VI | EN
25. Từ văn bia Hà Nội, góp phần tìm hiểu vị trí Thăng Long thành (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

TỪ VĂN BIA HÀ NỘI

GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỊ TRÍ THĂNG LONG THÀNH

ĐỖ THỊ HẢO

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong kho tàng di sản Hán Nôm Việt Nam, có một khối lượng văn bia khá lớn được khắc (đục) trên đá, gỗ, gốm, đồng… trong đó có những tấm bia đá không chỉ nhiều về số lượng mà còn hàm chứa nội dung phong phú và đa dạng. Có lẽ do tính bền vững của chất liệu nên bia đá còn lưu truyền được rất lâu dài, và hàm chứa độ tin cậy cao, dân gian đã có câu: “Khôn văn tế, dại văn bia”. Hiện những tấm bia cổ nhất còn lưu giữ được là bản văn khắc trên bia đá Đại Tùy Cửu Chân quận bảo an đạo tràng chi bi văn, ở Thanh Hóa dựng năm Đại Nghiệp thứ 14 (618) thời Bắc thuộc, nhà Tùy. Cũng do tính bền vững của đá nên trước hết văn bia thường gắn với nhu cầu lưu niệm, ghi nhớ công đức, nhắn nhủ hậu thế, lưu truyền công danh sự nghiệp, đánh dấu các sự kiện. Ngoài ra nội dung văn bia còn chuyển tải đến bàn dân thiên hạ những sự kiện trọng đại, những điều tốt đẹp cần phát huy, những thắng tích đáng ngợi ca, những điều thiêng liêng, những luật lệ phải tuân theo…

Với cách chạm trổ tinh vi mang tính thẩm mĩ cao, văn bia là bộ phận không thể thiếu ở nơi thờ cúng, nơi danh lam thắng tích, nơi bất cứ ai cũng có thể qua lại chiêm ngưỡng.

Thăng Long - Đông Kinh - Đông Đô - Hà Nội, đất đế đô của muôn đời dẫu đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, dẫu có một thời trở thành tỉnh thành Hà Nội, song mãi mãi vẫn là đất ngàn năm văn vật, nơi giao lưu, hội tụ tinh hoa của mọi miền đất nước. Hà Nội cũng tự hào là nơi tập trung nhiều di tích tiêu biểu của nền văn hóa dân tộc mà văn bia là những chứng tích phản ánh biết bao cuộc “bể dâu” cùng những tình cảm thiết tha của con người muốn bảo tồn những điều thiêng liêng của cha ông để truyền lại cho muôn đời mai sau. Chính nội dung văn bia sẽ giúp chúng ta biết rõ như địa danh hành chính thời xưa, thấy rõ lịch sử xây dựng các di tích, các công trình văn hóa của Hà Nội, cảm nhận được những nét lớn về sự hình thành và phát triển của Thăng Long, cũng như đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một thủ đô gần ngàn năm tuổi.

Nói về bia Hà Nội hiện nay, tấm bia có niên đại xưa nhất là bia ở cổng chùa Kim Liên thuộc quận Tây Hồ. Bia được dựng năm Thái Hòa thứ 3 (1445) tức năm Ất Sửu dưới thời vua Lê Nhân Tông, muộn hơn một chút là tấm bia ở Văn Miếu Quốc tử giám, dựng năm Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông (1487). Nhìn chung Hà Nội hôm nay không còn những tấm bia cổ như nhiều địa phương khác, điều này cũng dễ lý giải bởi không nơi nào lại liên tục diễn ra những cuộc giao tranh ác liệt chống giặc ngoại xâm, những cuộc chiến tranh giành quyền lực, những hành động trả thù lẫn nhau của các tập đoàn phong kiến như ở Thăng Long - Hà Nội.

Cụ thể xin nêu một số văn bia như sau.

1. Văn bia chùa Trấn Quốc (Trấn Quốc tự bi ký), bia dựng niên hiệu Dương Hòa 5 (1639) do Trạng nguyên khoa Đinh Sửu, làm chức Hàn lâm Thị thư, Khuông mĩ doãn, Phụng Trực đại phu, Nguyễn Xuân Chính soạn. Chùa ở phường An Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên. Chùa xưa ở bãi An Hoa giáp sông Hồng được dựng từ thời Lý Nam Đế (544-548) gọi là chùa Khai Quốc, sau đổi là Trấn Quốc. Năm Hoằng Định thứ 16 (1615) bãi sông bị lở chùa được dời tới cạnh Hồ Tây, dựng trên nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần cũng là nền cũ cung Thúy Hoa đời Lý. Năm 1844 Thiệu Trị đổi tên là chùa Trấn Bắc, nhưng dân chúng vẫn quen tên cũ là chùa Trấn Quốc. Chùa có tất cả 14 tấm bia. Về thời điểm xuất hiện tên chùa Trấn Quốc, các tài liệu cho đến nay chưa đủ để xác định cụ thể. Sách Tây Hồ chí chép tên chùa Trấn Quốc xuất hiện vào niên hiệu Chính Hòa (1680-1705), nhưng bia trong chùa dựng năm 1639 đã ghi tên Trấn Quốc. Lại nữa sách Thăng Long cổ tích khảo cho rằng chùa Trấn Quốc do Lý Thường Kiệt xây trên nền hành cung cũ, song không nói đến việc di chuyển chùa từ bờ sông vào phía trong hồ.

2. Bia chùa Một Cột (Nhất trụ tự bi), bia dựng năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) do Hòa thượng Tỳ khưu Lê Tất Đạt soạn. Chùa được dựng niên hiệu Hàm Thông đời Đường (860-873) trên chiếc cột đá ở giữa hồ, trong có đặt tượng Quan Âm để thờ. Nhà Lý xây kinh đô ở đây vẫn noi theo dấu cũ và ngày càng sùng kính. Vua Lý Thánh Tông khi chưa có con thường đến chùa cầu tự. Lúc sinh được Hoàng tử, vua liền cho sửa thêm chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng và tỏ rõ việc tôn sùng.

3. Bia Văn miếu Quốc tử giám (Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký). Bia dựng năm Hồng Đức thứ 15 (1484) do Phụng Trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Thân Nhân Trung soạn. Văn miếu được dựng năm 1070 dưới thời Lý Thánh Tông. Văn miếu ở phía Nam Hoàng thành Thăng Long. Khoảng năm 1076 cũng ở khu vực này dựng thêm Quốc tử giám để dạy con cháu các đại thần, về sau mở rộng cho cả những học trò giỏi trong cả nước. Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên của nước ta. Năm 1484 Lê Thánh Tông cho dựng tại đây những tấm bia ghi các khoa thi Tiến sĩ bắt đầu từ năm 1442 thời Lê Thánh Tông. Từ đó trở thành lệ cho đến khi Văn miếu Quốc tử giám bị dời vào Phú Xuân đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn.

4. Bài ký sửa lại đền Chợ Tiên (Trùng tu Tiên Thị từ ký) tức đền Lý Quốc Sư. Bia dựng năm Tự Đức thứ 8 (1855) do Tiến sĩ khoa Kỷ Mậu (1849) Lê Cúc Linh người làng Nhân Mục soạn. Đền Chợ Tiên ở huyện Thọ Xương thờ Minh Không Quốc sư. Tương truyền vua Lý Thần Tông tự nhiên hóa hổ. Sư Minh Không (tên thật là Nguyễn Chí Thành) đã chữa khỏi bệnh cho vua. Vua nhớ ơn phong Minh Không làm Quốc sư và lập tòa tinh xá cho ở. Nơi đây sau trở thành đền thờ Lý Quốc Sư. Phía bên phải đền là tháp Báo Thiên, một trong bốn báu vật của nước Nam, tương truyền tháp do Quốc sư dựng nên.

5. Bia thôn Kim Cổ (Kim Cổ thôn bi ký). Bia dựng năm Tự Đức thứ 13 (1860), do Tiến sĩ khoa Mậu Tuất, Hàn lâm Thị giảng học sĩ, nguyên Đốc học Thanh Hóa, người huyện Thượng Phúc Lê Duy Trung, tên hiệu là Hi Vính soạn. Quán thôn Kim Cổ hay còn gọi là quán Đồng Thiên một trong bốn quán ở Thăng Long. Sông Nhị Hà như đai lưng bao quanh mở ra tấm gương ở phía trước, núi Tam Sơn (ở phía Bắc núi Nùng) như rủ màn xanh bày bình phong ở phía sau, đây thực là nơi tụ hội của sông núi đất Long Biên. Quán do bà Linh Nhân Hoàng Thái hậu đời Lý xây dựng để thờ Tam Thanh. Sang thời Lê Trung hưng quán bị thiêu hủy, bèn chuyển làm cung thờ bà Linh Nhân, hai bên ngách cung phối hưởng thờ các bà phi trong lục cung. Đến năm Kỷ Dậu (1849) dân dời cung sang thôn An Thái, cả hai thôn đều được sắc phong tặng.

6. Bia chùa Hồng Phúc (Danh thùy bất hủ). Bia dựng năm Bảo Đại thứ 7 (1932) do Đào Sĩ Nhã hiệu là Nguyễn Tấn người tỉnh Hưng Yên soạn. Chùa ở địa phận phường Hòe Nhai nên có tên là chùa Hòe Nhai đọc chêch thành Hòa Giai. Tương truyền chùa có từ đời Lý, sau được tu sửa vào năm 1687, 1899. Đây là trụ sở chính của phái Tào Động. Cảnh trí chùa Hồng Phúc, núi Nùng như vạt áo, sông Nhị tựa đai lưng, hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng lại, thật là chốn tùng lâm lâu đời của Thăng Long.

7. Bia chùa Phúc Châu (Phúc Châu tự bi ký). Bia dựng năm Thành Thái. Xưa kia làng Thụy Khuê có hai ngôi chùa là Phúc Lâm và Châu Lâm, sau gộp lại làm một lấy tên là Phúc Châu. Chùa ở cạnh Hồ Tây (khu vực trường Chu Văn An ngày nay). Chùa Châu Lâm vốn là viện Châu Lâm, được thành lập thời Hồng Đức (1470-1492) làm nơi ở cho người Chiêm Thành, sau được đổi làm chùa, còn có tên gọi là chùa Bà Đanh. Trước kia xung quanh chùa đều là những gò đất hoang cỏ mọc um tùm. Mùa thu năm Thành Thái (1892) chùa bị đổ nát, dân làng cùng nhau chọn một khu đất rộng rãi, dân cư đông đúc ở sát bên đó là ngõ Hữu Lung để di chuyển chùa. Chùa mới dựng nguy nga lộng lẫy xứng đáng là một danh thắng của Hà Thành.

8. Bia chùa Càn An (Càn An tự bi ký). Bia dựng năm Vĩnh Tộ thứ 3 (1621) do Doãn Quýnh Văn, Chính phủ văn chức soạn. Chùa Càn An phía Đông đối diện với chùa Càn Đà, phía tây trông sang chùa Chiêu Thiền, trước mặt núi đất (Thổ Sơn) sừng sững ở phương Nam, sau lưng Long Thành hùng vĩ ở phương Bắc. Xưa chùa ở thôn Nam Đồng, nay là phố Nam Đồng, quận Đống Đa.

9. Bia điện Nam Giao (Nam Giao điện bi ký). Bia dựng niên hiệu Vĩnh Trị thứ 4 (1679), Quang tiên Thận Lộc đại phu, tước Xuân Trạch Nam, Nguyễn Tiến Triều, người xã Nam Nguyễn huyện Phúc Lộc kính thảo văn bia. Công bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Duệ Quận công Hồ Sĩ Dương người xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu nhuận chính.

Điện Nam Giao được xây dựng ở góc mé Nam thành Thăng Long. Trước kia lễ tế được cử hành trên nền đất đắp lộ thiên. Thời vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ 1 (1663) khởi công vào mùa thu, hoàn thành cuối năm Giáp Thìn (1664). Điện xây nền gạch, dựng cột đá. Đao cong rực rỡ, đầu rồng dưới mái lượn song song. Vuông góc huy hoàng chân ngang trên thềm chống cân đối. Quy mô to lớn điện các nguy nga. Nền cũ của điện Nam Giao trước kia ở trong nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo phố Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nay đã biến thành siêu thị.

10. Bia đình thôn Tân Khai (Tối linh từ bi ký). Bia dựng năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), cư sĩ Quế Sơn soạn.

Xưa kia bản thần chưa lập thành ấp, ở đây chỉ có dinh quan và trại lính. Năm Gia Long thứ 3 (1804), thành Thăng Long làm lại, ngoài thành mở rộng ra những phố xá buôn bán, trong đó có khoảng đất trống, mạch chính dẫn đến từ núi Nùng, nổi lên như một gò cao, triển vọng sẽ thành nơi dân cư đông đúc. Đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) ấp ta bắt đầu làm sổ đinh, thuộc vào tổng Thuận Mĩ, huyện Thọ Xương (xưa gọi là tổng Triền Trúc). Đặt tên thôn là Tân Khai, thôn chia làm 5 giáp, lập đình thờ Bạch Mã Đại Vương Thượng đẳng tối linh thần hai bên tả hữu thờ Tô Lịch cổ thần và Thiết Lâm cổ thần. Sau hai phen hỏa hoạn, năm Kỷ Hợi (1839) dân thôn nhất trí xây đình trên nền cũ nhưng đổi hướng trông về phía Nam. Đình bên tả có Nhị Hà bao quanh, bên hữu có Tam Sơn làm chỗ dựa, đàn cá vàng Kim Hoa (tức Kim Liên) chầu mặt trước, chuỗi ngọc hồ Lãng Bạc bọc phía sau… Đình thôn Tân Khai hiện ở số nhà 44 phố Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội…

Nêu một vài tấm bia gắn với những di tích quanh khu Hoàng thành như trên quả thật là còn sơ sài và ít ỏi. Song chúng tôi hi vọng với những kết quả trong quá trình khai quật khảo cổ học và những kết quả nghiên cứu liên ngành chắc chắn sẽ có những cứ liệu, những giả thuyết đáng tin cậy để xác định vị trí đúng nhất của thành Thăng Long xưa./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.265-270)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm