VI | EN
26. Ghi chép điền dã từ một ngôi mộ cổ ở phía tây nam thành phố Huế
tb07

GHI CHÉP ĐIỀN DÃ TỪ MỘT NGÔI MỘ CỔ Ở PHÍA TÂY NAM THÀNH PHỐ HUẾ

 

 

TRẦN ĐÌNH HẰNG - LÊ ĐÌNH HÙNG

NGUYỄN THĂNG LONG

Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin Huế

 

Trong các tài liệu địa chí hay thư tịch cổ, khu vực phía tây nam kinh thành Huế thường được nhấn mạnh đến vai trò tâm linh. “Thiên địa trục” là cõi đi về, không chỉ với chốn sơn lăng của dòng họ Nguyễn và cả cộng đồng cư dân Huế tự bao đời, mà còn là của cả các cộng đồng cư dân tiền Việt. Cụ thể là từ dấu tích một trung tâm tín ngưỡng của một cơ sở, mà về sau, trở thành điện Hòn Chén, hay Huệ Nam điện (Xem thêm: Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Trần Đình Hằng…, 2006).

Chính vì vậy mà ngay từ việc đặt vấn đề một cách hơi đường đột trong qui hoạch tổng thể phát triển đô thị Huế hiện đại về phía nam, tây nam, trong cách hiểu nào đó, vốn đã bị giới hạn bởi một đường chắn vô hình tận nếp nghĩ của đông đảo người dân trong vùng. Sự kiện Vọng Cảnh, cũng cần được xem xét trong bối cảnh như vậy.

Trong một đợt khảo sát bổ sung tư liệu về các dấu tích thành lũy cổ ở khu vực Thành Lồi, trên địa bàn phường Phường Đúc và xã Thủy Biều, thành phố Huế hồi cuối năm 2006, chúng tôi được nghe nhiều dư luận của bà con xung quanh một dự án phát triển du lịch ở đây, có liên quan đến việc di dời, cất bốc mồ mả, khi mà ở đó có một “ngôi mộ cổ”, của một “ông quan lớn”.

1. Ghi nhận từ thực địa

Về mặt địa giới hành chính, hiện nay con đường Huyền Trân Công chúa (kéo dài từ đường Bùi Thị Xuân đến lăng Tự Đức, đồi Vọng Cảnh) là ranh giới giữa phường Phường Đúc và xã Thủy Biều, và điều đáng nói là về cơ bản, con đường này đi qua nhiều khu mộ địa, đã có từ rất lâu đời.

Nơi chúng tôi đến là một trong những nghĩa địa như vậy, nằm trên triền một thung lũng có tên gọi Bàu Mặt Trăng, ở khu vực Trường Đá, xã Thủy Biều, hướng mặt về một thung lũng nhỏ ở phía tây, cách mặt đường Huyền Trân Công Chúa một quãng gần 300m, sau khi đã len lỏi qua một khu dân cư thưa thớt. Ở đó có nhiều mồ mả của người các dòng họ khác, trong đó đặc biệt đáng chú ý là khu nghĩa trang gia đình Thân Trọng(1).

Chúng tôi đứng trước một lăng mộ rất hoành tráng và cổ kính so với tương quan chung trong khu vực, quy mô tương đối lớn, hiện trạng khá nguyên vẹn. Tấm bia đồ sộ như là một minh chứng cho vị thế cũng như hành trạng của chủ nhân đương thời. Bên cạnh đó là sự bổ sung một cách hài hòa của bình phong, trụ cổng, thành nội, thành ngoại…, cũng với kích thước khá lớn.

Tấm bia bằng đá Thanh nằm ở phía trước nấm mộ hình tròn có kích thước cao 1,67m, rộng 0,63m, có kiểu dáng, hoa văn trang trí, tự dạng khắc trên bia, mang đậm phong cách Lê, vốn phổ biến trên đất Bắc. Nhìn từ xa, có thể nhận thấy tấm bia được chế tác tựa một tòa sen. Trán bia để trơn, uốn lượn phía hai vai, phía trên thắt nhỏ lại rồi bung ra với dáng hình một toà sen chưa nở làm đầu bia. Diềm bia phía trên trang trí “lưỡng long triều nguyệt”, hai bên trang trí hoa văn “dây lá hóa rồng”. Tất cả được dựng trên một chân đế hình chữ nhật, giật ba cấp (93 x 43cm).

Nội dung văn bia cho biết được phần nào thân thế sự nghiệp của chủ nhân:

Dòng bên trái đề: Tuế thứ Nhâm Tuất niên(2), quí đông cốc nhật.

Dòng giữa đề: Việt Cố Chưởng Trung dinh, tặng Khai Phủ Thượng trụ quốc, Thiếu bảo tống Quận công chi mộ.

Dòng bên phải đề: Hiếu tử thỉnh phụng tự.

Toàn bộ khu lăng mộ này được thiết kế theo bình đồ hình chữ nhật, hướng về phía tây - tây bắc, với kích thước cụ thể là 12 x 17,2m - như qui mô lăng mộ của các tầng lớp quan lại quí tộc thường thấy ở vùng Trị - Thiên.

Qua khảo sát tổng thể, hiện nay khu lăng mộ gần như còn nguyên trạng, bao gồm cả thành trong, thành ngoài, bình phong tiền, bình phong hậu và các lối đi vào cùng trụ cửa;

Tường thành ngoại cao 1,34m, dày 0,90m, phía sau được nâng cao 1,75m như là một bức bình phong hậu. Phần phía trước hiện không còn nguyên trạng.

Phần cổng lăng được xây nối tiếp với thành ngoài, chính giữa án ngự bởi bức bình phong lớn (cao 1,92m, dài 3,38m, dày 0,61m)… với những hoạ tiết đắp nổi bằng vôi vữa theo chủ đề “tùng hạc” đã góp phần làm giảm bớt sự đơn điệu, nặng nề của bức bình phong. Từ phía ngoài vào, cần phải đi qua ba lần cửa mới tới vị trí của bia đá và nấm mộ.

Chất liệu xây dựng chủ yếu ở đây là đá cuội, cùng một ít đá hộc, gạch, việc xử lý phần trên của các trụ cổng, được kết dính bằng vôi vữa.

2. Những chỉ dẫn từ thư tịch

Quả thực ban đầu, chúng tôi cũng không rõ bởi thiếu thông tin về thân thế, sự nghiệp của chủ nhân ngôi mộ cổ. Từ chỉ dẫn của những người có mặt ở khu vực nghĩa địa này, chúng tôi tìm gặp ông Tống Viết Tuấn, một nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng ở Phường Đúc, hậu duệ đời thứ 10 của dòng họ Tống Viết sau khi đến định cư ở Phường Đúc (Dương Xuân Thượng). Nhờ đó, chúng tôi có được một số thông tin quan trọng từ họ Tống Viết, như gia phả, đặc biệt là sắc phong.

2.1. Một số thông tin cơ bản từ gia phả

Gia phả, do bị mất mát, thất lạc bởi thiên tai, địch hoạ, nên hiện nay, chỉ ghi nhận được dòng Tống Viết phát xuất từ vùng Tống Sơn, Thanh Hóa, mà cũng không rõ thời điểm cụ thể. Chỉ biết rằng dòng họ này định cư tại đây, đến nay, đã được 12 - 13 đời, tính từ đời ông Tống Viết Trương. Còn giai đoạn từ đó về trước, vẫn đang tìm hiểu, bổ khuyết.

Các nguồn tài liệu gia phả cho biết ông là con trai của ông Tống Viết Trương và bà họ Châu. Cho đến đời con của ông, là Tống Viết Trì, mới về định cư tại Phường Đúc cho đến hiện nay.

Ông mất năm Tân Dậu (1801) ở Bình Định và an táng ở đó. Năm sau, được vua Gia Long cho cải táng, đưa về tại nghĩa trang này, xây dựng lăng mộ với qui mô lớn mà về cơ bản, vẫn còn lại trên thực địa cho đến hiện nay.

2.2. Sắc phong

Chính văn:

敕 神 策 軍 掌 中 營 都 統 制 故 福 祿 侯 宋 文 福 衽 金 勁 氣 浴 铁 雄 風 經年 蒙 望 閣 之 裘 雅 敦 攀 附 指 日 復 東 都 之 旆 共 濟 艱 難 跡 追 十 亂 之 臣 力 贊 再 興 之 業 水 戰 奏 九 埏 之 捷波 濤 激 怒 龍 爭 而 手 刃 匈 渠 山 屯 嚴 萬 壘 之 威 草 木 背 兵 鶴 唳 而 心 寒 賊 援 身 外 有 子 龍 之 膽 目 下 無 彭樂 之 腸 升 奠 提 復 土 之 偏 師 何 工 不 就 津 關 奮 乘 風 之 壯 志 所 向 無 前 一 肯 貽 君 父 之 憂 天 忽 奪 英 雄 之遠 知 難 見 可 功 雖 遜 于 萬 全 盡 節 捐 軀 爵 宜 隆 于 五 等 可 加 贈 翊 運 功 臣 特 進 開 府 輔 國 上 將 軍 上 住 國錦 衣 衛 掌 府 事 少 保 福 郡 公 謚 中 烈 以 昭 壯 志 以 慰 忠 魂 於 戲 裹 馬 革 于 沙 場 不 負 此 生 之 願 銘 鴻 名 于石 室 特 榮 一 字 之 褒 緊 此 爽 靈 服 斯 寵 渥 故 敕.

景 興 六 十 三 年 四 月 初 十 日

Phiên âm:

Sắc, Thần Sách quân Chưởng Trung doanh, Đô Thống chế, cố Phước Lộc hầu - Tống Viết Phước.

Nhẫm kim kính khí;

Dục thiết hùng phong.

Kinh niên mông Vọng Các chi cừu nhã đôn phàn phụ;

Chỉ nhật phục Đông Đô chi bái cộng tế gian nan.

Tích truy thập loạn chi thần;

Lực tán tái hưng chi nghiệp.

Thủy chiến tấu cửu diên chi tiệp, ba đào kích nộ long tranh nhi thủ nhận hung cừ;

Sơn đồn nghiêm vạn lũy chi uy, thảo mộc bội binh hạc lệ nhi tâm hàn tặc viện.

Thân ngoại hữu Tử Long chi đảm;

Mục hạ vô Bành Lạc chi trường.

Thăng Điện đề phục thổ chi thiên sư, hà công bất tựu;

Tân Quan phấn thừa phong chi tráng chí, sở hướng vô tiền.

Nhất khẳng di quân phụ chi ưu;

Thiên hốt đoạt anh hùng chi viễn.

Tri nan kiến khả, công tuy tốn vu vạn toàn;

Tận tiết quyên khu, tước nghi long ngũ đẳng.

Khả gia tặng:

Dực vận công thần đặc tấn Khai phủ Phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc Cẩm y vệ Chưởng phủ sự Thiếu bảo Phước Quận công; thụy Trung Liệt, dĩ chiêu tráng chí, dĩ úy trung hồn, ư hí khỏa mã cách vu sa trường bất phụ thử sinh chi nguyện. Minh hồng danh vu thạch thất đặc vinh nhất tự chi bao, khẩn thử sảng linh phục tư sủng ác.

Cố sắc.

Cảnh Hưng, lục thập tam niên tứ nguyệt sơ thập nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc phong cho: Đô Thống chế, Chưởng trung doanh, quân Thần Sách, Phước Lộc hầu quá cố Tống Viết Phước.

Áo vàng khí mạnh;

Giáp sắt gió hùng.

Nhiều năm long đong nơi Vọng Các, hết lòng phụ giúp cho việc nối nghiệp;

Đợi ngày tái phục chốn Đông Đô, cùng chịu gian nan lo liệu ngược xuôi.

Dấu tích bề tôi truy thập loạn;

Cơ nghiệp ra sức tái hưng.

Thủy chiến, cửu diên(3) tấu vang tin thắng trận, sóng gió khích nộ long tranh xung phá nơi hiểm nguy;

Sơn đồn, vạn lũy nghiêm cẩn nổi uy danh, cây cỏ dụng binh hạc kêu làm lạnh giặc tiếp viện.

Ra trận có Tử Long gan dạ;

Dưới mắt không Bành Lạc can trường(4).

Thăng Điện(5), trình kế xuất quân thu phục, công lao sao chưa thành;

Tân Quan(6), ra sức tráng chí cưỡi gió, ước muốn nào ai có.

Trời nhanh chóng cướp mất người anh hùng;

Mối tiếc thương để lại cho quân phụ.

Biết khó thấy dễ, công tuy chưa được vẹn toàn;

Tận tiết quyên thân, tước đáng thăng ngũ đẳng.

Nên gia tặng:

Dực vận công thần đặc tấn Khai phủ Phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc Cẩm y vệ Chưởng phủ sự Thiếu bảo Phước Quận công; thụy là Trung Liệt, để chiêu tráng chí, an ủi hồn trung, không phụ ước nguyện da ngựa bọc thây chốn sa trường, niềm vui lúc sinh thời. Khắc hồng danh vào bia đá, đặc vinh một chữ ngợi khen, ghi nhớ ân sủng linh sảng này.

Nên ban sắc.

Ngày 10 tháng 4, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 63 (1802).

2.3. Đến bức chân dung trong chính sử triều Nguyễn

Đại Nam thực lục từng có nhiều đoạn ghi chép lại hành trạng, công lao của vị võ tướng này. Và tất cả, đều đã được tập hợp lại một cách đầy đủ nhất trong Đại Nam liệt truyện. Sự nghiệp và hành trạng của vị võ tướng này có thể tóm lược như sau:

Tiên tổ là người quý huyện, tỉnh Thanh Hoa(7). Sau dời đến Gia Định.

Ông được ghi nhận là người có sức khỏe hơn người, quả cảm, khởi phát binh nghiệp theo việc quân làm Cai đội thuộc nội, từng phò giá Nguyễn Ánh sang Vọng Các (Xiêm La). Đến khi đánh lấy lại được Gia Định, thăng Phó Vệ úy vệ Tiền trực, theo Trung quân đi đánh giặc. Lại được tuyển vào túc vệ làm Vệ úy, cai quản vệ tuyển phong tiền ban trực quân Thần Sách.

Năm Quí Sửu (1793), theo Nguyễn Văn Thành giúp việc vận tải đến Cù Huân cấp lương quân.

Năm Ất Mão (1795), giặc vây Diên Khánh, nhà vua thân đem thuyền, quân đến cứu viện, ông đem thuộc hạ theo Trương Phúc Duật tiến đánh. Quân đến Y Na, vừa gặp thuyền giặc tự Diên Úc đến, Phúc đón đánh, phá tan được, chém đô đốc giặc là Nguyễn Văn Sĩ, đánh đắm một chiếc thuyền và lấy được 7 chiến thuyền. Lại theo đại binh tiến quân đi giải vây ở Diên Khánh. Mỗi khi ra trận, ông thường đi trước quân, đi đến đâu giặc đều tan; các tướng đều phục là khỏe, vì có quân công, được thăng Khâm sai thuộc nội, Chưởng cơ.

Năm Bính Thìn (1796), tạm làm Phó tướng Hữu quân, theo Nguyễn Hoàng Đức giữ Diên Khánh.

Năm sau, thuộc man ở Đông Môn làm phản; ông đóng quân ở Giao Loan để chống giữ, bỗng được triệu về, theo vua đánh giặc, coi binh thuyền, làm tiền đạo. Đến lúc về, được thăng Phó tướng doanh Tả quân, theo Đông cung Cảnh giữ Diên Khánh.

Ông là người nóng nảy, nhiều khi mất lòng tướng tá, thậm chí còn có lúc nặng lời với Bá Đa Lộc, là thầy dạy Đông Cung. Biết việc ấy, nhà vua cho triệu hồi, và lấy mất quân.

Năm Kỷ Mùi (1799), trả lại chức Chánh thống hữu đồn quân Thần sách, theo vua đi đánh Qui Nhơn, quân đóng ở Tân Quan, ông đóng ở Bình Đê, Lê Văn Duyệt đóng ở Sa Lung, cùng nương tựa nhau chặn đường tiếp viện của quân Tây Sơn, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Dũng ngầm đem quân từ Hôn Cốc xuống Thạch Tân, mưu đánh úp Tân Quan, ban đêm sang qua khe nhỏ có con nai dẫn ra ở phía trước, tiền đạo quân Tây Sơn trông thấy, hô lên nai nai, hốt hoảng hô truyền nhau rằng, quân Đồng Nai, rồi chạy tán loạn, bị hãm ở Khanh Cốc. Ông biết quân Tây Sơn ban đêm kinh sợ, tự đem vài trăm quân thừa cơ tiến đánh, chém được rất nhiều, lấy được mũ mo cau và khí giới nhiều không kể xiết. Trận này, nhờ biết lấy ít địch nhiều, được vua khen ngợi: làm tướng phải như thế, thưởng 3000 quan tiền.

Năm Canh Thân (1800), thăng Đô Thống chế trung doanh quân Thần Sách. Vua đi cứu viện Bình Định, ông theo Nguyễn Văn Thành đánh ở Thị Dã; lại đánh và chiếm được hai đồn Trúc Dã, An Tượng.

Tân Dậu (1801), ở trận Thi Nại, ông xin đi, vua theo lời Nguyễn Đức Xuyên, không cho, lại cử Lê Văn Duyệt. Ông đóng ở Kiền Dương, bị tướng quân Tây Sơn là Từ Văn Chiêu đánh úp, Vệ úy Trần Văn Xung tử trận, ông giận đem quân tiến đến Thạch Cốc, gặp quân mai phục, các Vệ úy Hoàng Phúc Bảo, Hoàng Văn Tứ tử trận. Ông sợ hãi xin chịu tội, vua tha cho. Gặp lúc Tham đốc Tây Sơn là Phạm Văn Điềm xâm phạm đồn An Mĩ (thuộc Phú Yên), ông cùng Nguyễn Đức Xuyên đánh đuổi được. Đến lúc về, lại đem binh thuyền đi Quảng Nam, theo Nguyễn Văn Trương chia đóng đường hiểm yếu để phòng quân Tây Sơn xâm chiếm.

Mùa hạ, đại binh tiến đánh Phú Xuân, ông cùng Tham tri Trần Văn Trạc giữ Quảng Nam. Cựu kinh lấy lại được, lại cùng Lê Văn Duyệt vào tiếp viện Bình Định; đến Quảng Ngãi đánh bại quân Tây Sơn, bắt được Đô đốc Nguyễn Văn Khôn, Tham đốc Hồ Văn Tự ở Trà Khúc cùng hơn 3000 người. Ông vốn ghét người Bình Định, kiên tâm theo quân Tây Sơn, bảo: ta nếu đánh được Bình Định, phải làm cỏ sạch, không sót mống nào; mới sang đò Tân Quan, thừa thắng tiến đến Bức Cốc, tướng hiệu ngăn: quân ít khinh thường tiến đi, gặp địch thì làm sao? Ông bảo: nếu gặp, ta lập tức lên núi, chúng làm gì được. Bỗng quân mai phục của tướng Từ Văn Chiêu liền nổi dậy, không địch nổi, bị hại.

Khi trước, Chiêu về hàng phục, từng giúp ông coi vệ tuyển phong tiền, thường bị mắng nhiếc là giặc đầu hàng, nên để tâm giận, sau làm phản, về với quân Tây Sơn, và thường thua ông. Nay do khinh thường, mới bị hại. Việc tâu lên, vua thương tiếc vô cùng, tặng Thiếu bảo, tước Quận công, ban thụy Trung Liệt.

Đầu năm Gia Long, được thờ vào đền Bao Trung ở Bình Định và đền Hiển Trung ở Gia Định. Năm thứ 6 (1807), định công thần theo sang Vọng Các và chết trận, được vào hàng thứ nhất, cấp cho phu coi mộ.

Năm thứ 9 (1810), được đưa vào thờ ở miếu Trung Hưng công thần. Phúc cầm cương ngựa đi theo vua rất nhiều công lao, nhưng chỉ mạnh về đánh ở đồng rộng, không có mưu kế gì khác, cho nên không đại thắng thì đại bại.

Khoảng năm Gia Long, bàn về lệ tập ấm theo sang Vọng Các, vua dụ thị thần: Phúc tuy có công, nhưng hai lần để mất quân, không phải là không tội, về tước ấm của con, việc ấy không nên cùng giống với các tướng. Con là Viết Trì được ấm thụ Kỵ Đô úy. Khoảng năm Minh Mạng, làm quan đến Trấn thủ Quảng Bình, sau vì có tội, phải cách chức, lại được trả lại chức, làm đến Vệ úy hữu dực doanh Vũ Lâm, có tội nghị cách. Vua nghĩ đến công của Phúc, giáng làm Phi Kỵ úy, chuẩn cho ở Kinh, được vào chầu thăm. Minh Mạng thứ 18 (1837), cho là Phúc ra trận bỏ mình, tiết liệt rõ rệt, truy phong Ninh Giang Quận công; Viết Trì được tập phong Ninh Giang bá (QSQ triều Nguyễn, 1997: II: 228 - 231).

3. Vài suy nghĩ thay lời kết

Trong qui hoạch phát triển tổng thể thành phố Huế đến năm 2010, nghĩa địa là một vấn đề trọng tâm và bằng mọi cách, được đặt lên hàng đầu, và phải giải quyết dứt điểm, như là một tiền đề cho việc giải phóng mặt bằng, tạo cảnh quan mang tính tiên quyết.

Tuy nhiên, khi nhấn mạnh qui hoạch tổng thể là điều cần thiết vì lợi ích của cả cộng đồng, cũng cần chú trọng tới các bước đi hợp lý, cụ thể của quá trình thực thi nó, sao cho có thể hạn chế, giảm thiểu mọi xáo động, tốn kém không cần thiết trong đời sống dân cư. Di dời các khu vực nghĩa địa ra khỏi địa bàn thành phố là chuyện đương nhiên trong chiến lược phát triển của một thành phố văn hóa, giáo dục và du lịch như Huế. Vấn đề đặt ra là thông qua một trường hợp cụ thể như thế này, việc cần làm đối với các cơ quan hữu quan là trước tiên, cần có sự khảo sát, tìm hiểu, ghi nhận một cách đầy đủ danh tánh, hành trạng của chủ nhân các ngôi mộ trong bối cảnh lịch sử văn hóa gia tộc, vùng miền, đất nước.

Chú thích:

(1) Nơi đây, cùng với một khu vực tương tự trên đồi Vọng Cảnh, là hai nghĩa trang của gia đình Thân Trọng, được đánh số ký hiệu lần lượt là D82, D83 trong trích lục thửa D41, do Ty Điền địa Thừa Thiên cấp ngày 28 tháng 01 năm 1969. Tại đây, là nơi an nghỉ của 16 thành viên “Tứ đại đồng đường”, trong đó có ông Thân Trọng Cảnh, Thân Trọng Khôi, Thân Trọng Phước… Do vậy mà ngày 08 tháng 01 năm 2007, dòng Thân Trọng ở Huế đã có văn bản kiến nghị gửi đến các cơ quan hữu quan để giải quyết vấn đề này.

(2) Căn cứ vào hành trạng của ông, đề cập ở phần sau, đây là năm Nhâm Tuất đầu tiên của thế kỷ XIX, 1802.

(3) Nơi xa xôi: “cửu cai, bát diên”.

(4) Tử Long, Bành Lạc, những danh tướng đời Hán.

(5) Thăng Điện, tức vùng Thăng Bình và Điện Bàn, thuộc tỉnh Quảng Nam.

(6) Tân Quan, tên một cửa biển thuộc tỉnh Bình Định.

(7) “Quí huyện” là danh từ tôn xưng, được dùng một cách trang trọng, phổ biến, nhằm chỉ vùng Tống Sơn, Thanh Hóa, là nơi phát xuất của dòng họ Nguyễn khai mở xứ Đàng Trong, về sau tái lập vương triều Nguyễn.

Tài liệu tham khảo

1. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Ðại Nam hội điển sử lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1993.

2. Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Trần Đình Hằng…: Hải Cát, đất và người, Nxb. Thuận Hóa, Huế 2006.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Ðại Nam thực lục tiền biên, Viện Sử học, H. 1962.

4. Quốc sử quán triều Nguyễn: Ðại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1997.

5. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, Viện Sử học, Nxb. KHXH, H. 1963 - 1978./.

Trần Đình Hằng - Lê Đình Hùng - Nguyễn Thăng Long
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm