26. Về tấm bia ở đền thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà Nội (TBHNH 2004)
VỀ TẤM BIA Ở ĐỀN THỜ CHU VĂN AN
Ở LÀNG HUỲNH CUNG, THANH TRÌ, HÀ NỘI
MAI HỒNG
TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chu Văn An (còn có tên là Chu An), tên tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn, thụy là Văn Trinh, Khang Tiết. Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn (1292) thời Trần Nhân Tông, người làng Quang - xã Thanh Liệt. Ông mất ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) hưởng thọ 78 tuổi, mộ táng trên núi Kỳ Lân (tục gọi là Côn Sơn) thuộc dãy núi Phượng Hoàng huyện Chí Linh, Hải Dương. Cho tới nay chưa ai biết ông thi cử, đỗ đạt vào thời nào mà người ta chỉ biết ông là một bậc đại nho. Lúc trẻ ông tự mở trường tư để dạy học trò tại quê ngoại là làng Huỳnh Cung. Người theo học cửa ông rất đông, nhiều người hiển đạt lừng danh như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... Lại có cả một huyền thoại về một người học trò của Chu Văn An là con trai vua Thủy Tề. Theo truyền thuyết, bấy giờ trời nắng lắm, hai ba tháng liền không có một hạt mưa, cây cối hoa màu thảy đều khô héo, thầy Chu kêu gọi đám học trò rằng ai biết ở đâu có thánh thần linh thiêng thì hãy tới đó cầu đảo xin trời cho mưa, cứu sống mùa màng, giúp đỡ nhân dân. Người học trò quê ở Thủy cung ấy, mài mực rồi chấm bút vào nghiên, vung bút lên trời, mực tung đến đâu thì làm thành mây mưa tới đó, nước mưa làm tràn ngập cả ruộng đồng, cây cối ngô khoai đều xanh tốt trở lại, năm ấy bội thu. Còn cái nghiên quăng tới đầu làng Quỳnh Đô rơi xuống cánh đồng tạo thành đầm lớn, nước đen quanh năm nên dân gian gọi là Đầm Mực. Bởi để lộ thiên cơ mà người học trò đó bị trời trừng phạt. Mấy hôm sau, người ta thấy xác con thuồng luồng nổi lên ở Đầm Đại. Thầy Chu cho học trò chôn cất thuồng luồng và lập đền thờ tại nơi ở làng Bằng, gọi là Đền Càn, hiệu là Bảo Linh Thần vương. Về sau ở đình các làng Linh Đàm, Đại Từ, Tứ Kỳ, Hữu Thanh Oai, Lê Xá cũng cùng thờ thần Bảo Linh vương. Vua Trần Minh Tông (1314-1329) mến tiếng thầy Chu Văn An bèn vời vào triều phong cho chức Tư nghiệp Quốc tử giám dạy Thái tử. Đến đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369), ông dâng sớ trảm 7 viên quan lộng hành (Thất trảm sớ) nhưng không được chấp nhận, ông bèn treo ấn từ quan về ở ẩn trên núi Phượng Hoàng (nay thuộc xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) xưng hiệu là Tiều Ẩn. Năm 1370, ông qua đời ở đó, hưởng thọ 78 tuổi. Được truy tặng tước Văn Trinh công, lại được tòng tự ở Văn miếu và ban thụy là Khang Tiết. Khang Tiết là tên thụy của Thiệu Ung (1011-1077) một đại nho đời Tống. Thiệu Ung là người kế nghiệp dòng Tượng Số học của Trần Đoàn(1). Triều đình và người đương thời hiểu rõ Chu Văn An là người chịu nhiều ảnh hưởng của Lý học Tống Nho, nên ban tặng tên thụy đó cho ông. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên bàn rằng: "Văn Trinh không gặp vua anh minh, nên chính học của ông đời sau mới thấy được. Hãy lấy Văn Trinh mà nói, thờ vua rất thẳng thắn can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài đều ở cửa ông mà ra. Tiết tháo cao thượng, tư thế đàng hoàng, đạo làm thầy vẫn giữ nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà kẻ nịnh hót phải sợ. Nếu không tìm hiểu nguyên cớ, thì ai biết thụy hiệu của ông mới xứng với con người ông. Ông thực đáng coi là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào Văn miếu(2). Quả đúng chẳng ngoa bức các bức đại tự: “Lý học lưu phương” (理學流芳) và “Vạn thế sư biểu” (萬世師表)tại các đền miếu thờ Chu Văn An.
Cũng một niềm tưởng vọng như sử gia Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Công Thái có lần tới yết đền thờ Chu Văn An, tại nơi ngồi giảng bài cho học trò ngày xưa ở đầu làng Huỳnh Cung (nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội), để tỏ lòng ngưỡng vọng của mình với tiền nhân họ Chu, cái sở đắc của mình với “Vạn thế sư biểu” họ Chu và đồng thời muốn lưu lại cái điều sở vọng, sở nguyện của mình cho muôn đời hậu thế mà ông soạn bài ký bia để kỷ niệm sau hai năm Nguyễn Công Thái đỗ Tiến sĩ và sau hai năm ông lãnh chức Giám sát Ngự sử đạo Nghệ An về thăm quê.
* Nguyễn Công Thái (còn có tên là Công Thể), theo gia phả, huý là Phấn, tự là Hanh, con trai cả của cụ Phúc Cơ, sinh vào giờ Tý, ngày mồng 1 tháng 10, năm Giáp Tý niên hiệu Chính Hòa thứ 5 (1684) đời vua Lê Hy Tông. Năm lên 8 tuổi cha cho theo học Hồng tiên sinh (TS. Hồng Hạo) người bản ấp vài năm, thầy họ Hồng rất yêu và thường khen: "Ngày sau tất đắc dụng cho nước nhà". Năm 16 tuổi theo cha (Phúc Cơ) vào kinh bái yết Công bộ Hữu thị lang Nguyễn tướng công người phường Đông Tác xin thụ nghiệp. Năm 19 tuổi (1703) thi ở trấn(3) được xếp hạng nhất, sau thi Hương đỗ Giải nguyên. Từ đấy Nguyễn Công Thái nổi danh văn tài nơi trường ốc. Đến khoa thi Hội năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời vua Lê Dụ Tông đỗ Hội nguyên, khi vào điện thí, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Lúc đầu được bổ chức Giám sát Ngự sử đạo Nghệ An, năm (1719) chuyển sang Giám sát Ngự sử đạo Thanh Hoa, rồi thăng lên chức Đốc Đồng xứ Hải Dương. Năm 1720, thăng chức Đông các Hiệu thư, vẫn lưu tại trấn. Năm 1723, trao chức Tham chính xứ Kinh Bắc, mấy tháng sau được triệu về kinh trao chức Tri Lại phiên (ở Bộ Lại). Năm Bảo Thái 9 (1727) vâng mệnh tiếp sứ nhà Thanh ở Mục Nam Quan, việc xong được thăng lên Hồng lô Tự khanh và Tế tửu trường Quốc tử giám. Năm 1728, Nguyễn Công Thái được triều đình cử lên biên giới cùng với Tả Thị lang Bộ Binh Nguyễn Huy Nhuận giao thiệp với nhà Thanh về việc cắm cột mốc biên giới giữ vững mỏ đồng Tụ Long, ổn định biên cương. Ông đã dựng bia khắc đá ở hai bờ sông (Bắc và Nam) ghi tạc mấy dòng chữ quan trọng mang tính lịch sử: “An Nam quốc, Tuyên Quang trấn, Vị Xuyên châu giới chỉ, dĩ Đỗ Chú giang vi cứ” và ghi chú: Ung Chính năm thứ 6 (1727) tháng 9 ngày 18 ủy quan Binh bộ Tả thị lang Nguyễn Huy Nhuận, Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Công Thể dựng bia đá (cột mốc)(4). Cùng năm ấy, ông đỗ thứ ba khoa thi Đông các (tức Hiệu thư - tương đương Thám hoa), vua phê bốn chữ: “Thần đạo ưng nhiên”. Làm quan trải các chức: Phó Đô ngự sử, Công bộ, Hình bộ Hữu Thị lang; Binh bộ, Lại bộ Tả Thị lang; Lễ bộ, Hộ bộ Thượng thư, Tham tụng, Thiếu bảo, trí sĩ. Sau được khởi phục, thăng lên Thượng thư bộ Lại, Thái tử, Thiếu bảo, Thượng trụ quốc. Tặng Thái tử, Thái phó tước Kiều Quận công thụy Trung Mẫn công...
Nguyễn Công Thái nổi tiếng văn tài ngay từ thời đi học. Nhưng thật đáng tiếc các tác phẩm của ông đã bị thất lạc hầu hết, tới nay chúng ta mới chỉ biết được bài văn trúng cách đỗ Tiến sĩ ở khoa thi Hội năm (1715) của ông chép trong sách Hàn các văn thể trình thức, sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (ký hiệu A.281) và bài văn bia tại đền thờ Chu Văn An mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây:
Bia có tên là Văn Trinh công từ bi ký (Bài ký bia đền thờ Văn Trinh công) do Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, Giám sát Ngự sử đạo Nghệ An người xã Kim Lũ soạn và dựng bia vào ngày 18 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717). Vốn bia xưa bằng chất liệu đá xanh ở núi Nhồi (Thanh Hóa), bia đã bị vỡ thành nhiều mảnh, chỉ còn lại rùa bằng đá xanh. Nay chúng ta chỉ được thấy bia được dựng bằng xi măng, hỏi các cụ cao niên ở làng cho hay, bia được khắc lại nguyên văn như trước. Chúng tôi cũng tin như vậy, bởi văn phong rất chặt chẽ, ý tứ dồi dào, đúng như thủ bút của cụ Nghè lừng danh Nguyễn Công Thái, lại thêm hai chữ “Đàm” (潭) trong “Thanh Đàm” (清潭) viết kỵ húy vua Thế Tông - Lê Duy Đàm. Điều lý thú trong hai chữ “Thanh Đàm” chỉ viết kiêng húy một chữ “Đàm” (潭) mà không kiêng húy chữ “Thanh” 清, chữ Thanh húy tên Thanh Đô vương Trịnh Tráng khi viết lược bỏ bộ thủy còn chữ “Thanh” (青) màu xanh. Bia cao 0,91x0,54cm, 18 dòng chữ, mỗi dòng 30 chữ tổng cộng 500 chữ Hán viết theo thể chân rất đẹp và dễ đọc. Bia 2 mặt. Hình thức của mặt trước: trán bia trang trí lưỡng long chầu nguyệt, hai diềm bia (bên trái, bên phải khắc hình dây cúc leo 5cm) và toàn văn bài ký chữ Hán. Mặt sau toàn văn bài lược dịch bằng Quốc ngữ của nhà thơ Trần Lê Văn.
Chúng tôi xin tham khảo bản lược dịch của nhà thơ để dịch trọn vẹn bài ký bia của Tiến sĩ Nguyễn Công Thái như sau:
Văn bia đền thờ ông Văn Trinh
Ông họ Chu, tên tự là Viết An, người huyện Thanh Đàm(清潭). Xưa làm quan trải bốn đời vua Trần, sau được tặng tên thụy là Văn Trinh công. Theo lệnh vua ông được tôn thờ ở Văn miếu. Đó là ngôi đền thờ đặc biệt. Nay ở địa phương còn có di tích giảng đàn của ông. Trải các triều đế vương đều được gia phong đẳng trật. Tới nay vẫn được tôn thờ làm Phúc thần, trước có bia đá để ghi lại công tích của ông. Nhưng còn phải suy đi tính lại mãi về việc tìm chọn đá tốt về sửa sang mài nhẵn, nay thôn làng thờ phụng lại cần có văn tạc vào bia, kẻ hậu sinh tôi vinh hạnh cùng được dự vào việc của hàng huyện thì không dám lấy cớ ngu đần nông cạn để chối từ, vậy xin được chắp tay vái lậy soạn lời tựa cho bia. Thiết nghĩ cái quý giá của kẻ sĩ quân tử là chỗ cầu học và chuộng chí hướng để xả thân vì nghĩa mà không a dua với thói tục. Nếu bình luận về các nhà Nho của nước Việt ta thì duy chỉ có ông Văn Trinh là người phải thẹn, đó là số mệnh đợi ông ấy. Ông luôn hư tâm, không màng danh lợi, đức hạnh của ông cao siêu nhường nào, sở học của ông chân chính uyên thâm làm sao, khiến cho người ta phải kính cẩn bái vọng suy làm tôn sư, mà đạo thầy càng uy nghiêm, đệ tử của ông rất nhiều người thành đạt. Ơn huệ và công lao của ông để lại cho nền tư văn phong phú vô cùng. Năm Khai Thái (1324-1329) đời vua Trần Minh Tông ông vào triều làm chức quan Tư nghiệp. Ông ở vào địa vị biểu trưng của tất cả những gì gọi là mực thước thánh mô hiền phạm cao siêu vời vợi để cho đám sĩ tử chiêm ngưỡng nghiêm cẩn. Tới niên hiệu Thiệu Phong (1344-1357) đời vua Trần Nhân Tông, ông dâng sớ chém đầu 7 tên lộng thần khiến cho lũ nịnh hót sợ thót con tim. Lời trung nghĩa ấy mới lẫm liệt hào hùng làm sao. Nhưng lời can ngăn không được vua nghe, tức thì ông treo mũ từ quan, bỏ về nơi nghìn trùng non xanh nước biếc, sớm chiều tiêu dao, nhắm mắt đưa chân mặc cho thế cục xoay vần, chính sự làm ngơ, gia phong sắc tặng (của triều đình) chẳng màng ngó. Đó chẳng phải là cái tên Văn Trinh đã phát ra lời răn đe cảnh tỉnh của thánh hiền từ xa xưa đó sao!. Nếu không phải là ông thì còn có học giả nào xứng với danh hiệu Thái sơn liêm sỉ kia ? Không phải ông thì là ai trong đám sĩ phu xứng với danh cột trụ về phẩm hạnh cao thượng đây ? Tên thụy "Văn Trinh" quả không thẹn với lẽ đẹp ngàn năm thiên cổ phụng thờ đó ru ? Khí tiết của ông sự nghiệp của ông sừng sững cao như ngọn núi Chí Linh, nó chảy dài mãi tựa dòng nước Thanh Đàm ở quê ông. Đền thờ linh thiêng của ông ở trên núi Chí Linh nó sẽ cao mãi tới cùng với đỉnh núi Chí Linh trong trời đất và nó sẽ phun ra dòng nước thơm chảy về hạ lưu muôn đời bất tận. Điều ấy chẳng phải đã có trong việc dựng bia đá xưa nay rồi sao! Nhưng mấy dòng chữ Lệ đen khắc vào đá cứng đây, cũng tức là để nói về đạo đức, về sự nghiệp, về thanh danh, về khí tiết rất hiển hiện, khiến cho người ta nhìn vào thì sinh lòng ngưỡng mộ, thì như trông thấy Thày - đó là sự sùng bái, là sự ngưỡng vọng: một là để khích lệ người ta mài dũa cái đức hạnh khiêm nhường; một là người ta tẩy rửa cái thói nghênh ngang. Dựng bia đá là sự mở mang giáo dục rất trọng đại, nên tôi làm bài ký này.
Kẻ hậu học, Ất Mùi khoa
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
Nghệ An đạo Giám sát Ngự sử người xã Kim Lũ
Nguyễn Công Thể kính soạn
Ngày 28 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh 13 (1717) dựng bia.
Xã Cung Hoàng huyện nhà phụng thờ dựng bia.
Chú thích:
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb. KHXH, H. 1985. tr.151-153,
(2)Đại cương triết học Nho giáo Trung Quốc của Trần Trọng Kim, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1941, tr.440-443
(3)Bấy giờ nhà Lê chưa đặt bộ máy hành chính quận - Trong cuốn Bùi thị gia phả do Mão Hiên - Bùi Phổ biên soạn thời Gia Long Minh Mệnh (1802-1840) có đoạn chép: “Bùi Xuân Nghi khôi ngô tuấn tú có tiếng, năm 16 tuổi thi huyện đậu thứ nhất, thi ở trấn đỗ thứ hai cùng nổi danh trường ốc với Nguyễn Công Thể người xã Kim cùng trong một huyện”.
(4)Đại Việt sử kí tục biên, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.109./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr. 218-224)