VI | EN
26. Di sản Hán Nôm làng Chương Dương, xã Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây (TBHNH 2003)
TBHNH2003

DI SẢN HÁN NÔM LÀNG CHƯƠNG DƯƠNG, XÃ CHƯƠNG DƯƠNG, THƯỜNG TÍN, HÀ TÂY

NGUYỄN TRỌNG HẢI

Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

NGUYỄN HỮU TƯỞNG

(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Làng Chương Dương có tên Nôm là Chân Giang nay thuộc xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 30km về phía Nam theo đường đê hữu ngạn sông Hồng, cách ga Thường Tín khoảng 7km về phía đông theo đường tỉnh lộ 71. Xã Chương Dương nay là một xã thuần nông gồm 3 làng Chương Dương, Chương Lộc, Kỳ Dương, là một xã trung bình với số dân trên 4000 nhân khẩu, đang chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng để nông thôn đi lên hiện đại hoá, công nghiệp hóa trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Chương Dương ngày nay là một cùng đất tuy chưa hẳn giàu, song không nghèo như xưa, thuận tiện giao thông thủy bộ, lại rất gần thủ đô Hà Nội, nên có nhiều tiềm năng để phát triển. Người dân Chương Dương không những sản xuất giỏi, mà còn có ý thức tìm hiểu nguồn cội, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngày một văn minh tiến bộ. Họ tự hào vì vùng đất mà họ đang cư ngụ từng được lịch sử biết đến từ thế kỷ X và là một trong những địa danh cổ xuất hiện từ xa xưa quanh vùng Hà Nội. Họ lại càng tự hào hơn vì quê hương họ vào thế kỷ XIII (tháng 6/1285) là nơi ghi dấu chiến công đặc biệt xuất sắc của quân dân nhà Trần do Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải chỉ huy. Chiến công lừng lẫy ấy đã góp phần quan trọng vào việc tiêu diệt tuyến phòng thủ phía nam kinh thành Thăng Long, mở ra cục diện đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của giặc Nguyên - Mông đối với quốc gia Đại Việt hồi đó.

I. Di sản Hán Nôm trong đền

CÂU ĐỐI

Phiên âm:

Linh ứng lũy phong vân, cửu ngưỡng thần quyền duy xã hội

Hồng ân đàm thái ất, trùng tân miếu mạo trấn giang san

Dịch nghĩa:

Linh thiêng ứng nghiệm đã nhiều đời được tặng sắc văn, sự tín ngưỡng thần quyền giúp duy trì xã hội

Công lao ân đức lớn, ông cha được phong thái ấp, được trùng tu đền miếu góp công giữ vững núi sông.

Phiêm âm:

Hà nhuận thần cao linh huống vĩnh diên kim miếu xã

Địa liên thái nhưỡng ân ba đồng mộc cựu giang sơn.

Dịch nghĩa:

Sông nước nhuần hòa có thần linh hun đúc sự thiêng liêng còn mãi bền lâu, miếu xã uy nghi đến tận giờ,

Đất đai liền dải nhờ Thái ất sẻ chia nền ân đức cùng chung hưởng giang san thuở trước vẫn nguyên còn.

內 史

Phiên âm:

Lục tải xưng vương truyền nội sử

Thiên niên thực ấp hiển dư linh

Dịch nghĩa:

Sáu năm ngự ngai vàng còn truyền nội sử

Nghìn thu thực ấp ở vẫn rạng uy linh.

Những bức hoành phi và câu đối ở gian đại bái ngôi đình đều xa gần nói về sự nghiệp của đức thành hoàng làng Chương Dương: Bột Hải Hoàng đế Dương Tam Kha. Điều đó chứng tỏ người xưa đánh giá công lao của Dương Tam Kha một cách khách quan và tôn vinh.

II. Thần phả, sắc phong, văn sớ tế cúng, hương ước, tờ trình

1. Chương Dương thần từ ký

Ghi chép về vị thần đền Chương Dương, xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, gồm 29 tờ ghi ký tự Hán ghi chép về tiểu sử tôn thần, sự gia phong mỹ hiệu của các triều đại kể từ vua Lê Kính Tông đầu thế kỷ XVII đến đời vua Khải Định nhà Nguyễn. Vì phúc thần của 4 xã (tức là 4 làng) của tổng Chương Dương xưa là Bột Hải hoàng đế, có tên thật là Dương Tam Kha (Đại Việt sử lược ghi là Dương chủ tướng), quê làng Dương Xá, huyện Đông Sơn, Ái Châu, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Làng Chương Dương có ngôi đền thờ ngài, mỗi khi cầu đảo đều rất linh nghiệm. Các triều đại đều phong tặng là Thiện tiên hiển hoá phổ thông phu ứng, triều đại sau lại tăng thêm duệ hiệu sắc phong so với triều đại trước. Ngôi đền ấy cũng gọi là ngôi đình làng Chương Dương. Lệ: Hằng năm cứ đến ngày 20 tháng sáu và tháng một thì làm lễ kỳ phúc, ngày 10 tháng năm lễ nhập tịch, nay làm vào ngày 10 tháng tám. Các vị được phối hưởng là: Hoàng hậu (Bên tả), Phi nhân (bên hữu) và 6 vị thần tử của hoàng đế gọi là 6 vị quan.

Bản Chương Dương thần từ ký không ghi ngày tháng, chắc là được viết sau đời Khải Định đầu thế kỷ XX. Nội dung viết nương theo các bản sắc phong của các triều đại xưa rồi “kính xét” mà thêm vào duệ hiệu của vị tôn thần. Bản văn này cũng không ghi tên người viết hoặc phụng sao.

2. Thần tích xã Chương Dương nguyên viết bằng chữ Hán do Viễn đông Bác cổ sưu tập đầu thế kỷ thứ XX.

Nội dung thần tích kể về lai lịch vị thành hoàng bản cảnh có tên gọi là Hoằng Công thế kỷ XIII. Thần có công âm phù nhà Trần phá giặc Nguyên ở bến cổ Chương Dương và được thờ ở đình Trung (nay di tích đã bị hủy hoại). Như vậy làng Chương Dương ngoài đức thành hoàng Dương Tam Kha còn có đức thành hoàng bản thổ là Hoằng Công xưa được thờ phụng nghiêm cẩn.

3. Sắc phong. Bảng kê 28 đạo sắc phong thần đền Chương Dương - huyện Thường Tín - tỉnh Hà Tây

 

TT

Phong ngày, tháng, năm, niên hiệu nào

Triều vua nào

Năm dương lịch

1

Đức Long tứ niên tam nguyệt nhị thập cửu nhật

(29 - 3 Đức Long thứ 4)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1632

2

Đức Long ngũ nguyệt nhị thập thất nhật

(27 - 5 Đức Long thứ 5)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1633

3

Đức Long lục niên ngũ nguyệt nhị thập tứ nhật

(24 - 5 Đức Long thứ 6)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1634

4

Dương Hòa tam niên tam nguyệt nhị thập thất nhật (27 - 3 Dương Hòa thứ 3)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1637

5

Dương Hòa ngũ niên bát nguyệt nhị thập lục nhật (26 - 8 Dương Hòa thứ 5)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1639

6

Dương Hòa bát niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật (28 - 12 Dương Hòa thứ 8)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1642

7

Phúc Thái tam niên thất nguyệt thập thất nhật

(17 - 7 Phúc Thái thứ 3)

Lê Chân Tông

(Duy Hựu)

1645

8

Phúc Thái ngũ niên tứ nguyệt nhị thập lục nhật

(26 - 4 Phúc Thái thứ 5)

Lê Chân Tông

(Duy Hựu)

1647

9

Phúc Thái thất niên nhị nguyệt nhị thập bát nhật (28 - 2 Phúc Thái thứ 7)

Lê Chân Tông

(Duy Hựu)

1649

10

Khánh Đức tứ niên nhị nguyệt thập cửu nhật

(19 - 2 Khánh Đức thứ 4)

Lê Thần Tông

(Duy Kỳ)

1652

11

Cảnh Trị bát niên tứ nguyệt thập bát nhật

(18 - 4 Cảnh Trị thứ 8)

Lê Huyền Tông

(Duy Vũ)

1670

12

Dương Đức tam niên thất nguyệt nhị thập cử nhật (29 - 7 Dương Đức thứ 3)

Lê Gia Tông

(Duy Lợi)

1674

13

Chính Hòa tứ niên (nhuận) lục nguyệt nhị thập tứ nhật (24-6 Nhuận, Chính Hòa thứ 4)

Lê Hy Tông

(Duy Hợp)

1683

14

Vĩnh Khánh tam niên thập nhị nguyệt sơ thập nhật (10-12 Vĩnh Khánh thứ 3)

Lê Đế Duy Phường

1731

15

Cảnh Hưng nguyên niên thất nguyệt nhị thập tứ nhật (24-7 - Cảnh Hưng thứ 1)

Lê Hiển Tông

(Duy Diêu)

1740

16

Cảnh Hưng nhị thập bát niên bát nguyệt sơ bát nhật (08-8 Cảnh Hưng thứ 28)

Lê Hiển Tông

(Duy Diêu)

1767

17

Cảnh Hưng tứ thập nhất niên thập nhị nguyệt nhị thập tứ nhật (24-12 Cảnh Hưng thứ 41)

Lê Hiển Tông

(Duy Diêu)

1780

18

Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập lục nhật (26 - 7 Cảnh Hưng thứ 44)

Lê Hiển Tông

(Duy Diêu)

1783

19

Chiêu Thống nguyên niên tam nguyệt nhị thập nhị nhật (22 - 3 Chiêu Thống thứ 1)

Lê Mẫn Đế

(Duy Kỳ)

1787

20

Quang Trung ngũ niên thất nguyệt sơ tứ nhật

(04 - 7 Quang Trung thứ 5)

Nguyễn Văn Huệ

1792

21

Cảnh Thịnh nhị niên ngũ nguyệt thập tứ nhật

(14 - 5 Cảnh Thịnh thứ 2)

Nguyễn Quang Toản

1794

22

Minh Mệnh nhị niên thất nguyệt nhị thập nhất nhật (21 - 7 Minh Mệnh thứ 2)

Nguyễn Thánh Tổ

(Phúc Đảm)

1821

23

Thiệu Trị tứ niên ngũ nguyệt thập nhị nhật

(12 - 5 Thiệu Trị thứ 4)

Nguyễn Hiến Tổ

(Miên Tông)

1844

24

Thiệu Trị tứ niên lục nguyệt thập bát nhật

(18 - 6 Thiệu Trị thứ 4)

Nguyễn Hiến Tổ

(Miên Tông)

1844

25

Tự Đức tam niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật (26 -11 Tự Đức thứ 3)

Nguyễn Dực Tông

(Hồng Nhiệm)

1850

26

Tự Đức tam thập tam niên thập nhất nguyệt nhị thập tứ nhật (24 - 11 Tự Đức thứ 33)

Nguyễn Dực Tông

(Hồng Nhiệm)

1880

27

Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật

(01 - 7 Đồng Khánh 2)

Nguyễn Cảnh Tông

(Ưng Xụy)

1886

28

Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật (25 - 7 Khải Định thứ 9)

Nguyễn Hoằng Tông

(Bửu Đảo)

1924

4. Sớ văn Trần triều

Bài sớ văn ngày 19 tháng 8 giỗ đức thánh Trần do dân làng Chương Dương viết vào năm Tân Hợi 1911. Bài sớ gồm 59 câu dài ngắn khác nhau nêu rõ thần đức, địa phương cầu cúng, lời tâu trình cúi lạy, lễ vật dâng cúng, lời tôn vinh và lòng biết ơn.

Tuy theo phong cách văn sớ tấu nhưng nghiêm cẩn, thành thực, nêu được cảm mến của người dân với Trần Hưng Đạo đại vương. Những lời tôn vinh đều tôn xứng không thái quá, không xa sự thật lịch sử.

5. Hương ước

Bản hương ước được lưu giữ tại Viện thông tin Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, gồm 55 trang chữ Nôm, gồm 146 điều do 26 thành viên Hội đồng tộc biểu và chức dịch xã lập ra vào ngày 25 tháng Chạp, năm Khải Định 5 (1920) và được Tổng đốc Hà Đông ký duyệt 23 tháng Giêng năm Khải Định thứ 6 (1921). Bản hương ước qua những điều luật thể hiện rõ trình độ văn minh, văn hóa của một làng quê trung châu Bắc Bộ, đầy chất trí tuệ và nhân văn.

6. Tờ trình

Của Lý trưởng Nguyễn Văn Tháp 12-4-1938 gửi Tri phủ Thường Tín về phong tục thờ thần của làng. Tờ trình viết bằng chữ quốc ngữ trước 1945 với phong cách và từ dùng nay đã cảm thấy xa lạ. Tờ trình viết “giả lời thay cho “trả lời”, viết “điều có sắc” thay cho “đều có sắc”, viết “bản chiều” thay cho “bản triều”.

III. Di sản Hán Nôm ngoài khu vực đền

1. Bia Chính hiến tiên hiền liệt vị

Bia ở vườn nhà thờ họ Đỗ, khi xưa đặt ở Văn chỉ tổng Chương Dương, ghi tên các vị đỗ đại khoa của cả tổng Chương Dương xưa.

Niên đại: Tự Đức Bính Thìn (1856). Người viết là Tú sĩ (không rõ tên thật). Như vậy trong bia Chính hiến này cả tổng Chương Dương có 7 vị đỗ Tiến sĩ, trong đó làng Chương Dương có 2, làng Cát Bi có 3, làng An Chương có 1, làng Tư Uyên có 1. Hai vị đỗ Cử nhân đều là người làng Chương Dương. Bia cho biết sự đậu đạt khoa bảng của cả một tổng thời xưa.

