nằm trong hình nửa lá đề. Hai diềm biên chạm đường vân hoa cúc dây, tựa hình nửa lá đề, bên trong lá đề chạm đăng đối các bông cúc, sen. Diềm đáy chạm bảy bông hoa sen, cúc nằm trong hình lá đề, có điểm các nét vân hồi hình xoắn. Bia dựng ngày 17 tháng 02 năm Đinh Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 28 (1497). Người soạn là Thân Nhân Trung, chức Quang kiến đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Huân chính trị khanh. (Bia ngày nay đã bị mòn nhiều, một số chữ bị đục mất”.

Nội dung văn bia ghi lai lịch tiểu sử ông Trịnh Công Đán vốn có nguồn gốc làng Giang Đông huyện Vĩnh Ninh (nay là xã Vĩnh Hòa huyện Vĩnh Lộc). Cha tên húy là Khả, theo Lê Thái Tổ sáng nghiệp được các vua Thái Tổ - Thái Tông thăng thưởng nhiều chức tước: Thái úy Bình chương quân quốc trọng sự, Thái giám nội ngoại chư dịch, Thể quốc, Suy trung, Tán trị, Dương vũ, Tịnh nạn công thần, Thái úy Thượng trụ quốc, tước Liệt Quận công

Trịnh Công Đán sinh ngày Tân Hợi tháng 7 năm Đinh Tỵ (1437) đời vua Lê Thái Tông. Năm đầu niên hiệu Quang Thuận, Lê Thánh Tông mới lên ngôi, kế nối sự nghiệp lớn, vua cho rằng ông là người con của bậc công thần huân lao có công trong hồi mở nước, hơn nữa bản thân học vấn tinh thông, khá đạt, cho nên cất nhắc lên chức: Chỉ huy Phó sứ, Siêu thượng Thượng thư sảnh, Hữu ti Đồng tri, Nam đạo quân dân bạ tịch. Lại cất nhắc lên Thượng Kỵ úy, từng trải chức quan Võ, Đồng tri Phó quản lĩnh Tổng tri. Lại ban cho nhận Tuyên úy sứ, quyền cầm nắm chức Thị lang Bộ Công.

Năm Quang Thuận thứ 9 (1468) thăng chức Thừa tuyên sứ, Sứ ti Thừa Tuyên sứ, Huân tư trị doãn.

Năm Hồng Đức thứ 3 (1472) thăng làm Tả Thị lang Bộ Công, Gia hành đại phu, chưa được bao lâu lại thăng làm Sơn Nam đẳng sứ… Tán trị Thừa Tuyên sứ ti Thừa Tuyên sứ. Cùng năm tháng 11 có quan Thủ Thần Tuyên Quang báo có bọn Man xâm lược quấy nhiễu. Hoàng thượng ban lệnh cho Diên Hà bá là Lê Hi Cát và nhiều người đi chinh phạt giặc Man. Tướng quân (Hi Cát) lấy ông làm Tán Lý quân vụ, lãnh binh thảo giặc từ phía sau. Lại ban thêm cho chức Hữu Thị lang Bộ Công, lại thăng Thượng thư Bộ Công, sau lại đổi làm Thượng thư Bộ Binh.

Năm Hồng Đức thứ 10 (1479) ông cùng các tướng theo vua xa giá đi đánh Ai Lao. Thăng cho ông chức: Thị giám trực Đô đại tướng quân doanh. Đại thắng trở về được tặng: Quang Kiến đại phu, Huân chính trị khanh, giữ nguyên chức cũ Thượng Thư bộ Binh.

Năm Hồng Đức thứ 13(1482) quan ở biên giới Nghệ An cấp báo có tin Ai Lao muốn đem quân sang báo thù. Vua sai ông đi chinh phạt, phong cho chức: Đô đốc đồng tri, cất nhắc chức: Chiêu Nghi tướng quân, Khâm sai tổng trấn quân vụ các xứ. Bình định xong triều đình cho gọi ông về vẫn giao cho giữ nguyên chức cũ Thượng thư Bộ Binh.

Sau này, triều đình xét thấy ông đã lâu giữ chức Thượng thư Bộ Binh, lại lập được nhiều công lao, như vậy hà cớ gì mà vẫn nhận phẩm trật bình thường. Bèn làm lễ tuyên phong: Tuyên lộc đại phu, Chính trị tự khanh, tặng thưởng Thông tư tứ cấp, giữ nguyên chức Thượng thư Bộ Binh như cũ.

Vào trung tuần tháng 6 năm Đinh Tỵ (1497) ông bị cảm, vua nhiều lần lệnh cho các quan đến vấn bệnh, song thấy bệnh ngày càng không giảm, đến ngày 16 tháng 09 cùng năm ông mất, hưởng thọ 61 tuổi.

Nghe tin ông mất, nhà vua thương tiếc cho nghỉ chầu, ban cho 18 vạn tiền chi phí sắm sửa lễ vật, truy tặng cho tước Thư Quận công, ban tên thụy là Cung Lượng. Làm lễ xong, đến ngày 17 tháng 02 đưa về an táng tại quê hương ở xã Kim Bôi, huyện Vĩnh Ninh (nay là xã Vĩnh Hòa huyện Vĩnh Lộc). Con trai là Thượng thư Bộ Hộ đem những việc chân chính, hành trạng của ông, xin làm bài văn bia cùng lời minh.

