26. Góp phần tìm hiểu làng Trà Lũ qua bản chúc thư thời Tự Đức (TBHNH 2005)
GÓP PHẦN TÌM HIỂU LÀNG TRÀ LŨ QUA
BẢN CHÚC THƯ THỜI TỰ ĐỨC
ĐINH THỊ THÙY HIÊN
ĐHKHXH & NV - ĐHQG Hà Nội
Trong đợt khảo sát điền dã đầu tháng 11 năm 2005, chúng tôi được tiếp cận với bản chúc thư của vợ chồng ông Mai Đinh Huyên và bà Mai Thị Phương người thôn Bắc, xã Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ, Phủ Xuân Trường (nay là xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) lập ngày 8 tháng 10 năm Tự Đức 28 (1875). Tài liệu này được cụ Mai Văn Lý, 89 tuổi, người xóm 1, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (xưa kia là Khẩu Đoài, thôn Bắc, Trà Lũ) sưu tầm và cất giữ. Văn bản gồm 12 tờ rời khổ 26,5x14cm. Ở phần đầu có nói rõ chúc thư được lập thành sáu bản, giao cho mỗi người con giữ một bản. Bản chúng tôi tiếp cận được là bản duy nhất hiện còn giữ được. Dòng cuối cùng của văn bản cho biết bản này được giao cho người con trai út là Mai Đinh Thường giữ.
Trong văn bản, ở dòng đầu tiên của tờ 2 “Nhất tạo mãi tại bản huyện An Cư xã tư điền trì thập tam mẫu nhất tam sào cửu miếng”, chữ “tam” trong “thập tam mẫu” bị đồ bằng 3 nét chấm phía bên trái, và chữ nhất ở dưới chữ “mẫu” được đánh dấu chuyển lên thay. Như vậy, số ruộng ao tư mua tại xã An Cư là 11 mẫu 3 sào 9 miếng. Điều này được xác nhận khi so sánh diện tích ruộng đất được nêu ở phần đầu khớp với tổng diện tích của tất cả các mảnh đất, ruộng, ao vườn liệt kê ở phía sau(1).
Về mặt thể thức, bản chúc thư nhìn chung giống với các văn bản khác cùng thể loại. Duy cách điểm chỉ của chúc thư này khá đặc biệt. Thay vì sử dụng hai ngón tay cái bôi mực, ông bà Mai Đinh Huyên, Mai Thị Phương, cùng 2 người con gái Mai Thị Nhung, Mai Thị Đoan điểm chỉ bằng cách bôi mực vào các đốt ngón tay trỏ và giữa, sau đó kẹp một que tre nhỏ ở giữa hai ngón tay và áp vào văn bản(2). Vì vậy trên văn bản xuất hiện một vạch ngang dưới tên và một số vết mực dọc theo tên người điểm chỉ. Cách điểm chỉ này được bắt gặp phổ biến trong các văn khế, chúc thư, lưu giao có niên đại từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX hiện còn giữ tại địa phương. Có cơ sở để tin rằng đây là đặc điểm chung của địa phương này.
Một điểm lý thú khác mà bản chúc thư cung cấp chính là một số đơn vị đo diện tích dân gian được dùng ở địa phương. Trong bản chúc thư, ngoài các đơn vị đo mang tính chính thống trong các văn bản của nhà nước ví như tài liệu địa bạ gồm mẫu, sào, thước, tấc, phân, ly ta còn bắt gặp các đơn vị diện tích: miếng, lưu. Một miếng được tính bằng 1/10 sào, tương đương với 36m2. Một lưu là 1/9 miếng, tương đương với 4m2. Qua khảo sát tại địa phương, ngoài những đơn vị đo diện tích được sử dụng trong bản chúc thư, trong dân gian còn sử dụng đơn vị khấu, ngũ (1 khấu = 1 ngũ = 1 lưu); đạc (1 đạc = 30 ngũ).
Trà Lũ là một làng được hình thành trong quá trình khai hoang lấn biển của người dân vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Lịch sử lập làng được bắt đầu từ khoảng thế kỷ XV. Có lẽ sự cộng đồng trong quá trình lập làng đã quy định đặc điểm ruộng đất công còn chiếm tỷ lệ cao ở đây. Vào thời điểm lập địa bạ Trà Lũ năm Minh Mệnh 10 (1829) không thấy có sự hiện diện của ruộng đất tư trong kết cấu ruộng đất của làng. Nói đúng hơn, tồn tại ruộng đất mang tính chất tín ngưỡng thuộc sở hữu của nhà chùa (thần từ phật tự điền). Ruộng này được tính thuế theo ngạch ruộng tư (thấp hơn so với thuế ruộng đất công). Toàn bộ ruộng đất còn lại của làng Trà Lũ là ruộng đất công, được chia cho người trong xã cùng cư trú và canh tác(3). Tình hình này được Cử nhân Lê Văn Nhưng, người bản xã xác nhận trong tác phẩm Trà Lũ xã chí của mình(4). Đây cũng là đặc điểm chung của một số khu vực thuộc các tỉnh Nam Định, Thái Bình. Cho đến tận đầu thế kỷ XX, trong cuốn Người nông dân châu thổ sông Hồng, Pierre Gourrou vẫn nhận thấy rằng những khu vực này tỷ lệ ruộng công chiếm tới 70-80%.
Nhưng vào thời điểm lập bản chúc thư này, vợ chồng Mai Đinh Huyên và Mai Thị Phương đã có tới hơn 15 mẫu ruộng đất (tại xã Trà Lũ và gồm cả ruộng đất xâm canh ở xã An Cư và Xuân Hy Thượng). Đây là một diện tích khá lớn và chắc chắn chưa phải là tất cả diện tích ruộng đất mà vợ chồng họ sở hữu. Tấm bia đá ở từ đường họ Đinh (xóm 1, Xuân Bắc) lập năm Bảo Đại thứ 11 (1935) cho biết, trước kia Đinh quí công (huý là Huyên) cúng 1 sào 8 miếng tư điền tại xứ Thượng Lãnh xã An Cư vào từ đường họ.
Bên cạnh đó, ta thấy xuất hiện nhiều ruộng đất của các tập thể nhỏ như của họ Đinh, họ Vũ, giáp Phú Nhất, giáp Vinh Nhị... khi bản chúc thư mô tả giáp giới các mảnh ruộng, đất. Như vậy, tình hình ruộng đất đã có nhiều biến đổi. Ruộng đất tư đã xuất hiện, đúng như phản ánh của Trà Lũ xã chí. Sự xuất hiện của chủ sở hữu tương đối lớn Mai Đinh Huyên là một gợi mở cho việc nghiên cứu sâu hơn về mức độ tư hữu hóa ruộng đất ở Trà Lũ trong thế kỷ XIX.
Mục đích việc lập chúc thư là phân chia trước ruộng đất cho con cái. Trong tổng số hơn 15 mẫu 7 sào 9 miếng ruộng đất ông bà Mai Đinh Huyên để lại, ngoài số ruộng đất đặt làm phần hương hỏa (3 sào) và một phần giữ lại dành cho cháu đích tôn Mai Đinh (Viết) Giai (2 sào 8 miếng 6 lưu) thì ruộng đất đem chia vĩnh viễn cho 6 người con, gồm 3 trai 3 gái làm sản nghiệp. Con trai cả Mai Đinh Cửu được chia 3 mẫu 3 sào 5 miếng 23.5 lưu; con trai giữa Mai Đinh Đệ là 3 sào 3 mẫu 7 miếng 14.5 lưu; con trai út Mai Viết Thường là 3 mẫu 4 sào 5 miếng 23 lưu. Con gái cả Mai Thị Uyển được nhận 1 mẫu 6 sào 8 miếng 9 lưu; con gái giữa Mai Thị Nhung là 1 mẫu 6 sào 7 miếng 12 lưu; con gái út Mai Thị Đoan là 1 mẫu 6 sào 9 miếng 7 lưu. Như vậy, ruộng đất được chia đều nhau giữa con cái (cùng giới). Mỗi người con trai được nhận hơn 3 mẫu mà không phân biệt trưởng thứ. Diện tích mỗi người con gái được nhận là hơn 1 mẫu rưỡi, tức là bằng một nửa của con trai, nhưng vẫn đảm bảo nhận được phần như nhau mà không phân biệt lớn nhỏ(5). Phần thừa kế của cháu đích tôn tương đương phần đất hương hỏa, cùng chiếm tỷ lệ 1/10 phần của con trai, 1/5 của con gái. Tuy nhiên, không có thông tin nào cho biết ai trong số các con cháu kể trên sẽ được thừa tự (cai quản phần hương hỏa). Cách thức phân chia tài sản, quyền thừa tự... có mối quan hệ mật thiết, phản ánh mối quan hệ trong gia đình. Việc phân chia đều nhau giữa các con trai, các con gái với nhau mà không phân biệt trưởng thứ, quyền thừa tự chưa được chỉ định rõ, nhưng vẫn dành riêng một phần cho cháu đích tôn và gợi mở về cấu trúc gia đình, quan hệ trong gia đình ở Trà Lũ. Đi sâu nghiên cứu vấn đề này chắc hẳn sẽ có một hiểu biết sâu sắc về làng Trà Lũ xưa.
Trong tổng diện tích ruộng đất ao vườn chia cho các con, phần lớn nằm tại xã An Cư(6). Tuy nhiên, trên thực địa, các mảnh ruộng thuộc An Cư lại nằm trên đất Xuân Bắc ngày nay, liền ngay với thổ của ông bà Mai Đinh Huyên xưa. Việc ruộng của An Cư nằm trên đất Trà Lũ góp phần phản ánh lịch sử lập làng Trà Lũ xưa. Những người đầu tiên đến khai khẩn vùng đất ven biển này đã chọn những rẻo đát cao như xứ đồng Cựu Cốt cắm đất lập làng, rồi tỏa ra xung quanh, chọn những khu vực ruộng nhiều, đất đai phì nhiêu để canh tác. Những cư dân đến sau lại cư trú và canh tác ở những khu vực đất thấp mà những người đi trước bỏ qua. Ruộng đất của Trà Lũ từng kéo đến tận khu vực cầu Thứ Khoá(9) (thuộc đất Giao Thuỷ ngày nay), nhưng lại bỏ qua vụng thuyền chài (khu vực trũng) để người nơi khác đến lập lên làng Phú Nhai. Vị trí địa lý của Trà Lũ với 3 thôn Trà Trung, Trà Bắc, Trà Đông còn được lưu truyền trong dân gian.
“Ba thôn Trà Lũ bò ra ngoài
Một thôn Phú Nhai nhai vào giữa”.
Câu nói “bỏ chỗ gần cắm chỗ xa” là để chỉ việc người dân Trà Lũ bỏ ruộng ở gần để người An Cư sau này canh tác, còn mình lại xuống khu vực An Cư ngày nay để khai phá và canh tác. Đất đai Trà Lũ và An Cư cài răng lược nên hiện tượng đổi ruộng khá phổ biến. Theo các cụ già người địa phương, những người đổi ruộng được gọi là “quá điền”. Vào những năm 1920, khoảng 1.7 mẫu ruộng (của Trà Lũ nhưng ở xa) được người Trà Lũ đem đổi lấy 1.4 ruộng (của An Cư nhưng ở gần).
Với những điểm nêu trên có cơ sở để khẳng định đây là một tài liệu quí trong tìm hiểu về lịch sử, văn hóa,... của làng Trà Lũ, cũng như trong hiểu biết về lịch sử của làng ven biển vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung.
Sau đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu tóm lược điểm chính bản dịch chúc thư.
Chú thích:
(1) Ruộng đất ông bà Mai Đinh Huyên, Mai Thị Phương để lại khoảng 15 mẫu 7 sào 9 miếng (= khoảng 2 mẫu 9 sào 5 miếng + 11 mẫu 3 sào 9 miếng + 1 mẫu 4 sào 5 miếng). Khi đem cộng tất cả các thửa ruộng đất phân chia ở phía sau ta được con số 15 mẫu 8 sào 4 miếng 95 lưu rưỡi. Sự chênh lệch nhỏ này có thể hiểu được do điền sản ông bà để lại bao gồm nhiều mảnh ruộng đất khác nhau. Hơn nữa, ở phần đầu chỉ ghi thông tin đến đơn vị diện tích miếng, không tính đến diện tích lưu.
(2) Thông tin do cụ Mai Đinh Lý người Khẩu Đoài, Trà Bắc (Xuân Bắc, Xuân Trường, Nam Định) cung cấp.
(3) Địa bạ Trà Lũ, (bản chữ Hán) gồm 29 tờ, hiện được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, phông địa bạ, ký hiệu F41, địa bạ Sơn Nam Hạ.
(4) Trà Lũ xã chí có ghi: bản xã trước không có ruộng tư, chỉ có ruộng thần ruộng Phật 55 mẫu, thuế theo ruộng tư hạng hai, còn ruộng thì là ruộng công... Cuối năm Tự Đức quan tỉnh mới tâu xin phàm đất tư hiện đương có lúa, cho đổi ngạch làm ruộng tư chịu thuế. Ở các xứ của bản xã như Cựu Cốt, Đường Nhất, Đường Tam, Khẩu Nhị, Khẩu Tam, Đô Trạo, Hà Khẩu, Tiền Trí... có chỗ đào chỗ cao lấp chỗ thấp, vãi mạ cấy thử. Các điền hộ ở thôn Bắc tiết thứ đưa đơn cải hạng, do đó mới có ruộng tư. Những ruộng ấy biên vào bài chỉ thuế của thôn Bắc. Duy ruộng tự ở xứ Đường Tâm qui về thôn Đông nhân trưng. Xem Lê Văn Nhưng: Trà Lũ xã chí (bản chữ Hán), hiện do cụ Mai Văn Lý, người Khẩu Đoài, Trà Bắc (Xuân Bắc, Xuân Trường, Nam Định) lưu giữ.
(5) Sự đều nhau mang tính chất tương đối do mỗi phần đất bao gồm rất nhiều mảnh nhỏ cộng lại. Vì thế, ta thấy diện tích cho con trai út nhiều hơn hai anh, người trai thứ nhiều hơn của người anh cả. Tương tự, ruộng của con gái út nhiều hơn của các người chị.
(6) Ruộng ao tư mua tại xã An Cư là 11 mẫu 3 sào 9 miếng, thổ trạch mua tại xã Xuân Hy Thượng là 1 mẫu 4 sào 5 miếng, thổ trạch viên trì mua tại bản xã khoảng 2 mẫu 9 sào 5 miếng.
(7) Còn gọi là Thức Hóa, Thức Khóa.
CHÚC THƯ MAI ĐINH HUYÊN, MAI THỊ PHƯƠNG
Vợ chồng chúng tôi là Mai Đinh Huyên, Mai Thị Phương ở thôn Bắc, xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, phủ Xuân Trường tự nhận thấy rằng tuổi ngày một cao, sống chết không biết lúc nào. Có ruộng thổ ao vườn để lại mà chưa phân định cho các con, e có sự phân tranh về sau. Bèn lập chúc thư này chia vĩnh viễn cho 3 con trai và 3 con gái các hạng điền thổ vườn ao nói trên làm sản nghiệp, để nội ngoại sau này không được phép can thiệp hoặc làm điều gì man muội của nhau. Con trai con gái sau này phải theo bổn phận ghi trong chúc thư mà sinh cơ lập nghiệp và cúng kị. Nếu có sự tranh chấp mất phần nhau là phạm tội bất hiếu vậy. Nhà nước có phép nước, nên lập 6 bản chúc thư giao cho các con mỗi người một bản để sau này mà thi hành.
Cho
Thổ trạch viên trì mua tại bản xã khoảng 2 mẫu 9 sào 5 miếng.
Ruộng ao tư mua tại xã An Cư bản huyện 11 mẫu 3 sào 9 miếng
Thổ trạch mua tại xã Xuân Hy Thượng 1 mẫu 4 sào 5 miếng.
1. Trưởng nam Mai Đinh Cửu: tổng số được chia là 3 mẫu 3 sào 5 miếng 23,5 lưu...
2. Thứ nam Mai Đinh Đệ: tổng số được chia là 3 mẫu 3 sào 7 miếng 14,5 lưu...
3. Con trai út Mai Viết Thường: tổng số được chia là 3 mẫu 4 sào 5 miếng 23 lưu...
4. Trưởng nữ Mai Thị Uyển: tổng số được chia là 1 mẫu 6 sào 8 miếng 9 lưu...
5. Thứ nữ Mai Thị Nhung: tổng số được chia là 1 mẫu 6 sào 7 miếng 12 lưu...
6. Con gái út Mai Thị Đoan: tổng số được chia là 1 mẫu 6 sào 9 miếng 7 lưu...
7. Lưu cho con cháu đích tôn tư điền tại xã An Cư 1 sào 8 miếng 6 lưu.
Ngày 8 tháng Mười năm Tự Đức thứ 28 lập chúc thư.
Các con cháu điểm chỉ, ký
Người viết chúc thư Vũ Thế Cơ ký
(Chúc thư một đạo giao cho con trai út Mai Đinh Thường chấp thủ).
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.271-278)