2. Chương Dương xã miếu chung minh

(Bài minh ghi trên chuông miếu làng Chương Dương chính là bài minh quả chuông ở đền Chương Dương vì đền Chương Dương cũng có lúc gọi là miếu Chương Dương)

Niên đại: Minh Mệnh 17 (1836)

Người viết: Không rõ

Nội dung: Bài minh cho biết xưa đền Chương Dương đã có quả chuông, năm Tân Mão (1831) chuông bị mất. Mùa xuân năm Bính Thân (1836) mời thợ khéo tay huyện An Phong về khởi dựng đúc lại chuông cũ, tháng thì xong. Chuông cao 9 tấc, đường kính 7 tấc, trọng lượng 30 kg. Tuy vậy vẫn to hơn quả chuông đã mất. Kết thúc bài minh là tám câu thơ 4 chữ nói lên ước vọng hoà bình của dân xã qua tiếng chuông ngân nga. Bài minh không có gì là đặc sắc về nội dung cũng như về nghệ thuật ngôn từ.

Nhìn chung di sản Hán Nôm hiện còn được lưu giữ viết về các sự việc có liên quan đến làng Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây là giàu có và phong phú về số lượng và cũng rất đặc sắc về nội dung. Việc tìm hiểu nghiên cứu di sản Hán Nôm trước 1945 ở làng Chương Dương cho người đọc có thể hình dung được diện mạo của một vùng quê văn hóa văn minh khá tiêu biểu của miền đất trung châu đồng bằng Bắc Bộ. Trong nhiều bài minh, câu đối đều có những từ chỉ rõ đây là một cư ấp, một vùng thắng địa có nghĩa là một ấp lớn giàu có uy tín, một vùng đất đẹp địa linh nhân kiệt. Chẳng thế mà Chương Dương lại từ tên của một cư ấp tiếp đến tên của một xã, tên của một tổng dài gần chục cây số suốt dải sông Hồng, bao gồm nhiều làng quê trù phú với 7 vị Tiến sĩ có tên trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam và hàng chục vị đỗ Cử nhân và Tú tài. Riêng làng Chương Dương có 2 vị đậu đại khoa và 16 vị đậu trung khoa được ghi danh trên tấm bia Đại khoa liệt vị của làng. Vùng đất Chương Dương xứng danh là một thắng địa như trong câu đối chùa Phúc Điền tự bởi đây là một làng quê có chùa Phúc Linh được khởi dựng từ thời Lý (theo thần tích Hoàng Công), ngoài đền thờ Dương Tam Kha làng có đến 3 ngôi đình: đình Thượng thủy cơ, đình Trung thờ Hoằng Công, đình Hạ thờ con trai của Dương Tam Kha. Làng chẳng những có Văn chỉ của làng mà còn có Văn chỉ của cả tổng. Làng có đến 3 ngôi đền thờ Văn, thờ Võ, thờ Lão và cuối cùng là ngôi đền thờ Văn Võ Thọ. Chỉ riêng việc liệt kê những di tích ấy thôi cũng đủ thấy rằng ở vào thời điểm đó, các công trình kiến trúc tín ngưỡng cộng đồng ở Chương Dương là đầy đủ và hoàn chỉnh so với các làng xã khác trong vùng. Như vậy, nền văn minh thuộc đất Hạ, lộ Quốc Oai là nền văn minh còn tập trung ở ven sông, nơi có đường thủy thông thương quan trọng, mà chưa chuyển vào các vùng đất ven đường quan lộ như sau này. Có điều lớp cháu con của làng sau năm 1945 đã không giữ được những công trình kiến trúc tiêu biểu và để cho chúng bị mai một, bị hủy hoại mà nếu ngày nay không sưu tầm tìm hiểu nghiên cứu các di sản Hán Nôm viết về các sự việc có liên quan đến làng Chương Dương thì cũng không thể hình dung diện mạo của các công tình kiến trúc. Trong số các kiến trúc cổ của làng chỉ còn duy nhất nhà tiền đường và tòa thượng điện ngôi chùa Phúc Điền tự được trùng tu lớn vào đời vua Tự Đức thế kỷ XIX và đời vua Khải Định đầu thế kỷ XX là còn giữ được diện mạo của lần trùng tu lớn cuối cùng. Còn hầu hết các công trình kiến trúc khác nhau gần như mất hết dấu tích. May thay các di sản Hán Nôm phi vật thể được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nay đã giúp cho người đọc thấy được diện mạo văn hóa của một làng quê có trên 1000 tuổi. Công lao lớn nhất và cũng là một phần thưởng lớn dành cho các nhà sưu tầm, dịch thuật. Họ chính là những người đi tìm hồn cho đất, làm sống lại cả một cùng quê hào hùng lịch sử, làm sống lại cả một truyền thống văn hóa, văn minh sông nước đầy trí tuệ và cũng đầy nhân văn. Do khuôn khổ và thời gian hạn hẹp, rất tiếc là chúng tôi chưa có điều kiện giới thiệu được toàn văn chữ Hán, chữ Nôm, xin được bạn đọc lượng thứ./.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 223-233

 

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm