26. Gía trị văn học của minh văn khắc trên sưu tập chuông đồng thời Nguyễn tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TBHNH 2001)
GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỦA MINH VĂN KHẮC TRÊN
SƯU TẬP CHUÔNG ĐỒNG THỜI NGUYỄN TÀNG TRỮ TẠI
BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Chuông đồng là loại hình di vật cổ gắn liền với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như chùa, đền, quán... Chuông thường ghi niên đại tuyệt đối, nội dung minh văn khắc hoặc đúc trên chuông là tài liệu chân thực phản ánh nhiều mặt về lịch sử, văn học, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo... Vì vậy, khai thác những thông tin trên chuông đồng chính là thu thập nguồn tư liệu lịch sử, văn học, khảo cổ mỹ thuật độc đáo đáng tin cậy.
Số lượng chuông đồng thời Nguyễn còn lại đến ngày nay còn tương đối nhiều, riêng sưu tập chuông đồng thời Nguyễn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện có 30 quả, trong đó 24 quả chuông có minh văn khắc chìm hay đúc nổi bằng chữ Hán và Nôm.
Cũng giống như chuông các thời Lê, Tây Sơn, minh văn trên chuông đồng thời Nguyễn mang đặc điểm ký sự, ghi chép sự việc cùng họ tên những người tham gia vào việc đúc chuông, góp công đức để lưu truyền và cầu mong hưởng phúc về sau. Chính vì thế, cùng với các bài văn bia, những trang sử bằng đá, minh văn chuông trong di tích chùa, đình, đền miếu là những trang tư liệu quý, chuẩn xác, giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn học, tôn giáo tín ngưỡng.
Trong phạm vi bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ đề cập tới những giá trị văn học của minh văn trên sưu tập chuông đồng thời Nguyễn tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Các minh văn khắc trên chuông thời Nguyễn cũng có nhiều điểm tương đồng với minh văn trên chuông thời Lê, Tây Sơn, gồm phần văn xuôi và văn vần. Tuỳ theo số lượng tín đồ cúng góp mà phần kê tên họ dài hay ngắn, còn bài văn và lời minh có trình tự khá giống nhau. Đôi khi còn có cả những bài dẫn từ sách cổ như là những câu châm ngôn kinh điển. Song, giá trị văn học trên các bài minh văn là những đoạn tả cảnh, những vần thơ. Từ các thể thơ 5 chữ hoặc 8 chữ đầy ý hàm súc, gợi ra một hình ảnh đẹp, một ý tưởng hay, dễ đi vào lòng người dân lao động. Nó không chỉ là nguồn sử liệu mà còn xứng đáng là những áng văn dân gian đáng lưu ý.
Lời minh chuông chùa Bồng Lai (1820) với 3 đoạn, mà đoạn mở đầu đã mô tả cảnh quan một vùng quê huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang, nơi có núi Hồng Lĩnh, tọa lạc ngôi chùa Bồng Lai:
Núi Hồng Lĩnh chót vót,
Sông Lam giang rộng dài,
Giữa sông cồn cát nổi,
Có tháp cổ Bồng Lai.
Cảnh quan nhiều ngoạn mục,
Đã trải nhiều đổi thay!
Chuông chùa phải đúc lại,
Để hưởng phúc lâu dài!
Lời ký trong bài minh văn chùa Viên Quang (1822) mô tả cảnh quan xung quanh chùa như một bức tranh hùng vĩ: "Nay phía trước thôn ta đã có ngôi chùa thấp thoáng trên núi gọi là chùa Viên Quang, địa hình ở đó như có hổ chầu rồng lượn, cảnh vật ở đó có nhiều tre non sông xanh, dẫu chưa đủ năm âm thanh so với chuông ở Hạ Đình, nhưng cũng cần một quả để khác biệt ở vùng Thục Cảnh...".
Lời minh trong minh văn chùa Phổ Quang (1831), lời lẽ mộc mạc mà ngợi ca đạo Phật, thức tỉnh lòng trần:
"Lòng dân buổi đầu, thật thà không dối.
Khi gần các loài, khí chất có đổi.
Pháp toà lớn lao! Tây phương giáo hối.
Nghe theo tiếng kinh, biết đời chìm nổi.
Phổ Quang chùa thiêng, Thượng Nguyên đẹp cõi!
Dâu biển qua rồi, tiếng Phật thầm gọi.
Họ Đặng xã ta, mở mang đầu mối!
Lo cho cộng đồng, việc thiện tiến tới.
Món ngon biển dâng, phúc lành núi đội.
Phúc quả cứu dân, khỏi bờ mê muội!
Công sức mênh mông, không điều nghĩ ngợi.
Có Phật ứng báo, như điều mong mỏi".
Bài minh văn chuông chùa Dư Duệ (1838) có lời minh:
Nguy nga ngôi đình, hướng nhìn núi cao
Hai ngôi chùa lớn, dựng trước dựng sau.
Tiếng chuông rung động, lòng người lẽ trời.
Ca tụng những gì, không thể đổi đời.
Giàu lên, mạnh lên! phúc để muôn đời.
Lời minh bằng thơ trong bài minh chuông chùa Linh Thông (1858) chẳng những đúc kết được toàn bộ bài văn mà còn tỏ rõ mục tiêu cầu nguyện của tín đồ:
Cảnh trí Vân Hồ đẹp!
Muôn đời truyền anh linh.
Nhà riêng thành chùa Phật.
Nước đục biến trong xanh!
Trước là sông Đức Thuỷ!
Sau có thiên Giao Đình.
Hữu mở đường Hoàng Đạo,
Tả đào hào Kinh Thành.
Đến mùa đông hoàn thành.
Chuông vàng trông đẹp mắt,
Phúc quả được kiên trinh.
Dân thôn vui cuộc sống.
Phật tử hưởng phúc lành.
Ngôi vua thêm vững chãi!
Vầng Phật toả quang vinh!
Như vậy, minh văn chuông thời nguyễn cũng nằm chung trong dòng minh văn chuông Việt Nam, nó là một thể loại ký sự văn học - lịch sử. Nhưng những tác giả của những bài minh này lại là những người thuộc tầng lớp bình dân như thiền tăng, trưởng làng, cựu lý trưởng hay một người dân thường trong ấp, hiếm thấy tác giả là người đỗ đạt có bằng cấp, họ sống gần gũi và gắn bó với làng quê nên nội dung những bài minh trên chuông thường kể lại những sự kiện có ở địa phương, không khí hân hoan của tín đồ cùng đóng góp công đức trong việc đúc chuông, ngợi ca cảnh đẹp...
Với tính chất thơ ngắn dễ hiểu, giá trị văn học của bài minh cùng với tiếng chuông sẽ như một thứ thánh ca trong các nghi lễ tôn giáo và các lễ hội ở đình chùa.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.224-228