25. Bước đầu tìm hiểu tập văn tế đền thờ Đức Vua Bà thôn Quả Cảm, xã Hòa Long, Tp. Bắc Ninh
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TẬP VĂN TẾ ĐỀN THỜ ĐỨC VUA BÀ THÔN QUẢ CẢM, XÃ HÒA LONG, THÀNH PHỐ BẮC NINH(1)
MAI XUÂN HẢI
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
NGUYỄN QUANG TRUNG
Viện Sử học
Trong quá trình sưu tầm tư liệu Hán Nôm ở các địa phương, chúng tôi đã được các cụ Hội người cao tuổi và Ban quản lý di tích thôn Quả Cảm, xã Hòa Long cho sao chụp một tập tư liệu Hán Nôm có chủ đề là “Tập văn tế đền thờ Đức vua Bà” (phụng tế thần văn).
Căn cứ theo nội dung thì đây là thần phả của Đức thánh Tam Giang và của Đức vua Bà (còn gọi là Bà chúa làng Quả Cảm). Toàn bộ văn tế có 33 trang viết trên giấy dó, bìa cậy, kích thước 16 x 22cm có khoảng 5000 chữ Hán viết chân phương, được soạn thảo vào đời Gia Long thứ 10 (năm 1809) và được sao lại vào những năm đầu thế kỷ XX. Nhận thấy đây là những tài liệu lịch sử quý giá để chúng ta hiểu rõ hơn về thân thế và sự nghiệp Bà Chúa làng Quả Cảm - người được vinh phong là Đức vua Bà, thành hoàng của làng.
Chúng tôi đã phiên âm và dịch nghĩa những tài liệu trên để nghiên cứu. Xin trích dịch để Hội nghị chúng ta cùng tham khảo.
Phiên âm:
Đức vua Bà
Cảm chiêu cáo vu
Đức vua Bà Thượng đẳng thần. Cung ngộ Xuân thiên thích trị kỵ thời tất cáo lễ dã.
Vị tiền viết: Cung duy Hoàng gia công chúa, dung nhan yểu điệu, cốt cách phi phương, tứ đức tam tòng, trinh thục phối chu. Thần thái tự nhất tiếu bách mị nhan hoa tranh Nghiêu nữ Nga Hoàng, tần tảo nhân vô dữ đối. Tơ bồng phùng thế mạc cảm đương. Danh trứ hoàng đô, xa mã tiêu nghênh vu Quả ấp. Duyên hài đế thất, cổ chinh nhạc hưởng vu an bang. Nhất nhi kỷ sắc, ưu quốc sắc tam bất khuyết, cương chính đại cương, văn duyệt võ phấn, lưỡng tịnh đồ đồ, xuất nhập liên xa ư tử các. Đại hầu tiểu bá tứ thị nha, vũ ca trùng tục ư cẩm đường, đức ký tế vu sơn hải Trí khiêm bấm phù âm dương. Dân toại trưởng, vật toại thành, xứ xứ hàm hằng phong đinh giáp. Hội ích tăng, tuế ích phú, gia gia hưởng thọ khảo danh vinh. Phương kim tiết thuộc xuân thu đinh. Thích kỵ kính trần lễ sổ, lai hạ lai sùng, đan thành nguyện hiến tam bôi tửu, khắc hâm khắc hưởng, chân linh thượng giám ức niên xuân.
Dịch nghĩa:
... Dám xin kính cáo với đức vua Bà, thượng đẳng thần. Nay gặp ngày giỗ đức vua Bà, ắt phải cáo lễ vậy. Nay bà Hoàng hậu công chúa dung nhan yểu điệu, cốt cách phương phi, có đủ cả tam tòng tứ đức, đủ các nết trinh thuận, một nụ cười bao gồm cả trăm vẻ đẹp, nhan sắc như Nga Hoàng con gái vua Thuấn, chịu khó tần tảo không ai sánh bằng, duyên phận tốt đẹp không ai đương nổi và nổi tiếng khắp cả kinh đô, xe ngựa đón về ấp Quả Cảm, nhân duyên tốt đẹp, chiêng trống âm nhạc vang khắp cả trong nước. Sắc đẹp Bà nổi tiếng khắp cả kinh kỳ, lại thêm có lòng lo cho dân, cho nước, đã có đức cương chính, văn võ lại đều hay, ra vào đều đi xe hoa, nổi tiếng nơi lầu son gác tía, các bậc đại hầu, tiểu bá, khắp cả chợ búa thị thành đều biết tiếng Bà. Tài ca vũ vang khắp cả các nhà quan gia danh giá, đạo đức của Bà vang khắp mọi miền sông núi. Đức khiêm tốn của Bà là sự vun đắp đầy đặn của âm dương. Dân được hưởng phúc quả, vạn vật tươi tốt. Nhân dân các nơi đều được đội công ơn, con cháu đông đảo, sinh sôi nảy nở, năm tháng thuận hòa, nhà nhà đều được sống thọ, sống lâu.
Nhân ngày giỗ vào hai mùa xuân thu, ngày húy kỵ xin được bày biện lễ vật, lòng thành dâng lên ba chén rượu kính mời đức Bà về hâm hưởng và ban phúc cho dân làng được vạn năm xuân.
Thần phả:(2)
Dịch nghĩa:
... Đức Bà là người xã Quả Cảm vậy. Đức Bà sinh vào năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tư đời Trần (1234). Bà có dung nghi đẹp đẽ, phong thái khác thường. Được như vậy là do bố mẹ bà đã tích thiện, gia đình có nghề làm ruộng và buôn bán, cần cù chịu khó, không bao giờ cạnh tranh với ai, không biết vì sao, ông bà ngoài ba mươi tuổi mà chưa có điềm sinh con, bèn nói với nhau rằng: “Ông trời chí công, mà sao để cho ta chậm vậy. Hay là đến chùa cầu đảo mới được” lập tức bèn đến chùa chí tâm cầu cúng. Một hôm, vào khoảng quá canh ba, đêm khuya tĩnh mịch, người mẹ bèn đánh thức người chồng dậy, bỗng thấy có một làn hương thơm ngát tỏa khắp nhà hồi lâu chưa tan. Người chồng tỉnh dậy nói: “Bất giác có điều gì mà có điềm triệu như vậy”, người vợ mừng lắm. Người chồng nói, phải chăng “Đêm khuya tĩnh mịch, thiếp được một người phụ nữ mang đến tặng cho một bông hoa cho vợ chồng chúng ta, ta cúi đầu bái tạ và giơ tay nhận lấy”. Người vợ nói: “Thiếp cũng mơ thấy như vậy”. Từ hôm ấy, người vợ có mang, đủ ngày tháng sinh hạ đức Bà. Đức Bà từ nhỏ đã chơi nghịch dị thường, cử chỉ cực kỳ trang nhã, đến khi trưởng thành, đức đủ cả công dung ngôn hạnh. Bà thường theo mẹ đi đến Tràng An buôn bán. Vào một buổi sáng, bà đánh xe ngựa đến Tràng An, nhìn ngó tứ phía rồi buông rèm, nhìn quanh mẹ con chỉ thấy một con đường rồi dừng lại, liệu ai có thể tìm thấy tông tích; bỗng thấy có vị Trung sứ đến truyền rằng, xứ này có một áng mây trắng xuất hiện, mặt trời chiếu báo, người nào phục ở đây, trong giây lát sẽ ứng chỉ; người mẹ bàng hoàng không biết chân tay để vào đâu, chỉ đứng thẳng người hướng về nhà vua mà thờ phụng. Nhà vua nghe xong, cho phép mẹ con trở về quê hương vâng chỉ. Thời gian sau nghe tin bà sinh con trai nhà vua ban sắc mệnh phong bà là “Hoàng phi cung thứ ba. Và được bổng lộc của 72 trang ấp, làm bổng lộc riêng của trang Quả Cảm. Công lao của bà thật to lớn. Thời gian thấm thoát trôi qua, bà bị bệnh mất. Nhà vua khóc lóc và làm lễ an táng truy tặng là “Hoàng hậu”, cho phép dân trang phụng thờ làm phúc thần, sai các quan binh mã, tượng đưa về an lăng, ở địa đầu núi Hoàng Đệ xã Quả Cảm an táng.
Điều đáng chú ý là trong tập Văn tế (Phụng tế thần văn) có ghi lại Tự điển Đại vương duệ hiệu của hai vị thành hoàng là Đức thánh Tam Giang (tức Trương Hống) và duệ hiệu (còn gọi là mĩ tự) của bà Chúa làng Quả Cảm (Đây là điều hiếm có trong lịch sử Việt Nam).
“Tự điển đại vương duệ hiệu:
Sảng trừ khước địch độ ngự hựu trợ vũ đức chiêu cảm, hùng liệt hoàng nghị, linh ứng, uy dũng, anh tín, chương thắng, phụ nghĩa, hiển trung, dực đạo hộ quốc, tĩnh nạn, an dân, bảo hựu, minh triết, thuần ý, khang tế, hựu vận phu khánh, hoằng phúc, gia tích, mậu công, hãn tai, ngự hoạn, phù nghiệp, địch quả, trợ thuận, tuyên hóa, phổ trạch, huệ tế thế phù vận, hậu đức, chí nhân, an nạn, kiến nghĩa, phụ tộ, lệnh đức, quảng thông, kính phu kính thiên, ngưng tổ, triệu mưu, dụ hậu, hậu đức, chí nhân, hồng dân, hậu ân, dực vận tán trị, phổ hóa, khải nghiệp, hoằng mô, tế trị, chí tại, cử minh, an dân, phù quốc, khôi ân, tán trị, phô uy, dũng quả, diễn vận, tế trị, cương quả, phá tại an biên, thành công tế thế, an dân.
... Tế thế an dân, phá tặc an dân, an biên thành công, tế thế an dân, hùng tài, chí nhân, quách quang phấn uy, trợ quốc tế thời, minh doãn trung tiêu, tuy trung, uyên mô, thuần đức, kiện dũng, hoằng nghị, vĩ liệt, huyền hóa, dụ trạch, anh triết, nhu gia hùng tài, thần công, thánh đức, hiển ứng phu hưu, đốc khánh... huân, dực vận diên hưu, hiển thánh, an nghĩa, chiêu linh hiển liệt, chiêu trung, kiệt tiết, trác vĩ, dực bảo, khước địch, thiện hựu, trung hưng đại vương, sắc Tam giang, thiện huệ, hiển nhân, hiển hóa, bát tế, chiêu cảm, phu ứng, hoằng hưu, dực khánh, phổ trạch, tế thế, minh triết, chí nhân, hậu đức, an dân, trợ trị, tuy phúc, diên hưu, trang nhuệ, tĩnh túc, diễn khánh, tuy lộc, phù vận, khoan nhân, đại độ, từ nhân, hùng lược, trung hòa, chính trực, uyên hậu, hiển ứng, hoằng tế, tập hưu, di mưu, thùy dụ, diễn phái, tế thế, trạch dân, đại vương.
Cập Hoàng thái hậu, gia phương, gia dung, đoan trang, thuần ý, cẩn tiết, đoan trang, linh ứng, trinh thục, gia hành, thùy lưu, diễn phúc, trinh thuận, từ tường, phù quốc, chấp đại, từ ái, nhân huệ, u nhàn, tĩnh nhất, uyên đức trừng tĩnh, dương cách, hiển ứng, cung khác, cẩn hậu, ý mĩ, thục thận, thục đức, lệnh nghĩa, phu nhân, nguyên thuộc chính thần, hệ Yên Phong huyện, Quả Cảm xã, tòng tiền phụng sự, kinh hữu lịch triều ban tặng. Tư quốc gia dư đồ hỗn nhất, lễ hữu đăng trật, khả gia tặng mĩ tự tam tự tài vĩ lược đại vương, cập ôn hòa trinh thuận phu nhân. Cố sắc. Gia Long cửu niên lục nguyệt thập ngũ nhật (1809).
Như vậy qua văn tế - thần phả và đặc biệt là qua phần Tự điển duệ hiệu (tức là các mỹ tự của các vị thành hoàng được trích từ các sắc phong của các triều đại ban tặng trong suốt 3 thế kỷ được tổng kết vào năm 1810 chúng ta có thể thấy đây là một công trình nghiên cứu lịch sử của các nhà Nho, các cụ phụ lão ở địa phương, đặc biệt là sự phát triển của Hội tư văn, xã Quả Cảm, tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn vào những năm cuối thế kỷ 18 thế kỷ thứ 19 và đã được sao lại vào nửa đầu thế kỷ thứ 20. Và chúng ta thấy rõ sự biến động của vùng đất văn hóa lịch sử này là rất to lớn. Xứ Kinh Bắc từ xa xưa đã là phên dậu của Thăng Long Hà Nội, mà Yên Phong - Quả Cảm với vị trí hiểm yếu, sông núi (sông Cầu và sông Ngũ Huyện) là cửa ngõ để vào Kinh Bắc; chính vì vậy sự xâm lược phương Bắc trước đây cũng như sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã tác động không nhỏ vào nền văn hóa của dân tộc nói chung và của Kinh Bắc, Yên Phong, Quả Cảm nói riêng. Chính điều đó đã dẫn đến sự xáo trộn rất lớn của các tư liệu Hán Nôm ở đây như thần phả, bi ký...
Do đó, việc gìn giữ nghiên cứu bảo vệ di tích lịch sử văn hóa là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân Việt Nam. Các cụ phụ lão và nhân dân làng Quả Cảm đã làm được điều nói trên để lưu giữ cho con cháu mai sau biết rằng: làng ta thờ các vị Tam Giang Trương Hống, Trương Hán và Bà Chúa Quả Cảm tức đức vua Bà.
Tuy nhiên một vấn đề được đặt ra trong quá trình nghiên cứu tập văn tế làng Quả Cảm: Đức vua Bà là ai? Rất may trong lưu trữ của Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam còn lưu giữ được: “Bản kê sự tích Đức thánh làng Quả Cảm, tổng Châm Khê, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh năm 1938. Và bản kê sự tích của làng Viêm Xá (tên Nôm là làng Diềm) cùng tổng Châm Khê thời gian đó”(3).
Đặc biệt trong báo cáo của làng Viêm Xá đã liệt kê rất đầy đủ các sắc phong:
- Vĩnh Thịnh lục niên | (1710) |
- Vĩnh Khánh nhị niên | (1710) |
- Chính Hòa tứ niên | (1683) |
- Cảnh Hưng nguyên niên | (1740) |
- Cảnh Hưng nhị thập bát niên | (1767) |
- Cảnh Hưng tứ thập tứ niên | (1783) |
- Chiêu Thống nguyên niên | (1787) |
- Quang Trung ngũ niên | (1792) |
- Cảnh Thịnh nguyên niên | (1793) |
- Bảo Hưng nhị niên | (1802) |
- Minh Mạng nhị niên | (1821) |
- Thiệu Trị tứ niên | (1844) |
- Tự Đức tam niên | (1850) |
- Tự Đức tam thập tam niên | (1880) |
- Đồng Khánh nhị niên | (1887) |
- Thành Thái tam niên | (1891) |
- Duy Tân tam niên | (1909) |
Khải Định nhị niên (tặng phong một vị thần Giáp Ngọ) (1917)
* Về đời vua Khải Định tứ niên (1919) tặng 5 vị 5 sắc phong:
- Đức thánh Tam Giang |
- Đức thánh Nam Hải |
- Đức thánh Đô Thống |
- Đức thánh Giáp Ngọ |
- Đức thánh Ngũ Vị |
Các vị trên đều có trong bản văn tế của làng Quả Cảm.
Trong báo cáo cũng ghi rõ ràng làng Hữu Chấp và làng Viêm Xá cùng chung nhau lập nghè thờ Đức thánh Tam Giang. Ngày mồng Sáu tháng Tám là ngày kị nhật của đức Giáp Ngọ.
Và theo như kết quả nghiên cứu gần đây ở địa phương thì làng Viêm Xá cũng thờ vua Bà là thủy tổ của quan họ(4).
- Vị Nam Hải thờ ở đền.
Đức Đô Thống thờ ở nghè riêng.
Đức Giáp Ngọ thờ ở đình (Thành hoàng Bản Thổ)
Đức Ngũ Vị thờ ở chùa.
Và ngày mồng Sáu tháng Tám là ngày kỵ nhật của đức Giáp Ngọ (trong báo cáo của làng Quả Cảm gửi lên Viện Viễn Đông Bác cổ thì ngày mồng Sáu tháng Tám là ngày Đại kỳ phước toàn dân dự.
Điều này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các làng xã thuộc tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn thế kỷ thứ XVIII, XIX và huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn đầu thế kỷ XX với thời điểm trên trong việc thờ Bà Chúa làng Quả Cảm và đức thánh Tam Giang. Vì hệ thống sắc phong gần như tương đồng, (qua tự điển duệ hiệu) của các vị thánh đã thể hiện trong Văn tế của làng Quả Cảm.
Chúng tôi đã tra cứu và thấy rằng: Giáp Ngọ chính là năm sinh của Bà Chúa Quả Cảm - Đức vua Bà theo thần phả tức là năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 4 (1235) đời vua Trần Thái Tông (Cảnh) (1225-1258).
Điều này là hoàn toàn chính xác khi chúng ta so sánh, đối chiếu những tư liệu Hán Nôm của 2 làng Quả Cảm và Viêm Xá (qua văn tế, sắc phong, báo cáo của làng xã năm 1938).
Như vậy đức Giáp Ngọ, đức vua Bà là một và nếu như làng Viêm Xá thờ bà thủy tổ quan họ (theo kết quả nghiên cứu hiện nay ở địa phương) thì bà cũng là thủy tổ của làng Quả Cảm.
Chú thích:
(1) Theo nguyên văn là Phụng tế thần văn (tài liệu lưu trữ tại thôn Quả Cảm, xã Hòa Long. Tp. Bắc Ninh. Theo địa danh hành chính hiện nay).
(2) Vì phần phiên âm quá dài, xin được trích dẫn phần dịch nghĩa.
(3) Tài liệu lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội và Ban Lịch sử Địa phương - Viện Sử học.
(4) Trích Lịch sử Đảng bộ xã Hòa Long, Đảng ủy, UBND xã Hòa Long xuất bản năm 1998, tr.126-127./.