26. Tiến sĩ Vũ Huy Trác và bản thần tích đình làng thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định (TBHN 2008)
TIẾN SĨ VŨ HUY TRÁC VÀ BẢN THẦN TÍCH ĐÌNH LÀNG THỊ TRẤN CỔ LỄ HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH
MAI XUÂN HẢI(Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
NGUYỄN QUANG TRUNG(Viện sử học)
Trong quá trình nghiên cứu sưu tầm ở địa phương, chúng tôi đã được đọc một bản thần tích về thành hoàng làng do Tiến sĩ Vũ Huy Trác người xã Lộc Điền, huyện Đại An, đỗ Tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 33 (1772) biên soạn, được lưu giữ tại đình làng thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Bản thần tích gồm 10 trang, khổ 20x16cm, chữ chân phương đá thảo, mỗi trang có 6 dòng, mỗi dòng khoảng 16 chữ, tất cả trên 750 chữ. Để tiện nghiên cứu, chúng tôi xin tạm phiên âm và dịch nghĩa.
Phiên âm
Cổ Lễ trang điền tổ Dương Bình vương sắc phong Đương cảnh thành hoàng phúc thần sự tích càn chi đệ lục bộ thượng đẳng nhân thần quốc triều lễ bộ chính bản ngã quốc. Phùng Ngọc thời, hữu nhị tướng Nguyễn Duy Lương, Dương Kế Thành, sơ chí Giao Thuỷ nhị giang hữu bạn, khuyến nhân tụ cư, bất cửu hựu thiên hồi Đại An Mậu Lực trang chi đông dĩ cư. Nhị công tuy khứ, nhị tại thử diệc hữu xổ ngư gia lai vãng. Kỳ thuỷ thử xứ vị hữu danh xưng, chí Bình Vương trị định hương ấp hậu, toại suất tùy tướng Dương Thục Phi. Dương Tế Mỹ, Nguyễn Vị Bình, Vũ Đại Hoà phân trúc trường đê dĩ ngự hải thuỷ, trường nhị thiện như lý. Sự hoàn, Vương đình xa tương chư nam tử nội ngoại gia thập ngũ thất, tuấn khê khẩn thổ hiệu Tùng Khê trang, nhân thử Bình Vương toại xưng hiệu Viết Tùng Khê công. Sở khẩn khả canh chủng giả ngũ bách dư mẫu, tuấn khê ngũ đới dẫn thuỷ nhập điền, kỳ đại giả viết Tùng Khê, bắc nhị Khê viết Trúc Khê, Lợi Khê, nam nhi Khê viết Lộ Khê, Ngâ Khê, chí kim thị Tùng Khê ngũ trang dã. Tùng Khê công, Ái Châu, Dương Xá nhân huý Tam Kha, Thị Dương Đình Nghệ công đệ tam tử. Tự thiếu thiên tinh thông tuệ, văn vũ kiêm ưu, thường tòng phụ khứ chinh phạt hữu công, chúng giai tín phục. Hữu tam thê sinh hạ phàm thập nam cửu nữ, nhiên chư tử giai tòng nông công thủ nghệ, vụ dĩ ôn bão, bất sự tang bồng. Đinh Dậu niên Phong châu Kiều Công Tiễn sát Dương Đình Nghệ, hậu niên Đường Lâm nhân Dương Công tế, tử Ngô Quyền tòng Ái Châu tương quân dữ Tam Kha báo cừu tru Công Tiễn. Nam Hán đế toại phong tử Hoàng Thao vi Giao Vương hướng Bạch Đằng nhi nhập. Tam Kha công khiển Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi phạt mộc tam thiên châu tháp nhập lưu trung, lịch cận tam lý trường, đãi thủy tướng tương quân khiêu chiến dẫn tặc việt quá xung trận, thuỷ thoái Ngô Quyền công suất chư tướng tự giang khẩu lục công. Tam Kha suất bản bộ binh đất Hoằng Thao. Hán quan đại bại. Kỷ Hợi niên Ngô Quyền tự xưng vương ư Cổ Loa - chế định triều nghi, thiết văn vũ chức. Hậu niên Ngô Vương băng, Tam Kha công quyền nhiếp chính tự xưng Bình vương, tự Giáp Thìn niên chí Canh Tuất niên đa hữu chính tích. Ất Tỵ niên cử Dương Tế Mỹ, Dương Thiên Hòa, Nguyễn Vị Bình khứ chư xứ đốc cát định địa giới trấn quan. Bính Ngọ niên trúc trường xà đê lịch tam bách thập ngũ ấp, Cổ Lễ trang thị kỳ nhất dã. Nhiên tự tiền chí hậu công sở cư giả giai thác danh dĩ ngữ dữ phương dân, duy Kiều Công Hãn xuất diện bất thần, công tảo tri đắc, tồn tha nhân công vị khả tri. Canh Tuất niên công khiển Ngô Xương Văn, Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc chinh thổ tù thác loạn, bán đồ tam nhân phản sư công Tam Kha giáng vi Chương Dương công Sơ diệc chí Chương Dương lập ấp, tự thử công toại thác danh vi Nguyễn Dĩ An, hậu hồi Tùng Khê cư trú, thời Quý Hợi niên nhị nguyệt nhị thập cửu nhật. Giáp Tý niên, công thiên chí Đại An huyện Trường Khê trang cư trú chí lão nhược. Thiên Phúc nguyên niên Canh Thìn hồi Ái Châu cố quán, bát nguyệt sơ thập nhật hóa vu chính tẩm. Chư tử tôn hành táng vu Bạch Tượng đầu thổ phụ, kỳ địa quảng ước ngũ cao, tiền hữu tỉnh thuỷ, hậu hữu ỷ hình lưỡng thủ trường bão, toạ khảm hướng ly. Tại Tùng Khê trang hữu ngũ nam cư trú, tại bản quán hữu ngũ nam cư trú. Kỳ bản quán thị trưởng tử danh Đại Thiện, Tùng Khê thị nhị tử danh Tiền Du, ngoại giả vô năng khảo đắc. Thiệu bình nguyên niên Giáp Dần thập nhất nguyệt, hậu duệ Phục Lễ châu tri Dương Đại Nhuệ hồi Cổ Lễ trang, dĩ tư tiền trùng tạo từ sở hoàn, tả biểu tấu Thái Tông đế văn tri, toại khiển Bắc Đạo Tư mã Lê Văn An hành quốc tế lệ. Hậu Văn An tử Lê Văn Hoành diệc cư thử vi dược thương chí phú. Tông thử quốc đảo dân kỳ, nẫm trứ linh ứng. Chí Mạc Thời binh dịch thái trọng, chư sự tiệm phế, kim ngã hữu sự vãng thám, tộc nhân yêu ngã viện bút chí sự, tứ diệc thiện hành khả khuyến, lý bất dung từ. Thời Cảnh Hưng tam thập thất niên chính nguyệt sơ thập nhật. Lộc Điền Tiến sĩ Vũ Huy Trác chí. Sơn Nam đông đạo tướng quân Dương Quảng Bình tả tự.
Dịch nghĩa
Sự tích điền tổ Dương Bình vương người trang Cổ Lễ được sắc phong phúc thần Đương cảnh thành hoàng bộ thứ chi càn thượng đẳng nhân thần quốc triều Lễ bộ chính bản. Tại nước ta vào thời Phùng Ngọc có hai vị tướng tên là Nguyễn Duy Lương và Dương Kế Thành, ban đầu tới chiếm một vùng hữu ngạn sông Nhị thuộc huyện Giao Thủy, chiêu dân tụ hội nhưng ở không được bao lâu lại phải dời về phía đông trang Mậu Lực, huyện Đại An cư trú. Hai ông đi rồi nhưng ở đó vẫn có vài nhà thuyền chài qua lại. Xưa kia đất này chưa có tên gọi, đến khi Bình Vương phân định lại hương ấp, mới cho tùy tướng Dương Thục Phi, Dương Tế Mỹ, Nguyễn Vị Bình, Vũ Đại Hoà cùng nhau chia việc đắp đê ngăn nước biển dài hơn hai ngàn dặm. Xong việc Vương dừng xe đem các con trai hai nhà nội ngoại được 15 hộ, khơi ngòi, khẩn đất để ở và đặt hiệu vùng đất mới khai phá là trang Tùng Khê. Nhân Thế vương mới xưng hiệu là Tùng Khê Công. Số ruộng cày cấy được quãng hơn 500 mẫu. Ngòi khơi thành năm dải, dải to gọi là Tùng Khê, hai dải phía bắc gọi là Trúc Khê; hai dải phía nam gọi là Lô Khê, Nga Khê, nay là năm trang của Tùng Khê. Ông Tùng Khê quê gốc ở Dương Xá, Ái Châu, tên húy là Tam Kha con thứ ba của ông Dương Đình Nghệ. Từ thuở nhỏ tư trời thông tuệ, văn võ đều thông, từng theo cha đánh dẹp có công được nhiều người tin phục. Ông có ba vợ, sinh được mười con trai, chín con gái nhưng các con đều chăm chỉ việc nông cốt lấy ấm no làm đích, mà không nghĩ đến việc tang bồng vùng vẫy. Năm Đinh Dậu (937) người Phong Châu là Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ. Năm sau (938) người ở Đường Lâm con rể của Dương Công là Ngô Quyền từ Ái Châu dẫn quân ra cùng Tam Kha giết Công Tiễn để báo thù. Vua Nam Hán liền phong cho con mình là Hoằng Thao làm Giao Vương dẫn quân tiến vào theo cửa Bạch Đằng. Ông Tam Kha sai Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi chặt 3.000 cây gỗ đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm. Đợi lúc nước lên đem quân khiêu chiến khiến giặc vượt qua bãi cọc, khi nước xuống Ngô Quyền đem chư tướng từ cửa sông hết sức đánh tập hậu. Ông Tam Kha cho quân bản bộ dùng tên dài ở hai bờ bắn xả vào quân giặc, chém được Hoằng Thao làm cho quân Nam Hán đại bại. Năm Kỷ Hợi (939) Ngô Quyền tự xưng Vương ở Cổ Loa chế ra nghi vệ triều đình, sắp đặt bậc quan văn võ. Năm sau Ngô Vương băng, Tam Kha quyền nhiếp quốc chính tự xưng là Bình Vương, từ năm Giáp Thìn (944) đến năm Canh Tuất (950) có nhiều chiến tích đáng kết. Năm Ất Tị (945) ông cử Dương Tế Mỹ, Dương Thiên Hoà, Nguyễn Vị Bình phân địa giới cắt cử các quan cai trị xong. Đến năm Bính Ngọ (946) thì đắp đê Trường Xà kéo dài trên địa phận 355 ấp, Cổ Lễ là một trong những trang ấy. Nhưng từ đầu chí cuối, tới đâu ông cũng thác danh để nói với dân sở tại. Thời ấy chỉ có Kiều Công Hãn là ra mặt không thuần phục, còn các vị khác thì không biểu lộ, nên ông không biết. Năm Canh Tuất (950) ông sai cháu là Ngô Xương Văn và Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đi đánh thổ tù, nhưng đến nửa đường thì ba người quay lại chống ông, rồi ông bị giáng truất là Chương Dương Công. Từ đó ông đến Chương Dương lập ấp, sau ông lại đổi tên là Nguyễn Dĩ An dời về Tùng Khê (Cổ Lễ) ở lại. Bấy giờ là ngày 29 tháng 2 năm Quý Hợi (953). Năm Giáp Tý (954) ông đến ngụ ở trang Trường Khê huyện Đại An, ở tiếp đến khi già yếu. Năm Canh Thìn (980) ông về quê cũ Ái Châu, ở đến ngày 10 tháng 8 thì mất tại giường ngủ. Các con cháu… hành lễ an táng trên gò đất hình con voi rộng ước 5 sào, phía trước có giếng nước, sau có hình cái ngai vươn hai dài ôm lấy khu mộ, toạ khảm hướng ly. Bấy giờ đất Tùng Khê có năm con trai của ông cư trú, ở quê có năm con trai cư trú, đứng đầu ở quê thì con trưởng tên là Đại Thiện, ở Tùng Khê thì con thứ hai đứng đầu tên là Tiền Du, ngoài ra chưa khảo cứu được. Tháng 11 năm Giáp Dần (1434) niên hiệu Thiệu Bình năm đầu, hậu duệ là quan Tri châu châu Phục Lễ tên là Dương Đại Nhuệ về đất Cổ Lễ dùng tiền riêng xây sửa lại thờ tự xong, bèn dâng biểu tâu vua, vua Thái Tông biết việc mới sai Bắc đạo Tư mã Lê Văn An là lệ quốc tế, sau con của Văn An là Lê Văn Hoành ở lại làm nghề buôn bán thuốc rất giàu. Từ ấy nước đảo dân cầu thiêng liêng rõ rệt. Đến thời Mạc việc đóng góp phục vụ binh dịch quá nặng, nên các việc dần dần bị phế bỏ. Nay tôi có việc tới thăm, người trong họ nhờ tôi ghi việc, tôi nghĩ đó là việc thiện không tiện chối từ, nên mượn bút viết.
Nhận định bước đầu
Đây là bản thần tích Tiến sĩ Vũ Huy Trác biên soạn trên cơ sở bản thần tích gốc của bộ Lễ do Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ biên soạn trước đây vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Chính vì vậy cho nên tên phần đầu của thần tích đã có dòng biên soạn là "Đương cảnh thành hoàng phúc thần sự tích càn chi đệ lục bộ thượng đẳng nhân thần quốc triều lễ bộ chính bản". Tuy nhiên do vật đổi sao dời, di tích biến đổi, cho đến năm 1776 Tiến sĩ Vũ Huy Trác đã bổ sung thêm những tài liệu mới được nghiên cứu ở địa phương và làm cho nội dung cuốn thần phả và lịch sử vị thành hoàng làng là điền tổ Dương Bình vương được phong phú thêm, sâu sắc thêm.
Từ đó giới nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu Hán Nôm có thêm những tư liệu để hiểu sâu sắc thêm về vùng đất thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong tiến trình lịch sử của dân tộc và đặc biệt là hiểu rõ hơn gia thế và lịch sử của vị thành hoàng làng Dương Bình vương tức Dương Tam Kha trong thế kỷ X. Mối quan hệ của ông ở trên các vùng đất quê gốc là Ái Châu, Thanh Hóa đến vùng đất Chương Dương, huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay và những đóng góp của ông trong việc khẩn hoang, khơi ngòi phát triển hương ấp làng xã vùng đất Cổ Lễ lịch sử./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.328-333