27.Đôi điều về lối họa thơ trong Thần tiên sách của Nguyễn Tư Giản (TBHN 2008)
ĐÔI ĐIỀU VỀ LỐI HỌA THƠ TRONG
THẦN TIÊN SÁCH CỦA NGUYỄN TƯ GIẢN
ĐỖ THỊ HẢO
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nguyễn Tư Giản còn có tên là Nguyễn Văn Phú, tự là Hy Bạch, Tân Thúc, hiệu Thạch Nông, sinh năm Quý Mùi (1823), mất năm Canh Dần (1890), thọ 67 tuổi. Ông sinh ra ở thôn Du Lâm ngoại nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh, Hà Nội, tổ tiên xưa cư trú ở thôn Vân Điềm - tên Nôm là Kẻ Đóm nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh Hà Nội, cùng thuộc dòng họ Nguyễn với Hoàng giáp Nguyễn Thực (1555 - 1637). Vốn kế thừa truyền thống Nho gia, năm 21 tuổi ông đỗ Hoàng giáp (khoa Canh Thìn), và từ đó ông đã đem hết tài năng, nhiệt huyết ra phò vua giúp nước. Con đường hoạn lộ của Nguyễn Tư Giản thật long đong, chẳng khác gì thời cuộc lúc bấy giờ, song trước sau ông vẫn giữ vững tiết tháo của một nhà Nho yêu nước, suốt đời cúc cung tận tụy, vì dân vì nước.
Mặc dù việc quan bề bộn, khi ra Bắc, lúc vào Nam, khi thì đi sang sứ, lúc lại bị đày đi hiệu lực, nhưng Nguyễn Tư Giản đã để lại cho đời những trước tác khá đồ sộ và đa dạng. Đó là Thạch Nông thi, văn tập, Sử lâm kỉ yếu, Yên Thiều thi thảo, Như Thanh nhật kí... Trong bản tham luận này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến một đôi điều trong cuốn Thần tiên sách của ông. Cuốn sách hiện được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với tên gọi đầy đủ là Vũ lược ẩn dật Thần tiên Liệt nữ thưởng lãm các sách", kí hiệu A.1093. Căn cứ theo lời đầu sách thì "ngày mùng 3 tháng 2 niên hiệu Tự Đức thứ 7 (1854), nhà vua lệnh cho Nội các lập tức đem Vũ lược sách giao cho Nguyễn Tư Giản, Liệt nữ truyện giao cho Phạm Thanh, Thưởng lãm sách giao cho Nguyễn Văn Giao. Tất cả phải căn cứ theo đề bài để soạn thành bài tán hoặc thơ ngũ ngôn, thất ngôn, mỗi đề là một bài để bổ sung vào tủ sách cho đầy đủ. Hạn trong 1 tháng phải soạn xong dâng vua ngự lãm, lại phải nộp trả cả nguyên bản - kính tuân".
Những tên tuổi được Tự Đức đích danh chỉ định trên đây đều là những bậc tài danh trong thi đàn được người đời ngưỡng mộ, trong đó có Nguyễn Tử Giản. Thần tiên sách được giao cho Nguyễn Tư Giản gồm 80 đề bài, phần nhiều nói đến phép thần thông biến hóa của thần tiên. Ví như các đề sau:
- Trồng ngọc Lam Điền: Là gắn với truyện Dương La Bá, vốn người hiếu nghĩa. Cha mẹ qua đời, ông chôn cha mẹ bên đường núi rồi dựng lều bán nước ngay cạnh đó để trông nom phần mộ. Một hôm, có người đến xin nước uống rồi trả ông một túi đá, và nói đem đá về trồng ắt sẽ biến thành ngọc. La Bá đem trồng quả nhiên có ngọc. Về sau lấy vợ họ Từ, hai người được rồng đón về trời, chỗ đất trồng đá dân chúng gọi là ruộng ngọc.
- Hoàng kim bố huệ: Nói đến việc Ám Trường Sinh luyện đan tu được phép tiên, làm ra mấy vạn cân vàng. Ông đem số vàng đó phân phát hết cho những người nghèo trong thiên hạ, không kể lạ hay quen.
Chỉ bằng một bài thơ ngũ ngôn, Nguyễn Tư Giản đã thể hiện thái độ đồng tình với việc làm trên:
黃金數十萬
利澤滿天下
但存濟物心
仙道豈外假
Tạm dịch nghĩa:
Mấy chục vạn lạng vàng,
Đem lợi ban ơn khắp thiên hạ.
Chỉ còn lại tấm lòng cứu giúp mọi vật,
Đạo tiên há ở ngoài xa.
Cái nhìn của ông ở đây thật thoáng và thực tế. Tuy là một nhà Nho, được thấm nhuần sâu sắc đạo thánh hiền, song ông không có cái hẹp hòi của hủ nho, lúc nào cũng khư khư tư tưởng độc tôn, chăm chăm bài xích những dị đoan.
Có điều đặc biệt, qua "Thần tiên sách" ta thấy được cách nhìn nhận, đánh giá của Nguyễn Tư Giản đối với phụ nữ rất mới. Đức Khổng Tử đã nói: "Phụ nhân nan hóa" (Đàn bà con gái là loại khó dạy). Dưới chế độ phong kiến, người phụ tử tòng tử" (ở nhà phụ thuộc vào cha, xuất giá phụ thuộc vào chồng, chồng chết phụ thuộc vào con). Song thực tế mọi việc đều trút lên vai họ. Cái chức "nội tướng" chẳng qua chỉ như một mỹ tự, khiến họ xuôi lòng.
Đối với Nguyễn Tư Giản thì khác. Ông ca ngợi hết lời những người phụ nữ dũng cảm như bà họ Thiều:
萬戰叢中單騎沖
卲娘信有甲兵腦
一家伉儼真難得
夫是關張婦子龍
Tạm dịch nghĩa:
Một mình cưỡi ngựa xông vào vạn quân,
Nàng Thiều tin rằng trong mình có giáp binh.
Một nhà sánh đôi thực hiếm có.
Chồng là Quan công Trương Phi, vợ là Triệu Tử Long(1).
Bà đã xông vào phá vòng vây hàng vạn quân lính của Thạch Hổ để cứu chồng là Lưu Hà thoát khỏi cơn nguy khốn.
Hay trường hợp con gái Thái thú Tuân Hoằng ở Tương Dương, trong tình cảnh thành bị vây hãm, mặc dù mới 12 tuổi nhưng dám cùng vài dũng sĩ vượt thành phá vây xin viện binh đến diệt tan giặc:
孤城無援父心煎
一女衡園又少年
却笑奇謀陳孺子
閒門何事用三千
Tạm dịch nghĩa:
Cô thành, không viện binh, lòng cha như lừa dối,
Một cô gái xông xáo tuổi lại rất nhỏ.
Lại cười mưu lạ bày cho con trẻ,
Mở cửa thành cần gì tới ba ngàn quân.
Hình ảnh cô bé xông pha chốn trận mạc, tìm cách cứu cha ở đây có khác gì nàng Ngọc Hoa ở làng Đại Yên - Hà Nội, mới chín tuổi đã hăng hái đi giết giặc không ngại hy sinh thân mình, đến nay vẫn được dân làng nhớ ơn, thờ phụng.
Không chỉ ca tụng những gương mặt phụ nữ dũng cảm Nguyễn Tư Giản còn trân trọng và kính phục tài thông minh và sự tinh tế khéo léo của họ. Bài Triều phục hiến trung (Mặc triều phục tỏ lòng trung), nói đến chuyện: Đường Thái Tông mỗi khi bãi chầu về đều giận dữ nói: "Phải giết Điền Xá công. Hoàng hậu bèn hỏi người đó là ai? Vua đáp đó là Ngụy Trưng (tên của Điền Xá), cứ mỗi khi thiết triều ông ta đều làm nhục trẫm trước mặt mọi người. Một hôm Hoàng hậu mặc triều phục thật đẹp đứng ở sân chầu, vua lấy làm lạ hỏi duyên cớ, bà nhẹ nhàng đáp: "Thiếp nghe nói vua anh minh thì bề tôi mới nói thẳng. Nay Ngụy Trưng thẳng thắn như vậy tức là bệ hạ rất sáng suốt, lẽ nào thiếp không đến chúc mừng". Nghe thấy thế thì vua liền tỉnh ngộ. Thật đúng là:
娥媚無如田舍翁
批鱗托拂冕旒聰
椒庭一賀君心悟
補袞终須內相功
Dịch nghĩa:
Người đẹp không như Điền Xá công.
Vuốt vẩy rồng không biết dùng áo mão.
Một lời chúc chốn triều đình khiến vua tỉnh ngộ.
Bổ khuyết những sai lầm cuối cùng vẫn cần đến công nội tướng.
Tám mươi đề bài gắn với 80 bài thơ (một lối chơi thơ) trong đó bài nào cũng là những câu chuyện, những điển tích phong phú, Nguyễn Tư Giản quả thật quá uyên bác để hoàn thành trong thời hạn một tháng. Phải chăng ông vua thi sĩ Tự Đức đã không lầm khi nhận xét về ông: "Cứ kể tài học của viên ấy (chỉ Nguyễn Tư Giản) đời này ít có ai hơn"(2) và Tư Giản là người học nhiều tài giỏi văn chương cao nhã, giỏi làm thơ(3).
Hiện nay những trước tác của Thạch Nông Nguyễn Tư Giản còn lưu giữ được khá nhiều nhưng việc khai thác những tác phẩm đó còn chưa được bao nhiêu. Thực là có lỗi với tiền nhân nếu hậu sinh như chúng ta không công bố giới thiệu được những tinh hoa của ông cha để lại cho đời. Qua "Thần tiên sách" phần nào có thể làm sáng rõ thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tư Giản, một nhà Nho chân chính, suốt đời vì nước vì dân. Đồng thời cũng làm sáng tỏ thêm sinh hoạt thơ ca của triều đại nhà Nguyễn, một triều đại có nhiều vị vua, nhiều ông hoàng bà chúa, nhiều bậc đại Nho rất hay thơ.
Chú thích:
(1) Là những tướng tài của Lưu Bị, Trung Quốc xưa.
(2) Bài dụ của Tự Đức trong Ngự chế văn tập (q.5).
(3) Đại Nam thực lục chính biên (tập 27)./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.334-339