Bia thứ hai Trịnh tướng công từ bi. Bia hiện nay đang dựng tại khu nhà văn hóa thôn Đông Lý, thuộc làng Si xã Định Bình. Bia cao 1,15m, rộng 0,80m trán lượn vòng cung khắc mặt trời, mây hóa, viền khắc cúc hóa vân. Bia dựng ngày 21 tháng 12 niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878), người viết là Nguyễn Đức Đạt, tên chữ là Khoát Như, tên hiệu Nam Sơn Chủ Nhân Am, thi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa) khoa Quí Sửu (1853), chức Tuần phủ Hưng Yên, vốn là Tham tri Bộ Binh, kiêm viện Đô sát, hữu phó Đô ngự sử. (Do bia bị đem ra làm bàn giặt, phần mặt chữ bị mòn hết, chỉ còn lại phần tên bia, vì thế chúng tôi tóm tắt dựa trên bản dịch đăng trong sách Địa Chí Thanh Hóa, tập II, tr.1189).

Huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa có miếu thờ quan Thượng thư họ Trịnh (Trịnh Thiết Trường), thi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa thi Mậu Thìn (1448) đời Lê Nhân Tông. Khu vực miếu thờ xã Đông Lý (nay là làng Si xã Định Bình) là quê quán của ngài. Đã nhiều năm đền miếu đổ nát, tiếng vang dần hết, trong ấp có ông Lê Trung Cần, làm quan Huyện tể, nhân đi tuần hành thấy đền miếu đổ nát, ông hô hào các thân sĩ trong huyện, góp của cải để tu tạo lại đền miếu và dựng bia... Bia còn ca ngợi công đức của ngài và việc làm của quan huyện tể.

Bia thứ ba: An Chân Bái Khê thị Trịnh môn từ đường bi ký. Bia ngày nay dựng trên bệ nhà thờ dòng họ Trịnh ở thôn Hổ Bái xã Yên Bái. Kích thước cao 1,20m, rộng 0,70m, trán lượn hình vòng cung khắc mặt trời và cúc hóa vân, hai viền biên, viền đáy không khắc hoa văn. Bia dựng ngày mồng 4 tháng 12 niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876). Người lập bia là ông Trịnh Cảnh Mậu.

Nội dung ghi việc báo đáp về nguồn gốc, truy tìm về dòng giống là đạo lý thường của con người. Khắc lập bia ký ghi chép là để truyền đời mãi mãi. Họ Trịnh từ lúc gây dựng cho đến nay đã lâu dài lắm, dòng văn phái võ hai đường cùng tiến. Quí hiển một nhà nên các bậc võ tướng đều được tiếp nối thăng tiến, thứ tự đăng ghi. Các bậc văn quan thi đỗ khanh khoa rất nhiều. Thanh phong nổi rõ đương thời, quan chức một nhà danh hiển. Vào năm Kỷ Sửu niên hiệu Minh Mệnh thứ 10 (1829) xây từ đường từ nền móng tổ tiên đã gây dựng...

Năm Tự Đức thứ 29 (1876) tức năm Bính Tý, thiết lập từ đường làm nơi bốn mùa thờ cúng, vâng ghi vào bia để vun trồng truyền thống tổ tiên ta. Người đời sau mỗi khi đọc bài minh văn này lòng hiếu trung hứng khởi, nghĩ nhớ về cơ đồ sáng láng, sự nghiệp rực rỡ của tổ tông. Tổ gây dựng tôn đắp bồi trăm nghìn đời xây nền công đức. Xuân tế tự Thu báo đáp ức vạn niên như ở khói hương. Tấm lòng thành kính là sự yên vui đối với các bậc tiên linh dưới suối vàng mà định yên tôn miếu vững như bàn thạch vậy.

Văn bia còn ghi các bậc công thần quan tước triều Lê cùng các bậc khoa trường gồm: Ông Trịnh Tử Ngai, được đặc biệt tiến phong: Phụ quốc Thượng tướng quân, tặng Thái bảo, tước Ngai Quốc công. Ông Trịnh Cảnh Hoa được đặc biệt tiến phong: Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân đô đốc phủ, Đô đốc Đồng tri, tước Tứ Quận công. Ông Trịnh Cảnh Huy được đặc biệt tiến phong: Phụ quốc Thượng tướng quân ? Đô đốc phủ, Tả Đô đốc, Cẩm y vệ, Chưởng vệ sự, Thượng trụ quốc thượng trật, tước Hoàng Quận công. Ông Trịnh Cảnh Kỳ được ban Tán trị công thần, Đồng tri phủ. Ông Trịnh Cảnh Thụy, thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa thi Nhâm Thìn (1592), được phong tặng Kiệt tiết Tuyên lực công thần, đặc biệt tiến phong Kim tử vinh lộc đại phu, Sơn Nam xứ, Tán trị Thừa chính sứ, tước Hoằng Đạt nam, Tá trị thượng khanh Thượng trật. Ông Trịnh Cảnh Tông được ban Tán trị công thần, Kim Ngô vệ thự vệ sự, tước Trúc Giang tử. Ông Trịnh Cảnh Thuần, được ban Dương vũ Uy dũng công thần, Công tư ngũ phủ, tước Phù Lương hầu. Ông Trịnh Cảnh Phú, được ban chức Nam quân đô đốc phủ, Đô đốc đồng tri, tước{ } Quận công....

Như vậy mặc dù những thông tin mà ba văn bia ghi chép về dòng họ Trịnh ở ba địa danh khác nhau trong huyện Yên Định là không nhiều, nhưng qua nguồn thông tin ít ỏi này phần nào hé mở về lịch sử, công trạng của một số các công thần họ Trịnh, góp phần tìm hiểu về thế thứ cũng như lai lịch dòng họ Trịnh theo đồ hệ trên địa bàn huyện Yên Định nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.322-327

Nguyễn Văn Hải
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm