CÁC VĂN BẢN HÁN NÔM XÃ THỂ CẦN,
CHÂU THANH SƠN, PHÚ THỌ
NGUYỄN HỒNG HẠNH
Trường cấp III Dân tộc nội trú - Phú Thọ
Thanh Sơn là huyện miền núi tỉnh Phú Thọ, một trong những huyện có nhiều xã; 39 xã và 1 thị trấn. Cư dân chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, khoảng 80% là đồng bào dân tộc Mường, còn lại là Dao, Cao Lan, H.Mông… Người dân nơi đây có một chế độ tự quản, trị an khá tốt, nó được thể hiện qua những văn bản Hán, Nôm còn sót lại. Tư liệu Hán Nôm tuy không còn tồn tại trên bia đá chuông đồng, sắc phong, ngọc phả, thần tích, hoành phi, câu đối, nhưng đổi lại tư liệu - văn bản chữ Hán, Nôm còn ở huyện Thanh Sơn là những pho sách, chúc thư bằng đồng, chúc thư viết trên vải soạn năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) đời Lê Thái Tổ, hương ước, hoặc sách đám chay của đồng bào dân tộc Dao (sách dùng cúng trong tết nhảy), hoặc những văn bản bẩm tấu về mọi việc trong xã qua các đời Lý trưởng. Một trong những xã còn lại các văn bản Hán - Nôm chúng tôi muốn nhắc đến là xã Tân Lập. Các văn bản mà chúng tôi tìm thấy và phô tô được, cho thấy chế độ trị an, tinh thần tự quản của làng xã, thôn bản ở đây thời phong kiến khá chặt. Tất cả mọi hoạt động cưới xin, ma chay, thăng chức, mua bán, đóng thuế… đều được ghi chép khá cụ thể. Các văn bản đó bắt đầu được thực hiện chặt chẽ từ thời Gia Long đến thời Bảo Đại. Trước đó đã có những văn bản chữ Hán, chữ Nôm thời Lê như chúc thư đồng của viên quan lang Đinh Thế Thọ đã ghi cụ thể việc bản xã đối với nhà Lang. Chúc thư vải ghi lại việc kế nối của con cháu Thổ Tù. Một kiểu thiết chế, chế độ làng chạ thời Lê ở vùng đồng bào dân tộc nói chung, đồng bào dân tộc Phú Thọ nói riêng. Nhưng chuyển sang thời Nguyễn thì các thiết chế đó được cụ thể hoá bằng việc quản của các Lý trưởng, Cai tổng. Hơn 60 văn bản của chức dịch, Lý trưởng xã Thể Cần (Thái Cần) Châu Thanh Sơn bây giờ là xã Tân Lập - huyện Thanh Sơn ghi chép lại, tổng cộng từ thời Gia Long đến Bảo Đại là 67 văn bản. Cụ thể đời Gia Long 5 bản, Minh Mệnh 3 bản, Thiệu Trị 6 bản, Tự Đức 27 bản, Hàm Nghi 1 bản, Đồng Khánh 1 bản, Thành Thái 15 bản, Khải Định 1 bản, Bảo Đại 7 bản. Các văn bản này với nội dung là: Lập khoán lệ về việc thu tiền quan dịch xã, bổ nhiệm Lý trưởng, khai sinh tử, thuế đinh của xã. Chúng tôi không tiện để phô tô và gửi tất cả các bản xuống Viện Nghiên cứu Hán Nôm để thông báo mà chỉ trích lược và kê tên năm 67 văn bản đó. Xin được liệt kê như sau:
1. Lập khoán lệ về việc bổ thu tiền quan dịch xã Thể Cần lập năm Tự Đức thứ 18 (1865)
2. Lập khoán lệ về việc phân bổ tiền thu quan dịch lập năm Tự Đức thứ 22 (1869)
3. Lập khoán lệ về tiền ứng vụ việc quan lập năm Tự Đức thứ 5 (1852)
4. Lập khoán lệ về việc trị an lập năm Thành Thái thứ 2 (1890)
5. Lập khoán năm Khải Định thứ 2 (1917)
6. Lập khoán lệ về việc phân biểu cho Đinh Công Trinh năm Thiệu Trị thứ nhất (1841)
7. Lập khoán lệ về việc nộp tiền gạo của thôn Lưu Hạ, xã Thể Cần năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)
8. Lập khoán lệ về việc phân bổ cho 12 người tráng nam xã Thể Cần năm Hàm Nghi thứ nhất (1885)
9. Lệnh chỉ của bộ lễ, giới cấm xã dân nhân có lễ tế nam giao lập năm Tự Đức thứ 6 (1853) và văn bản gửi cho xã Thể Cần
10. Văn bản của Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa về việc trị an lập Tự Đức thứ 32 (1879)
11. Văn bản hành chính của sách trưởng Đinh Thế Khoa lập năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), sách Hiến Cần huyện Thanh Xuyên.
12. Tờ bẩm của Lý trưởng xã Thể Cần, tổng Yên Lãng, huyện Thanh Thủy, phủ Gia Hưng về tình hình trong xã năm Tự Đức thứ 4 (1851)
13. Lệ cấp về việc tư vọng - khánh hạ lập năm Thành Thái thứ 9 (1897)
14. Qui định phần biểu thịt năm Thiệu Trị thứ 1 (1841)
15. Tờ trình về tình hình dân số, ruộng đất của Lý trưởng năm Tự Đức thứ 4 (1851)
16. Văn bản hành chính năm Thành Thái thứ 4 (1892)
17. Tờ trình của Lý trưởng Đinh Công Tuân năm Thành Thái thứ 13 (1901)
18. Qui chế về cỗ cúng trong xã lập năm Thành Thái 8 (1896)
19. Văn bản hành chính lập năm Tự Đức thứ 5 (1852)
20. Giấy bổ nhiệm Lý trưởng cho Đinh Công Tuân của Tri châu, châu Thanh Sơn năm Thành Thái thứ 8 (1896)
21. Văn bản hành chính lập năm Tự Đức thứ 4 (1851)
22. Tờ tình của Lý trưởng Đinh Công Tuân, năm Thành Thái 8 (1896)
23. Tờ Sức về việc đã phòng dịch trâu bò năm Đinh Dậu ?
24. Biên nhận tiền cho Lý trưởng Đinh Văn Môn năm Bảo Đại 2 (1926)
25. Tờ Sức về phòng dịch trâu bò năm Đinh Dậu?
26. Văn bản ký kết năm Bảo Đại thứ 11 (1936)
27. Biên nhận tiền lập năm Thành Thái thứ 1 (1889)
28. Biên nhận lập năm Bảo Đại thứ 5 (1929)
29. Tờ bẩm về số người chết năm Tự Đức thứ 5 (1867)
30. Tờ bẩm về việc khuyết Lý trưởng năm Tự Đức thứ 4 (1851)
31. Tờ bẩm tính của Lý trưởng năm Tự Đức thứ 20 (1867)
32. Tờ bẩm lên lão năm Tự Đức thứ 20 (1867)
33. Kê khai sổ tử năm Tự Đức thứ 10 (1857)
34. Giấy báo tử năm Tự Đức thứ 4 (1851)
35. Nghị định của khâm sai Hoàng Cao Khải lập năm Tự Đức thứ 9 (1856)
36. Tờ trình của chức dịch xã Thể Cần, năm Thành Thái thứ 8 (1896)
37. Khai sổ thuế đinh xã Thể Cần tổng Yên Lãng năm Tự Đức thứ 10 (1857)
38. Kê khai số thuế của Lý trưởng xã Thể Cần năm Thành Thái thứ 8 (1896)
39. Giấy biên nhận nộp tô thuế - sách Hiến Cần năm Minh Mệnh thứ 2 (1827)
40. Tờ khai tổng Yên Lãng, xã Thể Cần năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), kê khai dân số năm 1847
41. Tờ bẩm xã Thể Cần, tổng Yên Lãng năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) kê khai ruộng tư (1840)
42. Xã Thể Cần tổng Yên Lãng kê khai dân số năm Thiệu Trị 1 (1841)
43. Bảng kê khai các vị thuốc cần dùng theo ấn định của các đình thần, Viên ngoại lang Bùi Huy Phiên, năm Tự Đức thứ 4 (1851)
44. Kê khai về các phương thuốc chữa bệnh năm Tự Đức thứ 3 (1852)
45. Kê biên về các việc tự cấp rượu gạo, viết năm Thành Thái thứ 16 (1904)
46. Biên nhận của Tri huyện Đinh Văn Môn thuế vụ đông năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)
47. Biên nhận tiền ứng vụ cho thổ Từ Đinh Văn Môn lập năm Bảo Đại thứ 10 (1935)
48. Biên nhận tiền cho Đinh Văn Phương năm Bảo Đại thứ 1 (1926)
49. Biên nhận tiền ứng vụ cho Tù Đinh Văn Phương lập năm Bảo Đại thứ 14 (1979)
50. Giấy biên nhận tiền ứng vụ: Thổ Tù Đinh Văn Phương năm Bảo Đại thứ 19 (1935)
51. Tờ bẩm khai tử của Lý trưởng năm Tự Đức thứ 20 (1867)
52. Tờ bẩm khai lên lão của Lý trưởng lập năm Tự Đức thứ 20 (1867)
53. Tờ bẩm của quan Tri phủ châu Thanh Sơn, gửi xã Thể Cần, tổng Yên Lãng ngày 29 tháng 5 năm Thành Thái thứ 11 (1899)
54. Tờ trát quan của quan huyện Thanh Sơn cho xã Thể Cần ngày 27 tháng 9 năm Tự Đức thứ 23 (1870)
55. Tờ bẩm của Lý trưởng xã Thể Cần huyện Thanh Thủy, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa Đinh Viết Bình về các hạng ruộng công, tư đất đai của xã năm Tự Đức thứ 10 ngày 01 tháng 12 năm 1857
56. Tờ khai bẩm của Lý trưởng xã Thể Cần tổng Yên Lãng châu Thanh Sơn tỉnh Hưng Hóa về tình hình trong xã (đinh - điền - số hộ) Lý trưởng Ngọc Văn Trúc ngày 13 tháng giêng năm Thành Thái thứ 8 (1896)
57. Biên nhận tiền thuế của huyện Thanh Thuỷ cho Lý trưởng xã Hiến Cần năm Tự Đức thứ 7 (1854)
58. Tờ bẩm về việc khất trước bạ (vào sổ quan sảnh) cho Đinh Văn Hưng 24 tuổi của Lý trưởng xã Thể Cần tổng Yên Lãng huyện Thanh Thủy, tỉnh Hưng Hóa ngày 01-3 năm Tự Đức thứ 20 (1867)
59. Bản kê khai tình hình làng xã của Lý trưởng xã Thể Cần, tổng Yên Lãng, châu Thanh Sơn ngày 07-4 năm Thành Thái thứ 5 (1893)
60. Năm Kỷ Hợi tu tác tân số lưu truyền vạn thế kế tử nhược tôn. Làm ngày 18 tháng 2 năm Thành Thái thứ 8 (1896) của viên chánh thổ Tù kiêm Lý trưởng xã Thể Cần, tổng Yên Lãng, Châu Thanh Sơn (Thể lệ cúng tế).
61.Sổ Đinh khai ngày 18 tháng 6 năm Gia Long thứ 13 (1814) của khúc Hiến Cần, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng.
62. Kê khai về dân cư, ruộng đất, bản đồ khúc Hiến Cần, tổng Yên Lãng, huyện Thanh Xuyên, trấn Hưng Hóa ngày 18-12 năm Gia Long thứ 11 (1819)
63. Sổ kê khai về ruộng tư của 3 hộ Đinh Trọng Huân, Đinh Thế Khoa và Đinh Bá Văn
Ở khúc Hiến Cần, huyện Thanh Xuân, phủ Gia Hưng ngày 18-10 năm Gia Long thứ 13 (1814)
64. Thể Cần xã đinh điền chấp bằng lập năm Tự Đức thứ 31 (1878)
65. Bản kê khai dân số xã Hiến Cần tổng Yên Lãng, huyện Thanh Thủy, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa, ngày 14-12 năm Thiệu Trị thứ 1 (1841)
66. Danh sách 19 người nhận tội được an ủi vỗ về từ đời Gia Long thứ 12 (1811)
67. Sổ đinh bạ, thân bạ của Khúc Hiến Cần tổng Sơn Vị, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hóa lập năm Gia Long thứ 13 (1814)
Ngoài 67 văn bản của xã Thể Cần (nay là xã Tân Lập), huyện Thanh Sơn còn rất nhiều loại sách, tư liệu chữ Hán, chữ Nôm khác có giá trị, hiện đang còn nằm trong dạng tiềm ẩn của huyện Thanh Sơn mà chúng tôi chưa có dịp để khai thác. Như một cuốn sách đám chay (tết nhảy) của người Dao, hoặc các sách chép về lễ hội (hội Mỡi) của người Mường v.v… xin được công bố giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm sau.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 234-240