25. Thêm một dị bản Đại Nam quốc sử diễn ca.
THÊM MỘT DỊ BẢN
ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
LÃ MINH HẰNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong công trình nghiên cứu về Đại Nam quốc sử diễn ca (ĐNQSDC), Hoàng Xuân Hãn đã khẳng định một cách chính xác rằng “Sách này không phải do một tác giả làm ra, mà cũng không phải do nhiều tác giả cùng nhau làm trong một lúc. Chính là do một bản cũ mà nhiều người sửa chữa nhiều lần. Cho đến tên sách, mỗi lúc sách chữa thì tên cũng đổi”. Ông cũng cho biết rằng trước khi đi tới thành hình ĐNQSDC đã có nhiều bản sử ca khác nhau có khá nhiều liên hệ với tác phẩm. Bởi vậy, việc tìm hiểu lai lịch của ĐNQSDC là vấn đề không đơn giản. Vấn đề này đã tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu đi trước. Vào khoảng những năm đầu của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu của Trần Văn Giáp(1), của Hoàng Xuân Hãn(2) và sau đó là của Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên(3) đã tập trung khảo cứu về các truyền bản của ĐNQSDC.
Dựa vào các ghi chép trong Đại Nam thực lục chính biên và các văn bản đang lưu giữ ở tư gia gần đây, ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng: 1. Sự sai khác về nội dung và số câu được ghi trong Lịch đại Nam sử quốc âm ca (gọi tắt là bản Lịch đại) (1884 câu) và Việt sử quốc ngữ (gọi tắt là bản Việt sử) (1916 câu) đã “chứng rằng bản trên (bản Lịch đại) là có người do bản dưới (bản Việt sử) mà dụng công sửa lại” 2. Đối chiếu những câu tương đương nhưng khác nhau ở Lịch đại và Việt sử với ĐNQSDC, ông cho rằng bản Phạm Đình Toái dùng là một bản trung gian (bản Lê Ngô Cát) giữa hai bản Lịch đại và Việt sử. Cuối cùng, ông đã đưa ra kết luận sau:
1. Năm Tự Đức thứ 8 (1855) vua sai sử thần soạn sách Việt sử và sai tìm sách cũ để tra cứu. Một học trò người Bắc Ninh dâng quyển Sử ký quốc ngữ ca, có lẽ tức là quyển Thiên Nam ngữ lục (1857).
2. Năm Tự Đức thứ 11 (1858) vua sai sử thần chữa sách ấy và thêm đoạn sử Lê - Trịnh. Các ông Lê Ngô Cát và Trương Phúc Hào được sung vào việc ấy và soạn ra sách Việt sử quốc ngữ (1860).
3. Ông Phạm Xuân Quế có nhuận sắc, bỏ bớt 29 câu và chữa nhiều câu, nhiều chữ thành một quyển mà ta đặt tên là Việt sử quốc ngữ nhuận chính.
4. Có người lại sửa chữa quyển nhuận chính này bớt 3 câu và đổi nhiều chữ, làm ra sách Lịch đại Nam sử quốc âm ca.
5. Vào khoảng năm 1865, ông Phạm Đình Toái tự ý đem bản nhuận chính trên mà chữa rất kỹ càng, rút từ 1887 câu xuống 1027 câu, thành ra sách Đại Nam quốc sử diễn ca (1870).
"Phạm Đình Toái đã sửa từ 1887 câu xuống còn 1027 câu(4), đó là một thực tế. Nhưng điều đó không có nghĩa là bản ít câu hơn (bản Lịch đại - 1884 câu) phải có sau bản của Lê Ngô Cát (1887 câu). Rất có thể cả hai bản Việt sử và Lịch đại đều có sau bản Lê Ngô Cát, cũng không loại trừ khả năng bản Lịch đại là bản nháp trước khi Lê Ngô Cát chính thức trình làng tác phẩm của mình. Rất tiếc, chúng tôi không có trong tay hai văn bản được lưu giữ ở tư gia này nên không thể đưa ra một nhận định chắc chắn".
Tiến hành khảo sát các dị bản ĐNQSDC, chúng tôi đã dựa trên 29 văn bản khác nhau được lưu giữ ở 4 thư viện lớn của Hà nội nhằm đưa đến cho bạn đọc một cách nhìn tổng quan về hệ thống văn bản này(5). Bốn trong số năm dị bản chép tay của sách cũng sẽ được giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm(6). Lần này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu văn bản chép tay cuối cùng - bản Việt sử quốc ngữ.
1. Hình thức
Bản Việt sử quốc ngữ(7), ký hiệu AB.6, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (gọi tắt là bản AB.6). Sách đóng bìa cậy và được bảo quản khá tốt, nội dung viết trên giấy lệnh khổ 23x2,5cm. Ở mặt sau của tờ giấy lót thứ 3 (phần bìa 2) có ghi “phàm quốc hiệu gia: 4, phàm nhân tính danh gia: 1, phàm địa danh gia: 4, phàm quan tước gia….. (quốc hiệu cho thêm 4, tên họ người cho thêm 1, địa danh cho thêm 4, quan tước cho thêm.....). Phần diễn ca (có kèm thêm cả phần chú thích bằng chữ Hán được viết nhỏ ở trên) được viết ngay tờ tiếp sau (tờ 1 quyển 1). Sách chép hai mặt, mỗi mặt có 9 dòng chữ. Đầu mỗi quyển đều ghi tên sách là Đại Nam sử ký quốc ngữ. Ví dụ dòng thứ nhất của tờ 1a (quyển 1) có ghi dòng chữ Đại Nam sử ký quốc ngữ quyển chi nhất (Đại Nam sử ký quốc ngữ quyển thứ nhất). Điều đáng lưu ý là ở phần mép gấp giữa hai mặt a và b của sách lại ghi tên sách là Việt sử quốc ngữ, giống như tên được ghi ở ngoài bìa cậy của sách (chứ không phải là Đại Nam sử ký quốc ngữ như ở đầu mỗi quyển)(8).
Sách gồm có 4 quyển, diễn ca lịch sử từ thời Hồng Bàng đến thời Lê Thần Tông (chép đến việc tôn phù Lê Duy Tường lên ngôi), tương đương với câu 821 (52b, 2) của bản AB.1(9). Tình hình phân bố như sau:
Quyển 1: từ tờ 1a đến 20a, gồm 365 câu, chép từ đời Hồng Bàng đến hết chuyện bà Triệu. Tương đương với hết câu 201 của AB.1 (13b, 2). Quyển 1 có hai tờ 4.
Quyển 2: từ tờ 1a đến 21a, gồm 365 câu (từ câu thứ 366 đến câu thứ 730), chép từ thời thuộc Ngô đến 12 sứ quân chiếm đóng các nơi. Tương đương với hết câu 374 của bản AB.1 (24a, 7).
Quyển 3: từ tờ 1a đến 27a. Trong đó phần diễn ca nội dung chính từ 1a đến 24a; từ 24b đến 27a là phần chú thích. Quyển 3 gồm có 419 câu (từ câu thứ 731 đến câu thứ 1149), chép từ chuyện Đinh Bộ Lĩnh đến cuối thời thuộc Minh. Tương đương với hết câu 621 của bản AB.1 (39b, 6).
Quyển 4: từ tờ 1a đến tờ 23a, gồm 404 câu (từ câu thứ 1150 đến câu thứ 1553), chép từ lúc Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa đến lúc Trịnh Giang chuyên quyền. Tương đương với hết câu 821 của bản AB.1 (52b, 2).
Hai văn bản AB.1 và AB. 6 có sự tương đồng khá lớn về nội dung cốt chuyện. Dõi theo sự phân quyển của bản AB.6, chúng tôi đã tiến hành phân ngắt các đoạn trong bản AB.1. Công việc được hệ thống hoá ở bảng sau:
Bảng 1 : So sánh phân quyển của bản AB.6 với bản AB.1
Văn bản | quyển 1 | quyển 2 | quyển 3 | quyển 4 | quyển 5 | tổng số |
AB.6 | 365 câu (từ câu 1 đến 365) | 365 câu (từ câu 366 đến câu thứ 730) | 419 câu (từ câu 731 đến câu thứ 1149) | 404 câu (từ câu 1150 đến câu thứ 1553 | Không có | 1553 câu |
AB.1 | 201 câu | 173 câu (từ câu 202 đến câu thứ 374) | 247 câu (từ câu 375 đến câu thứ 621) | 200 câu (từ câu 622 đến câu thứ 821) | (822- 1027) | 1027 câu |
2. Nội dung ghi chép
"Nếu đem so sánh từng câu, từng đoạn của bản AB. 6 với bản AB.1 (bản Phạm Đình Toái đưa in năm 1870) thì thấy có sự tương ứng khá đều đặn: các sự kiện lịch sử được diễn ca ở bản AB. 6 đều lần lượt xuất hiện trong bản AB.1. Khác với bản AB.6, từ ngữ dùng trong bản AB.1 có phần chải chuốt hơn, ở nhiều đoạn đã thấy có sự chỉnh sửa thêm bớt câu, ngữ đoạn. Có thể nói, sự khác nhau lớn nhất giữa hai văn bản này là khác nhau giữa một bên là sự ngắn gọn nhưng vẫn đủ ý, đủ việc của bản AB.1 với một bên là những câu, những đoạn dài lê thê của văn bản AB.6. Xin đơn cử một vài ví dụ của sự sửa chữa
1.1.Sửa chữa đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên số câu, số chữ. Ví dụ:
a. Sửa vế bát, nhưng vẫn giữ nguyên vế lục ở câu nói về Lạc Long Quân:
“Lạc Long lại sánh Âu Cơ
Con vua Âu Lạc phải nghì lửa hương” (AB.6)
và ở bản AB.1:
“*Lạc Long lại sánh Âu Cơ
Trăm trai điềm ứng hùng bi lạ dường” (AB.1)
Ở bản AB.1, vế 6 được giữ nguyên như bản AB.6, vế này cũng đã được đánh dấu * ở đầu câu biểu thị sự giữ nguyên(10).
b. Đoạn nói về Phù Đổng, hai văn bản đã có cách giới thiệu khác nhau về nhân vật nhưng vẫn đảm bảo số câu của văn bản:
“Làng Phù Đổng có nhà giàu
Giữ nền phúc hậu theo màu từ bi
Muộn màng sinh một nam nhi
Đã ba tuổi chẳng nói gì lạ sao” (AB.6)
còn ở bản in của Phạm Đình Toái thì:
“Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói chẳng cười chơ chơ
Những ngờ oan trái bao giờ
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân” (AB.1)
2.2. Sửa chữa nội dung, thêm bớt câu, đoạn:
a. Ở đoạn Phù Đổng thưa chuyện với sứ giả, đã thấy có sự sai khác về nội dung và số câu của văn bản:
“Xảy nghe thiên sứ đi rao
Ngồi lên thưa mẹ mời vào hỏi han
Sứ về tâu trước long nhan
Gươm vàng ngựa sắt vâng ban đệ vào” (AB.6)
còn ở bản AB.1 lại diễn ca có phần tỉ mỉ hơn và số câu cũng nhiều hơn:
“Nghe vua cầu tướng ra quân
Thoắt ngồi thoắt nói muôn phần kích ngang
Lời thưa mẹ dạ cần vương
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh
Sứ về tâu trước Thiên đình
Gươm vàng ngựa sắt đề binh tiến vào” (AB.1)
b. Ở nhiều đoạn đã thấy có sự sửa chữa khá nhiều: đoạn thần kim quy giúp vua Thục xây thành là một ví dụ. Đoạn này, bản AB.6 diễn ca dài tới 16 câu, nhưng ở bản AB.1 đã sửa chữa, rút gọn chỉ còn có 4 câu:
“Ngày xuân trong tiết tháng hai
Thoắt đâu trông thấy một người qua chơi
Đứng trông khúc khích mỉm cười
Việc này xây đắp biết đời nào xong
Muốn cho trọn việc thổ công
Chờ thanh giang sứ tỏ trong sự tình
Sáng mai giá ngự ra thành
Kim quy đâu bỗng hiển linh tới liền
Thưa rằng yêu khí sơn xuyên
Ẩn non Thất Diệu gần miền không xa
Lại thêm con hát thành ma
Lại tính đông nữ, lại tà bạch kê
Rủ nhau quấy hại nhiều bề
Chưa hay trừ hết chưa hề nên công
Nghe lời như cởi tấm lòng
Thần quy hộ giá mới cùng dạo qua
Giả hình vào trú một nhà
Có người quân chủ tên là Ngộ Không
Đêm nghe tiếng rộn dường ong
Chạy vào gõ cửa toan hòng trêu ngươi
Thần quy quát mắng vang trời
Đuổi xua một lúc đến nơi chân ngàn
Trở về nhà quán hỏi han
Giết con gà mái trừ đoàn nữ yêu
Rồi ra đào dưới chân đèo
Nào sênh, nào phách, nào tiu, nào đàn
Nào là khô cốt chưa tàn
Kiếp khôi phó ngọn lửa tan bời bời
Loài yêu từ ấy bặt hơi
Thành Loa đắp nửa tháng trời mà xong
Kim quy xin lại thủy cung
Thục Vương cảm tạ tấm lòng hiệu linh” (AB.6)
Ở AB.1 thì đã thấy lược bỏ đi rất nhiều câu thừa, những câu thần kim quy nói cho vua Thục biết lý do tại sao thành xây không được, nói cho vua biết cách trừ yêu tinh đã diễn ca quá dài dòng. Những câu này đều không thấy trong bản AB.1:
“Thục Vương thành ý khẩn cầu
Bỗng đâu giang sứ hiện vào kim quy
Hoá ra thưa nói cũng kỳ
Lại tường cơn cớ bởi vì yêu tinh
Lại hay phù phép cũng linh
Vào rừng sát quỷ đào thành trừ hung
Thành xây nửa tháng mà xong
*Thục Vương cảm tạ tấm lòng hiệu linh” (AB.1)
Cũng vậy, đoạn Triệu Văn Vương thân chinh đi đánh Tràng Sa Vương là một đoạn dài lê thê, dài tới 18 câu (từ 8b, 4 đến 9b, 3) ở AB.6 cũng đã được chỉnh sửa gọt dũa chỉ còn có 5 câu (từ 8a, 2 đến 8a, 6) ở bản AB.1.
Đoạn kể về Phục Ba dài 12 câu ở bản AB.6 (từ 14a, 5 đến 14b, 7) cũng đã được rút gọn chỉ còn có 4 câu ở bản AB.1 (từ 10b, 2 đến 10b, 5).
2.3. Thêm câu
Một số đoạn đã được Phạm Đình Toái thêm vào khi nhuận chính, ví dụ đoạn nói về Vua Hùng, bản AB.6 chỉ ghi là:
“Hùng Vương ra ở Châu Phong
Thu ngoài Âu Việt vào trong thê hàng
Đặt tên là nước Văn Lang
Chia mười lăm bộ, bản chương cũng dày
Dần dần phép tắc đã hay
Vua rày có hiệu, quan rày có tên
Lạc hầu là tướng điều nguyên
Võ là lạc tướng chức chuyên nhung trù” (AB.6)
nhưng ở AB.1 lại có thêm một đoạn khá dài nói về cương giới nước ta thời đó:
“Hùng Vương đô ở Châu Phong
Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang
*Đặt tên là nước Văn Lang
*Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền
Phong Châu, Phúc Lộc, Châu Diên
Nhẫn trong địa chí về miền Sơn Tây
Định, Yên, Hà Nội đổi thay
Ấy châu Giao Chỉ xưa nay còn truyền
Tân Hưng là cõi Hưng Tuyên
Vũ Ninh tỉnh Bắc, Dương Tuyền tỉnh Đông
Thái, Cao hai tỉnh hỗn đồng
Ấy là Vũ Định tiếp cùng biên manh
Hoài Hoan Nghệ, Cửu Chân Thanh
Việt Thường là cõi Trị, Bình, Trung Châu
Lạng là Lục Hải thượng du
Xa khơi Ninh Hải thuộc vào Quảng Yên
Bình Văn, Cửu Đức còn tên
Mà trong cương giới sơn xuyên chưa tường
Trước sau đều gọi Hùng Vương
Vua thường nối hiệu quan thường nới tên” (AB.1)
2.4. Giữ nguyên câu chữ và nội dung
Bản AB.1 đã thấy sửa chữa nhiều so với bản AB.6 như đã thấy ở trên. Tuy vậy, cũng có nhiều đoạn của bản AB.1 đã được giữ nguyên như ở bản AB.6. Có thể thấy rõ điều này ở đoạn nói về Đồ Thư và Sử Lộc:
“Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam
Châu cơ muốn nặng túi tham
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi
Lĩnh Nam mấy chốn biên thùy
Quế Lâm, Tượng Quận thu về bản chương
Đặt ra úy lịnh rõ ràng
Họ Nhâm, họ Triệu sai sang giữ gìn
Hai người thống thuộc đã quen
Long Xuyên, Nam Hải đôi bên lấn dần
Chia nhau thủy bộ hai quân
Tiên Du duổi ngựa, Đông Tân đỗ thuyền
Thục Vương có nỏ thần truyền
Muôn quân buông một lượt tên còn gì
Nhâm Ngao mắc bệnh trở về
Triệu Đà lại khiến sứ đi xin hòa
Bình Giang rạch nửa sơn hà”
(AB.6, quyển 1, 6a, 9)
và ở bản AB.1 cũng ghi với nội dung như vậy:
*Bấy giờ gặp hội cường Tần
*Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam
*Châu cơ muốn nặng túi tham
*Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi
*Lĩnh Nam mấy chốn biên thùy
*Quế Lâm, Tượng Quận thu về bản chương
*Đặt ra úy lịnh rõ ràng
*Họ Nhâm, họ Triệu sai sang giữ gìn
*Hai người thống thuộc đã quen
*Long Xuyên, Nam Hải đôi bên lấn dần
*Chia nhau thuỷ bộ hai quân
*Tiên Du duổi ngựa, Đông Tân đỗ thuyền
*Thục Vương có nỏ thần truyền
*Muôn quân buông một lượt tên còn gì
*Nhâm Ngao mắc bệnh trở về
*Triệu Đà lại khiến sứ đi xin hòa
*Bình Giang rạch nửa sơn hà. (AB.1)
Ở bản AB.1, tất cả các câu trong đoạn này đều có dấu khuyên tròn (ở đây được đánh dấu *) ở đầu câu biểu thị giữ nguyên, không sửa chữa. Sự sai khác giữa hai văn bản này là ở câu cuối cùng: thay chữ kim đồng ở AB.6 bằng chữ tiên đồng ở bản AB.1, thay chữ phải duyên ở AB.6 bằng chữ duyên ưa ở bản AB.1.
"Với những dẫn chứng trên cho phép khẳng định bản AB. 6 là bản đã được Phạm Đình Toái tham khảo khi nhuận sắc tác phẩm.
Nghiên cứu lai lịch của tác phẩm, Hoàng Xuân Hãn đã dẫn ra hai bản quốc sử viết bằng ca quốc âm được tìm thấy ở tư gia - đó là Lịch đại Nam sử quốc âm ca và Việt sử quốc ngữ. Ông đã đối chiếu những câu tương đương và đặc biệt là đối chiếu tổng số câu được ghi ở hai văn bản để chứng minh rằng bản Lịch đại đã được sửa chữa từ bản Việt sử. Chúng tôi không chủ trương vậy; vì nếu chỉ dựa vào tổng số câu để khảo sát thì bản AB.6 (chỉ có 1553 câu) sẽ có sau hai bản tư gia nêu trên (nghĩa là công việc nhuận sắc được tiến hành theo kiểu gọt dũa dần dần các câu chữ của văn bản theo như ông Hãn đã diễn giải). Điều đó cũng có nghĩa là AB.6 sẽ là bản gần với bản in năm 1870 nhất (gần hơn cả hai bản tư gia nêu trên). Điều chúng tôi quan tâm khi nghiên cứu truyền bản của tác phẩm chính là nội dung câu chữ được ghi lại trong đó.
Ông Hãn còn cho rằng bản Lê Ngô Cát nhuận chính là bản trung gian giữa hai bản Lịch đại Nam sử quốc âm ca và Việt sử quốc ngữ. Việt sử quốc ngữ là tên gọi cuốn sách tìm được ở tư gia mà ông Hãn đã giới thiệu, đồng thời đây cũng là đầu đề cuốn sách được giới thiệu ở đây - bản AB.6. Phải chăng AB.6 chính là bản tư gia mà ông Hãn đã giới thiệu ? Chúng tôi đã tiến hành đối chiếu một số câu của cả ba văn bản Lịch đại Nam sử quốc âm ca, Việt sử quốc ngữ(11) và bản AB.6 với bản AB.1 thì thấy:
é Đoạn kể về Hùng Vương, có câu
“Vũ là Lạc tướng giữ quyền quân cơ” (bản Việt sử)
nhưng bản Lịch đại và bản AB.6 đều ghi là
“Vũ là Lạc tướng chức chuyên nhung trù” (Lịch đại) và (AB.6)
Câu này ở bản của Phạm Đình Toái thấy ghi giống như bản Việt sử. Như vậy, AB.1 đã dựa theo bản Việt sử để sửa chữa ?
é Đoạn nói về bà Triệu Ẩu, bản Việt sử có ghi:
“Phất phơ dải yếm vắt lưng” (bản Việt sử)
Bản AB.6 đã diễn câu này là “Vú dài ba thước vắt lưng” (AB.6) và Phạm Đình Toái đã đổi thành “Vú dài ba thước, tài cao muôn người” (AB.1).
Ở câu này, cả ba văn bản đều diễn ca không giống nhau, nhưng đều có ít nhiều liên hệ với nhau. Bản AB.6 và Việt sử đều có chung chi tiết “vắt lưng”, nhưng là cái gì vắt lưng, thì ở bản Việt sử có phần né tránh. Cảm thấy chỉ diễn là “phất phơ dải yếm” thì không sát với phần dịch chữ Hán, nên bản AB.6 đã có sự điều chỉnh như đã thấy. Đến lượt Phạm Đình Toái, ông đã giữ nguyên chi tiết “Vú dài ba thước” nhưng đã có sự chỉnh sửa đôi chút ở vế sau của câu 8 cho lời thơ có phần thi vị hơn. Như vậy ở câu này, bản AB.1 đã diễn ca có phần giống với bản AB.6 nhiều hơn.
é Câu nói về việc Phù Đổng sau khi dẹp xong giặc bay về Trời, bản Việt sử ghi là:
“Tướng thần hóa phép xung Thiên
Áo nhung cởi lại treo miền Vệ Linh” (Việt sử)
Hai bản Lịch đại và AB.6 có diễn ca giống nhau nhiều hơn:
“Áo nhung cởi lại Linh sơn
Lâng lâng thoát nợ trần hoàn lên tiên” (bản Lịch đại)
và: “Áo nhung cởi lại Linh sơn
Nhởn nhơ thoát nợ trần hoàn lên tiên” (AB.6)
Đối chiếu chi tiết này với bản AB.1 thì thấy Phạm Đình Toái đã diễn ca tương đối giống hai văn bản Lịch đại và AB.6:
“Áo nhung cởi lại Linh sơn
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên” (AB.1)
Qua 3 ví dụ trên thì thấy bản AB.1 lúc thì diễn ca giống bản Việt sử, lúc thì diễn ca giống như bản Lịch đại, lại có khi nghiêng hẳn về văn bản AB.6. Điều này làm cho chúng tôi nghĩ đến khả năng Phạm Đình Toái đã tham khảo cả ba cuốn trên để chỉnh sửa.
Vài lời nhận xét
Qua các cứ liệu khảo cứu ở trên, chúng tôi xin đưa ra một vài nhận xét về thực trạng văn bản ĐNQSDC như sau:
1. Các ghi chép về tên sách được nộp vào viện tập hiền trong Đại Nam thực lục chính biên(12)đệ tứ kỉ là không thống nhất: quyển 16 ghi học trò người Bắc Ninh nộp “sử quốc ngữ nhất bộ” (quyển 16, 46b, 1). Đến quyển 18 lại ghi việc sai Phan Thanh Giản và Phạm Huy chọn người giỏi quốc âm để sửa “sử ký quốc ngữ ca”, các ông Lê Ngô Cát và Trương Phúc Hào được cử làm việc đấy (quyển 18, 18a, 5).
2. Các nghiên cứu của ông Hãn đều nhắc đến Thiên Nam ngữ lục, ông cho rằng người học trò dâng quyển Sử ký quốc ngữ ca, có lẽ chính là Thiên Nam ngữ lục. Chúng tôi chưa tìm thấy văn bản nào có tên Sử ký quốc ngữ ca nên không dám khẳng định có mối liên hệ nào đó giữa bản dâng vào viện tập hiền với Thiên Nam ngữ lục.
1. Đúng như ông Hãn đã khẳng định rằng “ĐNQSDC không phải do một người làm ra”, rằng “sách được sửa chữa nhiều lần và mỗi lần sửa thì tên cũng thay đổi”. Cho đến nay có ba văn bản khác nhau(13)có nhiều điểm tương đồng với ĐNQSDC, có khả năng chúng là những văn bản đã được Phạm Đình Toái tham khảo khi chỉnh sửa tác phẩm.
Sử sách cũ và các khảo cứu về ĐNQSDC đều có nhắc đến những người tham gia sửa chữa sử cũ: Lê Ngô Cát và Trương Phúc Hào được sung vào việc sửa chữa sử cũ, công việc xong xuôi thì có đưa cho Phạm Xuân Quế góp thêm nhiều ý kiến. Vậy phải chăng ba văn bản nêu trên là những văn bản lưu lại bút tích của các ông ?
Với những gì còn có thể tận mắt nhìn thấy, bản AB.6 thực sự là một văn bản quý trong đó lưu lại bút tích của những người tham gia sửa chữa sử cũ.
2. Bản AB.6 chỉ diễn ca đến phần Lê Duy Tường. Đinh Xuân Lâm nhận định quyển 4 của bản này “không đủ, chỉ còn 404 câu, chép từ lúc Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa đến lúc Trịnh Giang chuyên quyền. Đúng ra phải còn đoạn cuối với nội dung đề cao triều Nguyễn”(14). Đối chiếu sự phân quyển (độ dài tương đối của 1 quyển) của bản AB.6 với bản AB.1 chúng tôi thấy phần thiếu có độ dài tương đương với 1 quyển. Hơn nữa, quyển 4 diễn ca đến hết dòng 4 của tờ 23a (xem ảnh chụp số 4), sự ngắt đoạn này cho phép khẳng định bản 4 chỉ diễn đến đó. Như vậy, phần thiếu chính là quyển 5, có lẽ vì một lý do nào đó quyển 5 đã bị thất lạc khi đóng quyển. Như vậy, nếu còn cả quyển 5 thì bản AB.6 phải có độ dài tương đương với văn bản Việt sử quốc ngữ mà ông Hãn giới thiệu(15).
Dòng chữ “phàm quốc hiệu gia: 4, phàm nhân tính danh gia: 1, phàm địa danh gia: 4, phàm quan tước gia….” được ghi ở tờ bìa 2 cho phép ta nghĩ đến khả năng đây là lời ghi lại kết quả của quá trình sửa chữa sử cũ.
Tên sách của bản AB.6 cũng được ghi khác nhau như trên đã mô tả. Nếu đem so sánh với tên gọi của sách được nộp vào viện tập hiền thì thấy có mối liên hệ khá thú vị: tên sách ghi ngoài bìa cậy của bản AB.6 và tên sách được ghi ở quyển 16 sách Đại Nam thực lục chính biên chỉ khác nhau ở chỗ bản AB.6 đã cho thêm chữ “Việt” vào phía trước:
- Đại Nam thực lục chính biên (quyển 16) ghi tên sách là Sử quốc ngữ
- AB.6 ghi tên sách là Việt sử quốc ngữ (ghi ngoài bìa và phần mép gập)
So với tên sách được ghi ở quyển 18, tên sách ghi ở trang đầu các quyển của bản AB.6 đã cho thêm quốc hiệu “Đại Nam” ở phía trước:
- Đại Nam thực lục chính biên (quyển 18) ghi tên sách là Sử ký quốc ngữ ca
- AB. 6 ghi tên sách là Đại Nam sử ký quốc ngữ (ghi ở trang đầu các quyển)
Tôi ngờ rằng cũng giống như bản AB.6, bản dâng vào viện tập hiền cũng có hai tên gọi: tên ghi ngoài bìa và tên ghi trong sách. Lê Ngô Cát khi nhận sửa chữa sử cũ đã sửa cả tên sách bằng cách cho thêm tên nước và quốc hiệu lên phía trước. Nếu khả năng này xảy ra thì rất có thể AB. 6 chính là bản của Lê Ngô Cát. Lúc đó AB. 6 sẽ giữ vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu quá trình nhuận sắc tác phẩm ĐNQSDC.
*
**
Các tác gia Hán Nôm khi xưa không có ý thức về quyền tác giả, rất nhiều văn bản không lưu lại tên người trứ tác, người chép sách hay người nhuận sắc. Điều này đã gây không ít khó khăn cho thế hệ sau muốn tìm hiểu các tác phẩm đời trước.
Tác giả hai văn bản Lịch đại và Việt sử là ai, có phải là của Trương Phúc Hào và Phạm Xuân Quế hay không ? điều này khó có thể khẳng định chắc chắn. Xong tạm ghi nhận kết quả khảo sát của ông Hãn về sự tồn tại của hai văn bản tư gia nêu trên, chúng tôi nhận định đã có ba văn bản đều trực tiếp được Phạm Đình Toái sử dụng khi nhuận sắc tác phẩm.
Bước đầu khảo cứu đã sơ bộ cho phép chúng tôi có những nhận định nêu trên, chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Rất mong được quý vị độc giả chỉ chính cho.
Chú thích:
(1) Trần Văn Giáp: “Ai làm ra sách Đại Nam quốc sử diễn ca”, Tập san Trí tri, số 3 năm 1934.
(2) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam quốc sử diễn ca, trọn bộ từ Hồng Bàng đến Nguyễn Tây Sơn, Hoàng Xuân Hãn tựa và dẫn, H. Sông Nhị, 1952, 232 tr. (loại văn cổ).
(3) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam quốc sử diễn ca, Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên phiên âm, hiệu đính, chú thích và giới thiệu, H. Văn học, 1966, 323 tr.
(4) Trong bài viết này, cũng giống như các khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn, mỗi câu được tính gồm một vế lục bát.
(5) Lã Minh Hằng: “Văn bản Đại Nam quốc sử diễn ca” hiện lưu giữ tại các thư viện ở Hà Nội” Tạp chí Hán Nôm, số 4/2004.
(6) Trong số 29 bản, có 5 bản chép tay. Chúng tôi đã chọn 4 trong số 5 văn bản chép tay đó để ưu tiên khảo luận trước trong một nhan đề “Bước đầu tìm hiểu việc nhuận sắc Đại Nam quốc sử diễn ca”. Bài viết đã gửi đăng Tạp chí Hán Nôm, năm 2006.
(7) Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên trong công trình khảo cứu về ĐNQSDC đã giới thiệu toàn văn bản phiên ra quốc ngữ của cụ Trần Lê Hữu. Xem Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam quốc sử diễn ca, sđd.
(8) Xin tham khảo bản chụp trang bìa; phần mép gấp giữa tờ a và b; trang đầu, trang bìa 2 và trang cuối của sách Việt sử quốc ngữ ở cuối bài viết.
(9) Đây là ký hiệu sách Đại Nam quốc sử diễn ca (bản chữ Nôm) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bản in năm Tự Đức thứ 23 (1870).
(10) Phạm Đình Toái trong lời tựa sách ĐNQSDC đã ghi “phàm những câu nào là trích dùng nguyên tác đều khuyên thêm ở đầu câu để tỏ ghi riêng”.
(11) Hai văn bản này chúng tôi không có. Tạm thừa nhận có sự tồn tại của hai văn bản này như ông Hãn giới thiệu, chúng tôi xin lấy những câu dẫn trong sách của ông Hãn để làm cứ liệu chứng minh ở đây. Xem Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam Quốc sử diễn ca, Sđd.
(12) Đại Nam thực lục chính biên (bản chữ Hán), kí hiệu A.27/54 (quyển 16) và A.27/55 (quyển 18), Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(13) Đó là Lịch đại Nam sử quốc âm ca, Việt sử quốc ngữ (bản tư gia do ông Hãn giới thiệu) và bản Việt sử quốc ngữ, ký hiệu AB.6 được giới thiệu ở đây.
(14) Xem Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên, Sđd, tr.16.
(15) Ông Đinh Xuân Lâm đoán rằng Đại Nam sử ký quốc ngữ chính là cuốn Lịch đại mà ông Hoàng Xuân Hãn đã giới thiệu. Có lẽ ông Lâm đã dựa vào sự tương ứng về số câu của hai văn bản (LMH), xem Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên, Sđd, tr.17./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.256-274)