VI | EN
27. Gia lễ của Chu Hy - bước đầu giới thiệu (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

GIA LỄ CỦA CHU HY - BƯỚC ĐẦU GIỚI THIỆU

PHẠM THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Chu Hy (1130 - 1200) hay Chu Tử, tên tự là Nguyên Hối hay Trọng Hối, hiệu là Hối Am, Hối Ông, thụy là Văn, gọi là Văn Công tiên sinh, là triết gia tập đại thành của hệ thống triết học Trình Chu - Lý học. Ông uyên bác và trứ tác nhiều. Có thể kể đến những tác phẩm nổi bật như Tứ thư tập chú 四書集注, Chu Văn công văn tập 朱文公文集, Chu tử ngữ loại 朱子語類Chu tử gia lễ 朱子家禮. Trong những trước tác của ông, cuốn sách Gia lễ được làm ra không chỉ thuần túy theo đuổi học thuật có ảnh hưởng đến một bộ phận trí thức trong xã hội, đây còn là cuốn sách trực tiếp ảnh hưởng đến phong hóa của các quốc gia, dân tộc tiếp nhận nó dựa trên tinh thần tôn thượng Nho gia.

Theo Chu tử niên phả 朱子年譜, sách Gia lễ được làm vào năm Canh Dần, tức niên hiệu Càn Đạo năm thứ 5 (năm ông 41 tuổi), nhân ông cư tang mẹ, tham bác các sách, làm ra hai thiên Tang, Tế, rồi sau thêm vào Quan, Hôn, mà thành ra cuốn Gia lễ này. Cuốn sách khi làm xong lại bị mất, cho đến sau khi Chu tử mất, nhân gặp ngày táng của ông, mới có người mang cuốn sách ấy đến trao trả lại cho. Suốt trong các trước tác của Chu tử, khi nói đến sách về Lễ, cũng chưa bao giờ người ta thấy ông nhắc đến tên cuốn sách này. Về nội dung của sách, Gia lễ có nhiều văn bản, độ sai lệch không đáng kể, không có ảnh hưởng nhiều đến nội dung toàn văn của sách. Thông dụng là bộ Gia lễ gồm 5 quyển và 1 phụ lục. 5 quyển gồm:

Quyển 1: Thông lễ 通禮: Từ đường; Thâm y chế phục. Ngoài ra có: Tư Mã thị cư gia tạp nghi

Quyển 2: Quan lễ 冠禮: Quan; Kê.

Quyển 3: Hôn lễ 婚禮: Nghị hôn; Nạp thái; Nạp tễ; Thân nghênh; Phụ kiến cữu cô; Miếu kiến; Tế kiến phụ chi phụ mẫu.

Quyển 4: Tang lễ 喪禮: Sơ chung; Mộc dục, tập, điện, vi vị, phạn hàm; Linh tọa, hồn bạch minh tinh; Tiểu liệm; Đại liệm; Thành phục; Triêu tịch điện, thượng thực; Điếu, điện, bác; Văn tang, bôn tang; Trị tang; Thiên cữu, triều tổ, điện, bác, trần khí, tổ điện; Khiển điện; Phát dẫn; Cập mộ, hạ quan, từ hậu thổ, đề mộc chủ, thành phần; Phản khốc; Ngu tế; Tốt khốc; Phụ; Tiểu tường; Đại tường; Đàm. Ngoài ra có: Cư tang tạp nghi; Trí bác điện trạng; Tạ trạng; Úy nhân phụ mẫu vong sớ; Phụ mẫu vong đáp nhân sớ; Úy nhân tổ phụ mẫu vong khải trạng; Tổ phụ mẫu vong đáp nhân khải trạng.

Quyển 5: Tế lễ 祭禮: Tứ thời tế; Sơ tổ; Tiên tổ; Nễ; Kị nhật; Mộ tế.

Sách gồm 5 quyển, nội dung chủ yếu tập trung trong các quyển về tứ lễ gồm các lễ: Lễ đội mũ, cài trâm (tức là lễ trưởng thành); Các nghi thức của hôn lễ; Các nghi thức của tang ma; Các nghi thức của việc tế tự. Về căn bản đa phần nội dung của sách tập trung vào phần tang lễ, là bộ phận nhiều nghi tiết hơn so với những phần lễ khác. Đây đều là những thao tác văn hóa, tín ngưỡng cơ bản, lại được mô tả gọn gàng và chuẩn tắc trong một cuốn sách có dung lượng vừa phải, chính vì vậy ngay khi xuất thế, cuốn sách đã có được tầm ảnh hưởng và phổ biến lớn tại Trung Quốc và sau đó là tại Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam,… Giá trị của sách, nếu nói riêng về mặt thực hành thì có thể coi như một cuốn cẩm nang cho dân chúng trong công cuộc lễ hóa bản thân và gia tộc mình.

Là tác phẩm thuộc dòng Lý học thời Tống, bị chi phối bởi đặc trưng học phái, thời đại, với mục tiêu “phục đạo”, “tòng chính”, quảng hạ hóa bộ phận cổ lễ, Gia lễ xuất phát điểm từ sách Nghi lễ 儀禮, bản thân Chu Hy cũng khẳng định việc có ý học theo sách Thư nghi 書儀 của Tư Mã Quang và đã có những chỉnh lược nhất định trên cơ sở bảo nguyên lễ ý, thành ra quy chuẩn mẫu mực cho các giai tầng thực hành gia lễ sau này. Gia lễ của Chu Tử từ sự ra đời cho đến nội dung tư tưởng của sách cho đến ngày nay vẫn còn là vấn đề cần phải nghiên cứu(1), tuy nhiên như đã nói, nội dung khá thống nhất của sách thì chẳng lâu sau khi xuất thế đã mang địa vị như một bộ Lễ điển đối với việc thực hành cổ lễ của người xưa, cũng như mang tính chất là chuẩn mẫu về gia lễ được hầu hết các bậc lễ giả kê cứu và phỏng tác.

Như ta đã biết, theo quan điểm về Tông pháp 宗法của Nho gia, cùng với sự phát triển của các tổ chức gia đình, gia tộc trong xã hội có giai cấp là yêu cầu thiết lập một hệ thống cơ chế quản lý, tổ chức để nhằm trước hết là duy trì sự tồn tại có trật tự, có phát triển cho các tổ chức ấy. Bộ phận Gia lễ là 1 trong số những công cụ quản lý đó. Gia lễ có thể coi là những quy phạm hình thức trong phạm vi gia tộc, mang tính chất kiểm soát hành vi thuộc thuận, xây dựng tinh thần quy tòng tự nhiên, nhằm thiết lập một hệ thống quản lí có trật tự cho tổ chức gia tộc, từ đó nới rộng ra mô hình xã hội. Là công cụ hợp thức hóa mối quan hệ thượng thuộc - hạ tòng trong xã hội có giai cấp. Nó dùng huyết thống làm cơ sở tự nhiên hóa cho các nguyên tắc được đề ra. Gia lễ lại bao gồm những bộ phận nghi lễ được thực hành ở cấp cơ sở. Nó vốn là sự quảng hạ hóa những nghi tiết mang tính cao cấp thuộc hệ thống cổ lễ của Trung Quốc. Cùng với nhu cầu của công việc hoàn thiện tổ chức nhà nước dựa trên mô hình gia tộc với tinh thần rất Nho giáo mà Gia lễ có được chỗ đứng của mình. Với tinh thần đó, Gia lễ của Chu Hy đã chiếm được vị thế bậc nhất trong bộ phận gia lễ nói chung.

Để hiểu thêm về quan niệm cũng như phương pháp trước tác của cuốn sách này, chúng tôi xin giới thiệu về bài tựa sách Gia lễ của Chu Hy:

Dịch nghĩa:

LỜI TỰA SÁCH GIA LỄ

Phàm Lễ phải có phần gốc và phần văn tiết. Từ việc đem ra thi hành trong nhà mà nói, thì việc giữ gìn danh phận, tính chân thực của lòng yêu kính, đó chính là gốc; còn Quan, Hôn, Tang, Tế, Nghi chương độ số, là phần văn tiết. Phần gốc kia có cái thường lễ trong nhà vẫn dùng hàng ngày, vốn không thể một ngày nào không sửa sang; Phần văn thì đều là những cái để kỉ cương cho sự thủy chung của con người ta, tuy là tùy lúc mới dùng đến, tùy chỗ mới thi hành, thế nhưng không giảng cứu cho tường tận, tập luyện cho nhuần nhuyễn, thì lúc gặp việc, chẳng lấy gì để mà ứng tác cho hợp lý với các nghi tiết cả, vậy nên cũng không thể ngưng một ngày nào không giảng cứu và luyện tập nó. Từ thời Tam Đại đã có Lễ Kinh rất đầy đủ rồi. Thế nhưng, tồn tại có đến ngày nay, thì những chế độ về cung lư khí phục, những môn về xuất nhập đứng ngồi, đều đã không còn hợp với đời nữa. Người quân tử ở đời, tuy có khi châm chước đến sự thay đổi cổ - kim, mà xây dựng các pháp độ theo thời, thế mà vẫn có chỗ rõ chỗ không; chẳng biết chất chính nghi ngờ vào đâu. Đến nỗi, có kẻ thì bỏ mất gốc mà vụ vào ngọn, chậm ở thực mà cấp ở văn, kể cả bậc sĩ có chí hiếu Lễ, vẫn có kẻ không thể giơ cao được cái điều cốt yếu; thì khi dùng với những người nghèo không thể theo Lễ cho đủ được, lại càng e rốt cục họ chẳng biết lấy gì mà theo kịp Lễ đó. Hy tôi lại có 2 bệnh ngu hại, thế nên vẫn thường nghiên cứu, xem xét sách vở xưa nay, dựa vào cái đại thể không thể thay đổi mà thêm bớt, chọn lựa giữa chúng, làm thành 1 cuốn để dùng trong gia đình. Đại để lấy cẩn trọng trong danh phận, dương điều yêu kính làm gốc, đến lúc đem ra thi hành, thì lược bớt văn tiết phù phiếm, chăm chút vào cái gốc, cái thực, thiết ra cũng tự phụ là theo được ý của đức Khổng tử: “Ta theo hạng tiên tiến vậy”. Thật thành tâm mong được những kẻ sĩ đồng chí hướng xem xét và khuyến khích thi hành, ngõ hầu còn có thể thấy lại được cái đạo dùng để tu thân, tề gia, cái tâm thận chung truy viễn của cổ nhân, mà với cái ý đất nước lấy việc sùng bái giáo hóa để mà dẫn dắt cho dân, cũng có bồi bổ đôi chút.

Đại để qua lời tựa này, có thể hiểu về chủ đích của tác giả khi viết cuốn sách. Bằng việc nêu cao tinh thần của Lễ, với việc khẳng định sự cần thiết trong hai mặt của một vấn đề: Lễ bản chủ về biệt - kính, và Lễ văn là những biểu hiện của Lễ bản ra bên ngoài, nêu rõ tính thần bất khả dĩ nhất nhật nhi bất tu, bất giảng chúng, chính là tác giả nhằm khẳng định tính quan thiết của Lễ đối với công cuộc Lễ trị, hay công cuộc xây dựng nền Nhân chính. Tuy nhiên, đặt trong hoàn cảnh môi trường mới, thì việc học Lễ, tu Lễ cũng cần phải điều chỉnh sao cho phù hợp. Hoàn cảnh mới ở đây là thời điểm Lý học làm 1 cuộc cách mạng chấn hưng Nho học, trong đó có chấn hưng phong hóa cho dân gian, hướng tới phổ thông hóa đối tượng. Ông khẳng định trào lưu chỉnh lễ đương thời là cần thiết, và với ông, mục tiêu hướng tới của công việc đó là phục đạo, tòng chính. Công việc này đưa sách đến yêu cầu chỉnh đốn lại hệ thống nghi lễ của cổ nhân sao cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng và khả năng tiếp nhận mới. Đối tượng ở đây chính là giai tầng bình dân, trước đây không nằm trong thành phần dự đến việc lễ. Mà cách làm của Chu Hy cùng không quá mới mẻ: Xem xét sách vở xưa nay, dựa vào đại thể mà thêm bớt, chủ yếu là lược bỏ những phiền tục, phù văn, nhưng vẫn giữ gìn gốc lễ. Tuy không đưa vào đây công việc khảo sát nội dung tư tưởng của sách, nhưng thông qua cấu trúc sách, ta phần nào thấy được tinh thần quảng hạ hóa bộ phận cổ lễ của Chu tử(2).

Hiện nay, việc nghiên cứu chuyên chú vào cuốn sách Gia lễ của Chu tử tại Trung Quốc và trên thế giới có thể nói là sôi động và phong phú với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Những nghiên cứu cơ bản về Gia lễ của Chu Hi được nhắc đến khá đầy đủ trong cuốn Chu Tử nghiên cứu thư mục tân biên 朱子研究書目新編(1900-2002) (Taiwan daxue chuben zhongxin, 2005) của tác giả Ngô Triển Lương (吳展良) chủ biên. Có thể kể ra một vài xu hướng nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu văn bản học, từ lịch sử hình thành, lưu truyền và cố định văn bản qua các thời kì và tại những khu vực khác nhau. Những nghiên cứu nổi bật có thể kể đến như các bài nghiên cứu, khảo luận của Trần Lai (陳來), Tiền Mục (錢穆), … khảo về tính chân ngụy của sách Gia lễ, trong các sách như Trung Quốc cận thể tư tưởng sử nghiên cứu 中國近體思想史研究, hay Chu tử tân học án 朱子新學案,… Hoặc có thể kể đến các công trình nghiên cứu của học giả Nhật Bản, Hàn Quốc khảo sát về sự hình thành tác phẩm này của Chu Hi.

Nghiên cứu trong sự đối sánh với các văn bản khác cùng hệ thống: Nghi Lễ kinh truyện thông giải 儀禮經傳通解, Tư Mã thị Thư nghi 司馬氏書儀, Tư lễ tiện lãm 四禮便覽,…

Nghiên cứu theo hướng văn hóa, như: những ảnh hưởng của Chu tử gia lễ đến gia tộc như một tác nhân văn hóa, hoặc tác phẩm với vai trò là sách lễ thông dụng của dân gian,...

Nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào việc nghiên cứu nội dung gia lễ như: nghiên cứu các nghi tiết, nghiên cứu các tư tưởng lễ học trong Gia lễ,…

Ngoài ra, việc đánh giá tác phẩm trong vị thế là một cuốn sách có tầm ảnh hưởng lớn đến bộ phận gia lễ tại một số nước trong khu vực, có thể là đặt trong nghiên cứu về lễ nói chung hoặc về gia lễ nói riêng cũng đã có một số những nghiên cứu rất cụ thể: như cuốn Trung Quốc Lễ học tại cổ đại Triều Tiên đích bá thiên (中国礼学在古代朝鮮的播迁) của học giả Bành Lâm (彭林),…

Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của hệ thống văn tự Hán, đồng thời cũng tiếp nhận một số lượng những tri thức văn hóa có liên quan. Đặc biệt cuốn sách Gia lễ, ở Việt Nam được gọi là Văn công gia lễ lại là cuốn sách có ảnh hưởng lớn trong khu vực, không chỉ riêng Việt Nam. Cuốn sách sau khi được người Việt Nam tiếp nhận đã nhanh chóng hình thành nên một hệ thống sách, tuy không quá nhiều, về nội dung gia lễ tại đây. Hơn thế nữa, đối với việc hình thành phong hóa trong dân gian, cuốn sách không chỉ có phát huy tác dụng tại Trung Quốc, mà tại Việt Nam cũng không thể đánh giá thấp tầm ảnh hưởng của nó. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của cuốn sách này tại Việt Nam là một vấn đề hay đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của học giới.

 

Chú thích:

(1) Đây là những nội dung liên quan đến việc xác định tính chân ngụy của tác phẩm. Các học giả thời trung đại đã có nhiều kiến giải cho vấn đề này nổi tiếng có thể kể đến như Ưng Vũ Lâm thời Nguyên, Vương Mậu Hoành thời Thanh, là những người đã dấy lên cuộc bàn cãi đồng thời cũng ra những quyết sách về tính chân ngụy của tác phẩm này. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu hiện đại như Trần Lai, Tiền Mục cũng vẫn có những bài viết tổng thuật cũng như đưa ra các đánh giá tiếp tục về nguyên lai thực của sách này. Về căn bản, các học giả hiện đại vẫn nghiêng về giả thuyết: cuốn sách mang một số đặc điểm tư tưởng của Chu Tử, có khả năng là sách của chính ông làm ra, mặc dù không được chính ông khẳng định.

(2) Những thống kê về việc giản hóa các nghi tiết của bộ sách này đã được nhắc đến trong lời hiệu điểm của sách trong Chu Tử toàn thư. Tuy nhiên, đây chỉ có thể coi như tiêu chí hình thức bên cạnh nhiều tiêu chí khác về cách thức tiếp cận, quan điểm thực hiện, … được thể hiện trong nội dung sách, đôi khi không hẳn thuộc một nghi tiết cụ thể nào./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.678-685)

Phạm Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm