VI | EN
27. Giới thiệu văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập - Hợp tập thơ văn của Thụy Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y (1833 -1877).
tb2006

GIỚI THIỆU VĂN BẢN TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP

Hợp tập thơ văn của Thụy Thái vương

Nguyễn Phúc Hồng Y (1833-1877)

PHÙNG MINH HIẾU

Trường Đại học KHXH & Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội

Những năm gần đây, trong việc nhìn nhận đánh giá lại nhà Nguyễn trên mọi phương diện, đặc biệt là mặt lịch sử - văn hóa, và trong công cuộc khai thác bảo tồn cố đô Huế, văn hóa Huế, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm đến “nghệ thuật cung đình Huế” nói chung và bộ phận “văn học cung đình Huế” nói riêng. Mục đích của bài viết này là giới thiệu một bộ sách - một hợp tập thơ văn đặc sắc nằm trong mảng văn học cung đình triều Nguyễn, đồng thời cũng là một thư tịch có giá trị trong kho di sản Hán Nôm Việt Nam: Bộ sách Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả - hoàng tử thứ tư (con vua Thiệu Trị) Nguyễn Phúc Hồng Y (1833-1877), tự Quân Bác, tước Kiến Thụy công (khi ông mất được tấn phong tước Kiến Thụy vương, đến đời vua Thành Thái, lại được tấn tặng lên Thụy Thái vương, mà theo tiếng Huế, người ta quen gọi ông là Thoại Thái vương Nguyễn Phước Hường Y).

Tuần Cai biệt thự hợp tập là bộ sách mang tính chất “làm tổng tập” toàn bộ sáng tác thơ văn của một tác giả. Sách gồm 4 tập, tổng cộng dày 608 trang, được in trên giấy dó khổ 27,5x16,5cm và hiện mang kí hiệu A.2985 thuộc kho sách Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).(1)

Bản sách hiện còn giữ được trang đề tên Tuần Cai biệt thự hợp tập 循陔別墅合集 (tuy nhiên, không thấy ghi niên đại hay nơi tàng bản), một bài tựa do Tuy Lí vương Miên Trinh viết năm 1874, một mục lục đầy đủ chia làm hai phần lớn Tuần Cai biệt thự thi sao mục lụcTuần Cai biệt thự văn sao mục lục. Phần Thi sao mục lục kê 25 quyển thơ, phần Văn sao mục lục kê 2 quyển văn, kèm các số thống kê thể loại của các bài thơ hoặc văn. Ở mỗi quyển thơ, còn ghi rõ năm sáng tác theo lịch can chi (2 quyển văn không ghi rõ năm tháng), thời gian có tác phẩm chép lại sớm nhất là năm Tân Hợi Tự Đức 4 (1851) và muộn nhất là năm Bính Tí Tự Đức 29 (1876) (tức là không bao lâu trước khi tác giả qua đời - Hồng Y Quân Bác mất tháng Giêng năm 1877).

Ngoài ra, cũng thuộc về phần mở đầu của tập sách còn hai phần nữa được gọi là Ngự chế thi Ngự chế văn. Phần thơ văn “ngự chế” bao gồm các bài thơ văn vua Tự Đức ban tặng cho tác giả của tập sách - tức Nguyễn Phúc Hồng Y Quân Bác và những sáng tác xướng họa giữa vua Tự Đức, tác giả tập sách cùng một vài nhân sĩ khác. Chúng tôi cũng muốn lưu ý rằng cách trình bày Ngự chế thi hay Ngự chế văn như một trong những phần mở đầu cho thi tập, văn tập là tương đối phổ biến ở các thi văn tập trong cung đình nhà Nguyễn.

Kết cấu của 4 tập sách Tuần Cai biệt thự hợp tập A.2985 có thể mô tả ngắn gọn như sau:

Tập 1: Trang đầu tiên đề “Tuần Cai biệt thự hợp tập” - Bài tựa do Tuy Lí vương Miên Trinh viết - Ngự chế thi - Mục lục (Tuần Cai biệt thự thi sao mục lục, Tuần Cai biệt thự văn sao mục lục) - Ngự chế văn - Văn (Tuần Cai biệt thự văn sao) quyển 1, quyển 2 - Thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) quyển 1 đến quyển 4;

Tập 2: Thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) quyển 5 đến quyển 9;

Tập 3: Thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) quyển 10 đến quyển 18;

Tập 4: Thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) quyển 19 đến quyển 25.(2)

Chỉ cần căn cứ vào những thông tin ghi ở Mục lục, chúng ta có thể biết rằng Hồng Y Quân Bác ít nhất cũng bắt đầu có sáng tác từ năm Tân Hợi 1851 và ông đã đặt điểm kết thúc sự nghiệp thơ văn của mình ở năm Bính Tí 1876. Vậy thì Tuần Cai biệt thự hợp tập có diện mạo một bộ sách như hiện nay có những đặc điểm gì, nó đã hình thành như thế nào và trong khoảng thời gian nào ?

Trước hết, về tên gọi của bộ sách - Thông thường, có nhiều cách để đặt tên cho thi tập, văn tập, thường là đặt bằng tên hiệu của tác giả, cũng có khi dùng địa danh nơi ở của tác giả làm tên gọi của thi văn tập. Tên bài tựa cho tập thơ của Quân Bác ghi trong Vi Dã hợp tập của Miên Trinh chỉ viết là Kiến Thụy công thi tập tự (Bài tựa cho thi tập của Kiến Thụy công)(3), mà trong bài tựa chép ở đầu sách Tuần Cai biệt thự hợp tập cũng không thấy nhắc đến mấy chữ “Tuần Cai biệt thự”. Trường hợp tập của Quân Bác rõ ràng là dùng địa danh (Tuần Cai biệt thự) để đặt tên cho thi văn tập. Hiện chúng tôi chưa biết “biệt thự Tuần Cai” có liên quan như thế nào với Hồng Y Quân Bác, nhưng ước chừng việc lấy tên biệt thự Tuần Cai đặt tên cho hợp tập chỉ xảy ra sau khi Quân Bác đã qua đời, và dường như Tuần Cai biệt thự hợp tập có ý nghĩa là “hợp tập văn thơ của người ở biệt thự Tuần Cai” (!?).(4)

Về nội dung, bộ sách chia hai phần rõ rệt (giống như đã kê ở mục lục): Tuần Cai biệt thự văn sao gồm 2 quyển và Tuần Cai biệt thự thi sao gồm 25 quyển. 2 quyển văn có tổng cộng 15 đơn vị bài được viết ở 13 thể văn khác nhau (thư, luận, nguyên đạo, tụng, trí ngữ, ai từ, minh, biểu, bạt, giáo thị, dẫn, tán, phú). Các bài văn hầu hết không ghi rõ thời gian sáng tác nhưng một số có thể xác định được. Với việc đoán định thời điểm sáng tác, chúng ta bước đầu nhận ra sự sắp xếp thứ tự các bài văn một cách có chủ ý theo thời gian sáng tác. Chẳng hạn bài 5 quyển 1 - Bài tụng viết nhân ngày chúc thọ vua Tự Đức 40 tuổi (Vạn thọ tứ tuần đại khánh tụng) sáng tác năm 1868; bài 6 quyển 1 - Bài mừng thọ 60 tuổi tiên sinh Chuyết Viên - tức Nguyễn Phúc Miên Nghi (Chuyết Viên tiên sinh khánh lục thập trí ngữ) sáng tác ngày 5 tháng 12 năm Kỉ Tị 1869; bài 7 quyển 1 - Bài văn điếu tiên sinh Thương Sơn Văn Nhã (Thương Sơn Văn Nhã tiên sinh ai từ) sáng tác lúc Tùng Thiện vương Miên Thẩm Thương Sơn qua đời vào năm 1870…

So với mảng văn, mảng thơ rõ ràng “sung mãn” với một số lượng dầy dặn hơn hẳn. 25 quyển thơ Tuần Cai có tổng số khoảng hơn 750 bài trên đủ các thể (một bài được tính tương đương một “thủ ” ngày trước). Theo cách kê trong mục lục, thơ được chia làm hai thể lớn: Kim thể thi (cũng tức là thơ luật Đường) và Cổ thể thi (còn gọi là thơ cổ phong). Thuộc về thơ kim thể có ngũ luật, thất luật, ngũ tuyệt và thất tuyệt - đây cũng là loại thể chiếm số lượng chủ đạo (chiếm khoảng 85%); thuộc về thơ cổ thể có ngũ cổ, thất cổ, ngũ bài, thất bài, tam ngôn, ngũ ngôn, lục ngôn, trường đoản cú (chiếm khoảng 15%). Mỗi quyển thơ tương ứng với thơ tác giả Hồng Y Quân Bác sáng tác trong một năm. Chúng tôi cụ thể hóa thành một biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ cho chúng ta biết Quân Bác sáng tác thơ tương đối đều đặn qua các năm, tất cả các bài thơ của Quân Bác trong mỗi năm được chép thành một quyển. Quân Bác đã có thơ thành “quyển” từ năm 19 tuổi cho đến năm 44 tuổi - trước khi qua đời 1 năm. Nguyễn Phúc tộc thế phả chép rằng Hồng Y mất ngày 11 tháng 1 năm Đinh Sửu (1877), như vậy là thi tập của Quân Bác chỉ kết thúc trước ngày ông qua đời một thời gian rất ngắn (vì bài thơ số 23 trên tổng số 26 bài của quyển thơ cuối cùng của Quân Bác là bài Đông dạ thán - Đêm đông cảm thán). Điều này có nghĩa là khi quyển thơ cuối cùng của Quân Bác khép lại thì cũng là lúc thời gian chuyển đến quá mùa đông của năm 1876. Ở đây, chỉ có một điểm nghi vấn là vì sao trong một tập thi ca trật tự, đều đặn và liên tục như Tuần Cai biệt thự hợp tập mà lại có sự gián đoạn đột xuất - đó là vào năm 1863 (khi Quân Bác 31 tuổi), chúng ta không tìm thấy thơ của ông sáng tác trong năm này. Có thật sự là trong năm đó, Quân Bác không hề sáng tác một bài thơ nào? Hay có khả năng là những sáng tác thơ của Quân Bác năm 1863 đã bị thất tán chăng ? Điều lạ là trong mục lục, cả trong thi tập không hề có một thông tin nào nói cho chúng ta biết về sự gián đoạn này. Bởi vì, nếu quả thật quyển thơ này bị thất lạc thì khi quyển thơ sáng tác năm 1862 là quyển 12, quyển thơ sáng tác năm 1864 phải là quyển 14. Chúng tôi đã nghĩ đến khả năng thơ của Quân Bác sáng tác trong hai năm có thể bị nhập lại làm một chăng ? Bài thơ thứ hai của quyển 13 (sáng tác năm Giáp Tí 1864) có tựa đề là Giáp Tí nguyên tịch hàn vũ phó Thương Sơn tiên sinh chi ước qui tác (Mưa lạnh đêm đầu năm Giáp Tí, đến chỗ Thương Sơn tiên sinh theo hẹn, khi trở về làm bài thơ này) - như vậy là quyển 13 không chép thêm lên trước nó một bài thơ nào thuộc về năm 1863 (!)

Trên đây là vài nét về đặc điểm thời gian ra đời của các thi văn phẩm của Hồng Y Quân Bác. Bây giờ, chúng tôi giới thiệu sơ lược về tình hình vấn đề niên đại của bộ sách:

Trang cuối của phần Ngự chế thi Ngự chế văn đều ghi rõ Thần, Ưng Hinh cung lục 臣膺馨恭錄 (Thần là Nguyễn Phúc Ưng Hinh kính cẩn chép lại). Lật trang cuối của tất cả 25 quyển thơ và 2 quyển văn, chúng ta sẽ đều tìm thầy dòng chữ Nam, Ưng Hinh Mạnh Minh tập đính 男膺馨孟明輯訂 (Con trai là Nguyễn Phúc Ưng Hinh, tự Mạnh Minh biên tập hiệu đính).

Ưng Hinh Mạnh Minh, tức Nguyễn Phúc Ưng Hinh, tên chữ Mạnh Minh, là con trưởng và cũng là người sau đó tập phong tước Kiến Thụy huyện công của Hồng Y Quân Bác - Việc chép trong Đại Nam liệt truyện nhị tập (Quyển 8, phần Hoàng tử liệt truyện, mục IV). Ưng Hinh đã tiến hành công tác “tập đính” thơ văn của cha mình như thế nào, công việc đó diễn ra trong nhiều năm hay chỉ trong một thời gian ngắn ?

Hầu như có thể nhận định rằng, ngay cả khi công việc “tập đính” kéo dài trong nhiều năm thì đây cũng chỉ là việc xảy ra sau khi Hồng Y Quân Bác qua đời, tức là khoảng sau tháng giêng năm Đinh Sửu 1877.

Phần mở đầu Tuần Cai biệt thự hợp tập có một bài tựa do Tuy Lí vương Miên Trinh viết ngày mùng tám tháng tư năm 1874, niên hiệu Tự Đức thứ 27 (Tự Đức nhị thập thất niên tứ nguyệt Dục Phật nhật). Nhận xét về thơ Quân Bác và nói lí do làm bài tựa cho thi tập của Quân Bác, Miên Trinh viết:

“Tài thơ của Quân Bác lại ngày càng tiến bộ, sáng tác ngày càng phong phú (…) Thơ Quân Bác, câu ngắn bài dài, rực rỡ giấy mực, lâu ngày hợp được thành tập. Quân Bác lại một mực xin ta viết cho lời tựa tập sách. Sự khiêm tốn hiếu học của Quân Bác đã tỏ rõ, mà đức hạnh của Quân Bác cũng hơn người nay nhiều lắm vậy(5)”.

Bài tựa viết năm 1874 - khi Quân Bác còn sống - và Miên Trinh sở dĩ viết lời tựa này là theo “sự đề nghị” của Quân Bác. Có lẽ là bình sinh, Quân Bác đã có ý thức xếp thơ thành tập và hẳn là đến năm 1874 - khi Miên Trinh đề tựa thì thơ của Quân Bác đã thành quyển, thành sách, thành bản “nghiêm chỉnh” rồi. Tất nhiên, chúng ta biết rằng Tuần Cai biệt thự thi sao còn kéo dài thêm hai năm nữa (chép thơ đến 1876, trước khi Quân Bác qua đời một năm). Và như thế, văn bản mà Miên Trinh viết lời tựa với văn bản chúng ta có trong tay - tức là văn bản do Ưng Hinh tập đính không phải là một. Hơn nữa, cũng trong bài tựa này, chúng ta không thấy Miên Trinh nhắc nhở một điều gì liên quan đến chuyện Ưng Hinh là người tập đính (!) Dù vậy, chúng tôi cho rằng, hầu như không có sự sai khác lớn từ văn bản Miên Trinh viết lời tựa đến văn bản được khắc in về sau, ngoại trừ phần thơ của Quân Bác trong hai năm sau đó được chép thêm vào. Nhưng rõ ràng hai văn bản này có một điểm không giống nhau: Trong khi văn bản Miên Trinh viết lời tựa mang tính chất của một “thi tập” độc lập thì văn bản mà Ưng Hinh tập đính lại là một hợp tập thơ văn, một bộ sách có tính chất sưu tầm, sắp xếp lại toàn bộ di cảo của người cha đã qua đời. Rất tiếc là bản A.2985 không cung cấp thông tin trực tiếp về thời gian bộ sách được khắc in, nhưng chúng ta có thể xác định khoảng thời gian Ưng Hinh làm công tác “tập đính”, tức là xác định được thời gian bộ sách được làm xong ở dạng hợp tập. Và hẳn rằng Tuần Cai biệt thự hợp tập được đem khắc in chỉ vào thời gian không lâu sau khi Ưng Hinh kết thúc công tác “tập đính”.

Như đã biết, ở cuối mỗi quyển thơ hoặc văn đều có dòng chữ đề “Nam, Ưng Hinh Mạnh Minh tập đính” 男膺馨孟明輯訂 (Con trai là Ưng Hinh, hiệu Mạnh Minh biên tập, hiệu đính). Tất cả các chữ “Hinh” trong những dòng này đều được viết bằng chữ . Tuy nhiên, trong Đại Nam liệt truyện, phần chép về Hồng Y Quân Bác có viết: “Trưởng tử Ưng Khánh tập phong Kiến Thụy huyện công” 長子膺磬襲封建瑞縣公 (Con trưởng là Ưng Khánh tập phong làm Kiến Thụy huyện công). Ở đây, tên của trưởng nam của Hồng Y được chép là Ưng Khánh 膺磬. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết Ưng Khánh cũng chính là Ưng Hinh, và sở dĩ có sự khác biệt này là vì lí do kiêng húy. Theo qui định của triều Nguyễn, “Nguyễn Phúc Hồng Y cùng con cháu sau này mở ra phòng 4 thuộc đệ tam chính hệ, được ngự chế ban cho bộ “hương ” để đặt tên con cháu trong phòng”(6) cho nên trưởng nam mới có tên là Ưng Hinh - chữ Hinh có bộ hương ở dưới. Tuy nhiên, trong những năm Kiến Phúc (1883-1884), vì bà Học Phi - mẹ nuôi của vua Kiến Phúc tên là Nguyễn Thị Hương nên mới có lệ húy chữ “hương”. Vì sự kiêng húy này nên bộ “hương ” được ngự chế ban để đặt tên đã đổi thành bộ “thạch ”, và cũng vì thế chữ Hinh được chuyển thành chữ Khánh . Đại Nam liệt truyện nhị tập là sách niên đại thời Thành Thái nên chép tên trưởng nam của Hồng Y theo sự chuyển đổi này và trở thành Ưng Khánh.

Dẫn giải vấn đề trên, chúng tôi muốn nói rằng nếu như Tuần Cai biệt thự hợp tập vẫn giữ cách viết tên là Ưng Hinh, tức là chưa có sự chuyển đổi từ bộ hương sang bộ thạch ở tự dạng thì cũng có nghĩa là sách được làm khi chưa chịu sự ràng buộc của lệ kiêng húy đời Kiến Phúc. Như thế, việc “tập đính” của Ưng Hinh hẳn đã hoàn thành trước đời Kiến Phúc, tức trước năm 1883.

Đến đây, chúng ta nhắc lại mấy nét về quá trình hình thành của Tuần Cai biệt thự hợp tập:

- Quá trình sáng tác thơ ca của tác giả Hồng Y Quân Bác ít nhất đã bắt đầu năm Tân Hợi 1851 (khi ông 19 tuổi) và khép lại ở năm Bính Tí 1876 (khi ông 44 tuổi và trước ngày ông mất không lâu).

- Thời gian hình thành bộ sách Tuần Cai biệt thự hợp tập qua công tác tập đính của Ưng Hinh được xác định trong khoảng từ năm 1877 đến trước năm 1883 (tức trong khoảng thời gian chừng 6 năm).

- Và như vậy, theo ước đoán của chúng tôi, bộ sách đã được khắc in vào khoảng sau năm 1877 đến trước năm 1883 (và tất nhiên phải sau khi Ưng Hinh đã hoàn thành tập đính thì bộ sách mới được khắc in).

Về điểm này, vì có liên quan đến việc xác định niên đại văn bản nên chúng tôi cũng thêm một lưu ý nhỏ. Trong việc tìm hiểu niên đại văn bản, các nhà văn bản học thường sử dụng phương pháp nghiên cứu chữ húy. Đối với vấn đề chữ húy của Tuần Cai biệt thự hợp tập, chúng tôi đã sơ bộ tìm hiểu. Nhưng trong nghiên cứu chữ húy ở văn bản định dạng trên chất liệu giấy thì chúng ta không thể không loại trừ vài khả năng. Văn bản định dạng trên giấy mà được gọi là “bản in” chính là dạng bản in lại từ các ván khắc gỗ. Tất nhiên, các bản gỗ ít khả năng còn giữ được đến ngày nay. Song, kho di sản Hán Nôm hiện vẫn có một số lượng nhất định các bản gỗ, và theo chúng tôi, để nghiên cứu một cách khả tín hơn cả niên đại của chữ húy cũng như niên đại văn bản chứa đựng những chữ húy thì cần căn cứ trước hết trên các bản khắc gỗ. Tuy nhiên, đó là trong điều kiện lí tưởng. Chẳng hạn, hiện nay ở phủ thờ Tuy Lí vương Miên Trinh tại thành phố Huế vẫn giữ được ván khắc gỗ của bộ sách Vi Dã hợp tập(7). Vì chính sự xuất hiện những hiện tượng như bản khắc gỗ của Vi Dã hợp tập nên chúng tôi đã có những băn khoăn nhất định trong việc căn cứ vào chữ húy để xác định niên đại của văn bản định dạng trên chất liệu giấy. Vi Dã hợp tập là bộ sách của Tuy Lí vương Miên Trinh, người sống cùng thời với Hồng Y Quân Bác, cũng là một trong những người “có quan hệ xướng hoạ thù tạc” quan trọng trong cuộc đời thơ văn của Quân Bác. Tình hình bản khắc gỗ của Vi Dã hợp tập, theo nhận định của anh Thái Trung Sử, người đã tiến hành nghiên cứu trực tiếp hiện trạng các bản khắc này như sau: “Các bản in không được in trong cùng một thời điểm, mà được in trong rất nhiều thời điểm khác nhau. Đã có sự khắc lại và khắc bổ sung qua các thời kì….”(8).

Có hai giả thiết đặt ra là: 1/. Liệu chúng ta có khả năng tìm được ván khắc, dù sớm hay muộn của bản in Tuần Cai biệt thự hợp tập hay không ? 2/. Và liệu bộ sách có được khắc in cùng một lần, hoặc có sự khắc lại, khắc bổ sung qua các thời kì như Vi Dã hợp tập hay không?

Trong tình hình hiện nay, khi chưa có khả năng tìm được bản khắc gỗ của Tuần Cai biệt thự hợp tập, tư liệu chúng ta có trong tay là ba văn bản (1 bản in, 2 bản chép tay) định dạng trên chất liệu giấy (như trình bày ở trên). Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi lấy đối tượng tìm hiểu là bản in (kí hiệu A.2985). Như đã nói, chúng tôi ước tính bộ sách được khắc in trong khoảng sau năm 1877 đến trước năm 1883. Vậy thì vấn đề nêu lên là tình hình chữ húy thực tế trên văn bản A.2985 - một trong những chìa khoá xác định niên đại văn bản - có tỏ ra phù hợp với thời gian sau năm 1877 đến trước năm 1883 hay không? Hoặc như có thể sử dụng phương pháp chữ húy để thu hẹp giới hạn 1877-1883 hay không ?

Về chữ húy trên văn bản A.2985, chúng tôi đã tiếp cận bước đầu bằng cách chọn khảo sát một quyển trong số 25 quyển thơ và 2 quyển văn của hợp tập - ở đây chọn phần văn bản quyển thơ 10 (có độ dài 17 tờ (tức là 34 trang), nằm ở vị trí 17 tờ đầu tiên của tập sách 3 trong 4 tập sách kí hiệu A.2985/1-4). Trong phần văn bản này, có 3 chữ kiêng húy được tìm thấy: Hai chữ “hồng ” và “tuyền ” - được viết kiêng húy theo lối bớt nét. Việc kiêng húy hai chữ này đã có định lệ từ thời Tự Đức. Chữ thứ ba là “thì ” được húy theo lối đổi sang chữ khác. Theo lệ kiêng húy thời Tự Đức, chữ “thì” khi viết húy phải đổi sang chữ “tự ”, hoặc căn cứ vào ngữ cảnh để đổi dùng chữ khác cho phù hợp. Còn như việc húy chữ “thì” bằng cách đổi sang viết chữ “thìn ” là qui định thời Thành Thái. Khi xét sơ bộ 3 chữ húy trong phạm vi toàn văn bản A.2985, chúng tôi đã gặp mấy hiện tượng sau:

- Chữ , về cơ bản được kiêng húy theo cách viết bớt nét (tức bớt nét ngang dưới) như trong phần văn bản quyển thơ 10. Duy có một ngoại lệ là chữ “hồng ” ở tờ 1a, quyển Văn 1 của Tuần Cai biệt thự hợp tập vẫn viết nguyên dạng, tức là không có sự kiêng húy. Chữ “hồng” này nằm trong hàng chữ: “Hoàng tứ tử Hồng Y Quân Bác trứ” (Sách do hoàng tử thứ tư Nguyễn Phúc Hồng Y, tự Quân Bác viết). Mở đầu tất cả 25 quyển thơ và 2 quyển văn đều có dòng chữ này. Chúng tôi thấy chữ “hồng” trong tất cả dòng đầu tiên của 25 quyển thơ đều được ghi theo lối chữ húy, riêng chữ “hồng” ở quyển văn 1 thì viết bình thường. Rất tiếc, chữ “hồng” ở đầu quyển văn 2 viết như thế nào thì không xác định được (trang mở đầu quyển văn 2 thuộc phần thiếu của văn bản - như đã trình bày ở trên).

- Chữ , các trường hợp được tìm thấy đều có lối kiêng húy tương tự của trường hợp ở quyển thơ 10 (bớt nét ngang bên trong). Ngoài ra, chúng tôi thấy chữ tuyến cũng được viết kiêng húy theo cách bớt nét ngang bên trong như chữ tuyền (ví dụ trường hợp ở cột 4, tờ 11b, quyển thơ 21). Chữ tuyến vốn không thấy được liệt vào dạng chữ húy (dưới bất kì kiểu kiêng húy nào)(9). Phải chăng chữ là một kiểu “tự nguyện kiêng húy” (người viết tự ý kiêng, không phải do ràng buộc của các chính lệnh kiêng húy của triều đình)?

- Chữ , trong khoảng văn bản từ quyển thơ 14 đến quyển thơ 21, chúng tôi đều nhìn thấy chữ được húy bớt nét thành (bớt bộ nhật ở bên trái); trong những phần văn bản còn lại (kể cả phần quyển văn và các phần ở mở đầu của cuốn sách), chữ phổ biến được cải dạng thành thìn như ở quyển thơ 10. Cũng như trường hợp cải dạng thành , việc bớt nét thành là kiểu húy theo định lệ của đời Thành Thái.

Nghiên cứu chữ húy trong việc xác định niên đại văn bản là một phương pháp hiệu quả cao, và để sử dụng cho hiệu quả phương pháp này thì đòi hỏi không ít công phu. Muốn đưa ra những kết luận về mối liên hệ giữa chữ húy với niên đại văn bản ở trường hợp Tuần Cai biệt thự hợp tập A.2985, chúng ta cần phải tiếp tục khảo sát trên tổng thể văn bản với toàn bộ các chữ dạng húy và nằm trong diện kiêng húy. Trong giới hạn tìm hiểu của bài viết, tình hình về ba chữ húy nêu trên cho thấy có sự không thống nhất trong cách kiêng húy ở cùng một chữ, có chữ húy mang niên đại sớm hơn - vào thời Tự Đức, cùng thời gian sáng tác của các thi văn phẩm, có chữ húy mang niên đại muộn hơn - vào thời Thành Thái sau đó…

Như vậy phần nhiều là, văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập A.2985 mà chúng ta có ngày nay có lẽ được in từ bộ ván khắc cũng đã được khắc lại và khắc bổ sung qua các thời kì (như trường hợp của bộ ván khắc trong phủ Tuy Lí vương). Song, chí ít với những chữ húy từ thời Tự Đức đã xuất hiện trên văn bản, chúng ta có thể biết rằng thi văn tập của Hồng Y Quân Bác vốn dĩ được tập hợp và khắc in một cách khá “qui củ” vào thời gian không lâu sau khi ông qua đời, và công việc đó tiến hành trong khoảng từ năm 1877 đến năm 1883 - nghĩa là bộ ván khắc toàn văn cho Tuần Cai biệt thự hợp tập hẳn đã được hoàn thành trong thời gian sáu năm đó (!).

Khi thực hiện giới thiệu bộ sách, mục đích chủ yếu chúng tôi hướng tới là tạo được những cơ sở hữu ích cho việc công bố văn bản (tức là đưa ra được một văn bản đã xử lí qua các thao tác khảo đính, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải). Tất cả những công việc mô tả văn bản, xác định niên đại, quá trình hình thành tập sách… đều là những khâu bước trước để đi tới “công bố văn bản”. Đối với Tuần Cai biệt thự hợp tập, công tác “công bố văn bản” đã được thực hiện ở một bộ phận, cho dù là một phần rất nhỏ. Công việc này được chúng tôi tiến hành ở khóa luận tốt nghiệp với đề tài Tuần Cai biệt thự hợp tập (Q.10) - Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật (KLTN ngành Hán Nôm, khóa 2000-2004)(10). Bản khóa luận đã thực hiện dịch thuật trọn vẹn 51 bài thơ của quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập và bước đầu tiếp cận một vài đặc điểm nội dung thi ca của tác giả Hồng Y Quân Bác. Trong quá trình giải mã văn bản, ở khóa luận của mình, chúng tôi đã chú ý đến tính chất xác định được thời gian sáng tác của những bài thơ thuộc quyển 10. Không chỉ quan tâm đến trật tự thời gian trước sau của 51 bài thơ, chúng tôi cũng đã tìm hiểu môi trường văn hóa sản sinh ra những tác phẩm đó. Đó là môi trường sinh hoạt văn hóa cung đình với tràn ngập không khí xướng hoạ thù tạc, đó là môi trường tri thức có ảnh hưởng không thể phủ nhận là không đậm nét từ văn hóa Trung Hoa mà nhà trí thức Việt Nam xây dựng nên thông qua con đường sách vở, học hành. Đó còn chưa tính đến hoàn cảnh riêng của nhà thơ Quân Bác - một vị vương công bình sinh “thường chẳng rời xa vợ con, chân không bước ra ngoài cung phủ, chẳng được thấy núi lớn đầm rộng để khởi phát tứ thơ hùng tráng, chốn giao du qua lại không có những bậc uyên bác, ẩn sĩ, thần tăng để mở rộng kiến văn, cũng chẳng độc hành đến những nơi thắng tích nên không có ghi chép về danh lam núi sông…” (Kiến Thụy công thi tập tự) như lời nhận xét của Vi Dã tiên sinh (tức Tuy Lí Vương Miên Trinh) - một nhân sĩ nổi tiếng đương thời…

Tuần Cai biệt thự hợp tập là một hợp tập thơ văn phong phú, xét về mặt văn bản, tập sách còn tương đối nguyên vẹn, đầy đủ, chứa đựng những thông tin văn bản học ý nghĩa, xét về mặt nội dung, tập sách đã lưu giữ hầu như toàn bộ trước tác của tác giả - hoàng tử Hồng Y Quân Bác, một nhân vật “có tiếng thơ” trong các thi xã, các hội xướng hoạ linh đình thời những năm Tự Đức của triều Nguyễn. Chúng tôi hi vọng, trong một thời gian không xa, Tuần Cai biệt thự hợp tập sẽ được chuyển dịch trọn vẹn. Chúng tôi có cơ sở để nói rằng việc nghiên cứu trên văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập không chỉ là hữu ích với chính bản thân hợp tập này mà còn có ý nghĩa khá đặc sắc trong nghiên cứu hệ thống thơ văn cung đình Nguyễn triều.

Chú thích:

([1]) Ngoài bản A.2985, theo khảo sát của chúng tôi, Tuần Cai biệt thự hợp tập còn hai văn bản khác nữa và đều là dạng bản chép tay, một nằm tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A.377, và một nằm tại tư gia của ông Nguyễn Quí Tiết (thành phố Huế). Bản A.377 tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm 1 tập dày 472 trang, về đại thể, giống với bản A.2985 - là bản được giới thiệu trong bài viết này. Chúng tôi nhận thấy bản A.377 chép đủ số quyển thơ văn cũng như số bài trong đó, trật tự sắp xếp trước sau của các bài thơ văn được tôn trọng cẩn mật. Ngoài ra, theo chúng tôi được biết, Tuần Cai biệt thự hợp tập còn một bản chép tay nữa (khác với bản chép tay A.377), hiện được lưu giữ tại gia đình ông Nguyễn Quí Tiết ở thành phố Huế. Song, hiện nay, chúng tôi chưa có điều kiện nắm thông tin đầy đủ về văn bản này.

(2) Các tập 2, 3, 4 có trật tự sắp xếp thống nhất, ổn định. Riêng tập 1, phần sắp xếp thứ tự trang sách có phần lộn xộn, chúng tôi ngờ rằng sự lộn xộn này là do người sau nhầm khi đóng lại sách (vì số thứ tự trang ở biên sách vẫn rất chính xác), và cũng đã để bị mất một số trang. Đối chiếu với bản viết A.377, chúng ta hoàn toàn có thể khôi phục lại trật tự vốn có của tập 1 bản in A.2985. Phần nội dung của các trang thiếu là: Nội dung 1 bài Thư, 1 bài Minh, trang đề kết thúc Văn quyển 1, trang mở đầu Văn quyển 2, 1 bài Biểu, 1 bài Bạt, 1 bài Giáo thị.

(3) Tuy Lí vương Miên Trinh, Vi Dã hợp tập, Bản in (tư liệu chụp lại từ bản được lưu giữ ở phủ Tuy Lí Vương - đường Nguyễn Sinh Cung, thành phố Huế. Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh và nhóm khảo sát thực tập của lớp sinh viên Hán Nôm K45 đã tạo điều kiện cho chúng tôi được xem những tư liệu này từ đợt tháng 3 năm 2004).

(4) Về hai chữ Tuần Cai, người đặt tên cho biệt thự là “biệt thự Tuần Cai” đã lấy ý từ Kinh Thi. Kinh Thi, phần Tiểu Nhã có thiên Nam cai. Thiên này đã thất truyền, nay chỉ còn đề mục. Chú thích của Mao truyện nói rằng: Thiên Nam cai có nội dung khuyên bảo con cái phải có hiếu với cha mẹ, phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ. Về sau, Thúc Tích đời Tây Tấn cứ vào ý của Mao truyện làm sách Bổ vong thi, trong đó có bài Nam cai mở đầu bằng câu: Tuần bỉ nam cai, Ngôn thái kì lan (Men theo thềm nam, Hái nhành hoa lan).

(5) Nguyên văn chữ Hán như sau: “君博才日益進,著述日益富… … 短句長篇,輝照翰墨,裒然成集乃諄諄屬余序,首其謙抑好學如此,則君博之行之度越今人愈,可知矣!” (Quân Bác tài nhật ích tiến, trứ thuật nhật ích phú. (…) Đoản cú trường thiên, huy chiếu hàn mặc, bầu nhiên thành tập. Nãi truân truân chúc dư tự, thủ kì khiêm ức hiếu học như thử, tắc Quân Bác chi hạnh chi độ việt kim nhân dũ, khả tri hĩ).

(6) Nhiều tác giả (Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc), Nguyễn Phúc tộc thế phả - Thủy tổ phả, Vương phả, Đế phả, tr.352, Nxb. Thuận Hóa, Tp. Huế, 1995.

(7) Phủ thờ Tuy Lí Vương Miên Trinh nằm ở số nhà 98 đường Thuận An trước đây, nay là đường Nguyễn Sinh Cung, Tp. Huế. Hiện trong phủ còn lưu giữ được 174 tấm ván khắc của bộ Vi Dã hợp tập, trong đó ván 1 mặt là 14 tấm, ván 2 mặt là 160 tấm. Xem thêm: Thái Trung Sử, Khóa luận tốt nghiệp đề tài Khảo sát hệ thống văn bản Hán Nôm tại khu di tích phủ Tuy Lí Vương, H. 2004.

(8) Thái Trung Sử, Khóa luận tốt nghiệp Đại học khóa 2000-2004 chuyên ngành Hán Nôm đề tài Khảo sát hệ thống văn bản Hán Nôm tại khu di tích phủ Tuy Lí vương, H. 2004.

(9) Tham khảo: Bảng liệt kê chữ húy qua các triều đại Việt Nam do Ngô Đức Thọ xác lập (Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại (Les caractères interdits au Vietnam à travers l’Histoire - Emmanuel Poisson dịch và chú giải), Nxb. Văn hóa, 1997).

(10) Chúng tôi được biết anh Vũ Huy Vĩ mới đây đã bảo vệ xong luận văn Thạc sĩ ngành Hán Nôm tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - ĐHQGHN với đề tài “Tuần Cai biệt thự hợp tập, một số vấn đề tác gia tác phẩm”. Trong luận văn của mình, về phần chuyển dịch, anh đã thực hiện theo cách thức tuyển dịch, chọn dịch (tức là văn bản chưa được dịch trọn vẹn nguyên bộ). Tuy nhiên, khi xây dựng bản thảo cho bài viết này, chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận với những bản dịch cũng như phần luận văn của anh Vĩ (!)./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.280-295)

Phùng Minh Hiếu
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm