VI | EN
26. Một số văn bia vừa được phát hiện tại chùa Cầu Đơ (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây).
tb2006

MỘT SỐ VĂN BIA VỪA ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI CHÙA CẦU ĐƠ
(thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây)

VŨ XUÂN HIỂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong đợt sưu tầm Hán Nôm tháng 10 năm 2006, được sự giới thiệu của PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí - một nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm và có tình cảm sâu sắc với văn hóa Hán Nôm Hà Tây, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và sưu tầm tư liệu Hán Nôm trên một số văn bia mới được phát hiện tại chùa Cầu Đơ (phường Hà Cầu, thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây).

Chùa Cầu Đơ là một ngôi chùa nhỏ, kiến trúc khá giản dị, nằm tách biệt với khu dân cư, trong diện tích khuôn viên khoảng một nghìn mét vuông. Ngôi chùa được xây dựng từ lâu, đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm của lịch sử. Trong những năm 1990, những di chỉ Hán Nôm tại chùa đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiến hành sưu tầm. Với diện tích nhỏ hẹp và kiến trúc đơn giản như vậy, những tưởng rằng lượng di chỉ Hán Nôm trong khu vực chùa đã được sưu tầm toàn bộ. Đến năm 2004, được sự đóng góp của Phật tử gần xa, nhà chùa tiến hành xây dựng lại nhà thờ Tổ trên khuôn viên của ngôi nhà thờ cũ. Khi dỡ bỏ những bức tường chắn quanh ngôi nhà, người ta đã phát hiện nhiều tấm bia đá được xếp bên trong, được xây tường gạch bao bên ngoài một cách kín đáo. Khi chúng tôi về chùa để tiến hành công tác sưu tầm, sư thầy trụ trì chùa cho biết: Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), Hà Đông là một khu vực chiến sự, chịu nhiều tàn phá của chiến tranh. Nhiều làng mạc, đình chùa bị phá hủy nặng nề. Để bảo vệ, giữ gìn những chứng tích lịch sử, nhân dân đã chuyển những tấm bia từ nhiều nơi xung quanh khu vực về cất giấu tại chùa Cầu Đơ. Những tấm bia này và một số bia tại chùa đã được xếp vào trong gian nhà thờ Tổ, sau đó người ta xây gạch bên ngoài. Vì vậy, từ khi hòa bình lập lại đến thời gian gần đây, những tấm bia đó vẫn trong tình trạng “mai danh ẩn tích”.

Qua khảo sát, chúng tôi được biết chùa Cầu Đơ xưa là chùa Hộ Quốc thuộc thôn Cầu Đa (Cầu Đơ), xã Thượng Thanh Oai, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Thôn Cầu Đa có bốn giáp Đông, Tây, Nam, Bắc. Những tấm bia được cất giấu trong thời gian kể trên với tổng số là 42 tấm. Phần lớn các tấm bia được xây dựng vào đời Nguyễn, nhưng tấm bia sớm nhất là Hậu Phật bi ký năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707 - đời Lê), muộn nhất là Hậu Phật bi ký năm Bảo Đại thứ 15 (1940).

Chúng tôi đã tiến hành phân loại những tấm bia đó theo danh sách dưới đây theo phương pháp xếp nhóm loại hình văn bản, xuất xứ địa lý và trình tự thời gian:

 

TT

Loại hình

và tên văn bản

Niên đại

 

Bia hậu Phật

 

- 

Hậu Phật bi ký

Vĩnh Thịnh 3 (1707)

- 

Hộ Quốc bi tự

Vĩnh Khánh vạn vạn niên (1730-1732)

- 

Hộ Quốc tự hậu Phật bi ký

Cảnh Hưng 42 (1781)

- 

Hậu Phật bi ký

Gia Long 10 (1811)

- 

Hậu Phật bi ký

Minh Mệnh 3 (1822)

- 

Hậu Phật bi ký

Minh Mệnh 6 (1825)

- 

Hậu Phật bi ký

Minh Mệnh 10 (1829)

- 

Hậu Phật bi ký

Thiệu Trị 4 (1844)

- 

Hậu Phật bi ký

Tự Đức 17 (1864)

- 

Hậu Phật bi ký

Tuế thứ Nhâm Dần niên (?)

- 

Hậu Phật bi ký

Tuế thứ Quý Hợi niên (?)

- 

Hậu Phật bi ký

Bảo Đại 15 (1940)

 

Bia gửi giỗ tại chùa

- 

Ký kỵ bi ký

Minh Mệnh 19 (1838)

- 

Ký kỵ bi ký

Minh Mệnh 19 (1838)

- 

Ký kỵ bi ký

Minh Mệnh 21 (1840)

- 

Ký kỵ bi ký

Thiệu Trị 4 (1844)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 5 (1852)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 7 (1854)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 12 (1859)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 21 (1868)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 33 (1880)

- 

Chính kỵ bi ký

Thành Thái 3 (1891)

 

Bia gửi giỗ tại giáp Đông (hậu giáp Đông)

- 

Hậu giáp bi ký

Minh Mệnh 17 (1836)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 21 (1868)

- 

Ký kỵ bi ký

Tự Đức 35 (1882)

- 

Đông giáp ký kỵ bi ký

Đồng Khánh 3 (1888)

- 

Vạn niên bi ký

Không

 

Bia gửi giỗ tại giáp Tây (hậu giáp Tây)

- 

Ký kỵ Tây giáp

Tự Đức 21 (1868)

- 

Ký kỵ Tây giáp

Tự Đức 32 (1879)

- 

Ký kỵ Tây giáp

Tự Đức 34 (1881)

- 

Tây giáp bi ký

Thành Thái 4 (1892)

- 

Tây giáp bi ký

Thành Thái 6 (1894)

 

Bia gửi giỗ tại giáp Nam (hậu giáp Nam)

- 

Nam giáp ký kỵ

Tự Đức 30 (1877)

- 

Nam giáp bi ký

Đồng Khánh 1 (1886)

- 

Nam giáp bi ký

Thành Thái 6 (1894)

- 

Ký kị bi ký

Thành Thái 8 (1896)

 

Bia gửi giỗ tại giáp Bắc (hậu giáp Bắc)

- 

Ký kị bi ký

Minh Mệnh 21 (1840)

- 

Bắc giáp bi ký

Tự Đức 33 (1880)

- 

Bắc giáp ký kị

Đồng Khánh 3 (1888)

- 

Bắc giáp bi ký

Đồng Khánh 3 (1888)

- 

Ký kị Bắc giáp

Thành Thái 1 (1889)

- 

Bắc giáp bi ký

Thành Thái 4 (1892)

Trong số 42 bia trên, phần lớn các bài văn được khắc trên hai mặt, chữ khắc và trang trí đẹp, công phu, khuôn khổ bia thuộc loại trung bình (khoảng 87x42cm). Tác giả các bài văn bia đều là những nhà nho sống trong làng, không có người nào đỗ đạt cao, vì vậy lời văn không có những ý tưởng mang phong thái cao siêu hoặc sáo rỗng mà bình dị, đăng tải những thông tin mà giới chức trong giáp ngoài làng muốn lưu lại. Điểm đáng lưu ý là những bài văn bia này xuất hiện theo trình tự thời gian tương đối đều, phản ánh phần nào nhịp điệu sinh hoạt làng xã nông thôn vùng Hà Đông thời cận đại.

Có lẽ do được cất giấu trong thời gian dài, nên các tấm bia không có dấu vết bị hủy hoại nhiều. Vì vậy, việc in dập thác bản được tiến hành thuận lợi, bảo đảm chất lượng bản in dập trong công việc bảo quản, khai thác nghiên cứu và nhân bản sau này.

Qua việc sưu tầm những văn bia mới được phát hiện tại chùa Cầu Đơ, chúng tôi có một số suy nghĩ sau:

Văn bia là một loại hình văn bản hết sức quan trọng trong công tác nghiên cứu văn hóa - lịch sử. Khai thác tốt thông tin trong văn bia nói chung, mảng văn bia hậu nói riêng có giá trị cao trong việc tìm hiểu, đánh giá phong tục, tập quán, tín ngưỡng của một cộng đồng dân cư Việt Nam. Đồng thời với những giá trị khoa học, kết quả của việc nghiên cứu một cách hệ thống và chi tiết nội dung văn bia sẽ mang lại những quan điểm đúng đắn trong việc xây dựng, hoạch định những chương trình văn hóa hiện đại trên cơ sở bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống, trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.275-279)

Vũ Xuân Hiển
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm