VI | EN
27. Góp phần tìm hiểu về quê hương, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của một vị thiền sư triều Lý (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỀ QUÊ HƯƠNG, THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TƯ TƯỞNG CỦA MỘT VỊ THIỀN SƯ TRIỀU LÝ

NGUYỄN QUANG HÀ

TT Bảo tồn khu di tích Cổ Loa-Thành cổ Hà Nội

1. Về quê hương Vạn Hạnh

Cho đến hiện nay, hầu như chưa có tài liệu nào cho biết cụ thể Vạn Hạnh thiền sư tên thật là gì, Vạn Hạnh chỉ là pháp danh. Sách Thiền uyển tập anh ghi: Thiền sư họ Nguyễn, nhiều đời thờ Phật(1), tên Vạn Hạnh chỉ là pháp danh, ông người hương Cổ Pháp, Từ Sơn, Bắc Ninh. Để hiểu rõ hơn về quê hương của Vạn Hạnh, chúng ta không thể không dựa vào những tư liệu gốc hay những tư liệu gần nhất với thời đại ông. Có lẽ người nhắc đến quê hương của Vạn Hạnh sớm nhất là dựa vào bài ca ngợi Vạn Hạnh mang tên Truy tán Vạn Hạnh thiền sư của Lý Nhân Tông được chép lại trong sách Thiền uyển tập anhĐại việt sử ký toàn thư(2):

“Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm ky

Hương quán danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ”

(Vạn Hạnh thông ba cõi

Lời Sư nghiệm sấm thi

Quê hương tên Cổ Pháp

Chống gậy trấn Kinh kỳ)

Bài thơ ca ngợi Vạn Hạnh của vua Lý Nhân Tông (1064-1127) đã cho chúng ta biết quê hương của ông là ở Cổ Pháp. Cổ Pháp là đơn vị có trước thời Lý nhưng có lẽ đến đời Lý Nhân Tông bên cạnh tên gọi mới phủ Thiên Đức - tên gọi được đặt vào đầu triều Lý (1010), thì tên gọi Cổ Pháp vẫn được dùng. Căn cứ vào các sách địa lý cho biết điều đó. Theo Lịch triều hiến chương loại chí(3) của Phan Huy Chú thì Cổ Pháp thời Hùng Vương thuộc quận Vũ Ninh, đời Trần thuộc quận Nam Hải, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ, Ngô, Tấn, Tùy, Đường cũng theo thế. Thời Đinh đặt đạo Bắc Giang, Lê Đại Hành mới để phủ làm châu. Sách Đại Việt địa dư toàn biên cho biết thêm: “Huyện Đông Ngàn đời xưa là châu Cổ Lãm, Tiền Lê là châu Cổ Pháp, đời Lý là phủ Thiên Đức, đời Trần đổi làm huyện Đông Ngàn, thời thuộc Minh huyện này thuộc châu Vũ Ninh, phủ Bắc Giang, đời Lê cho thuộc vào phủ Từ Sơn, huyện này có 13 tổng, 97 thôn(4) Sách Đồng Khánh địa dư chí ghi tương tự: Huyện Đông Ngạn, từ thời Đinh về trước là châu Cổ Lãm. Năm 995, Lê Đại Hành đổi làm châu Cổ Pháp, Lý Thái Tổ lên ngôi về thăm quê ở Cổ Pháp cho đổi tên quê là phủ Thiên Đức (1010), thời thuộc Minh đổi làm huyện Đông Ngàn, thuộc châu Vũ Ninh, phủ Bắc Giang. Đời Lê Thái Tông đặt huyện Đông Ngàn thuộc phủ Từ Sơn. Biên khảo trên cơ sở các sách địa lý và thư tịch cổ để lại, học giả Đào Duy Anh trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời cũng khẳng định: Huyện Đông Ngàn, Nhất thống chí - Bắc Ninh chép rằng: huyện Đông Ngàn là châu Cổ Lãm xưa chép trong sử ký (Đại Việt sử ký), Lê Đại Hành gọi là châu Cổ Lãm, đời Lý là phủ Thiên Đức, đời Trần đổi làm tên huyện như ngày nay. Từ đời Lê là huyện Đông Ngàn do phủ Từ Sơn kiêm lý, đời Nguyễn cũng theo đó(5).

Như vậy, các sách lịch sử địa lý cổ kim đều chép khá thống nhất tên gọi của các châu Cổ Pháp thời xưa là châu Cổ Lãm, thời Đinh Bộ Lĩnh tên gọi là châu Cổ Pháp, đầu thời Lý gọi là phủ Thiên Đức. Như vậy tên gọi Cổ Pháp là một tên gọi khá chung, bao gồm một phạm vi rất rộng không chỉ bao gồm một làng xã cụ thể như ngày nay. Do đó để khẳng định quê hương Vạn Hạnh ở đâu, làng xã nào là một vấn đề khó, cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa. Tuy nhiên dựa vào sự chỉ dẫn của các tư liệu trên cùng với kết quả điền dã, đặc biệt là các ngôi chùa mang tên chùa Cổ Pháp, chùa Lục Tổ, các địa danh trong khu vực liên quan đến Lý Công Uẩn và vương triều Lý như: Bãi Sập, Hoa Lâm, Đại Đình, Thái Đường, Dương Lôi... và các ngôi chùa mà Vạn Hạnh đã từng trụ trì tu tập cùng với các công trình, di tích nhà Lý như: Sơn Lăng cấm địa... thì chúng tôi có thể dự đoán rằng Châu Cổ Pháp - quê hương của Vạn Hạnh là một hương rộng lớn có thể tương đương với huyện Từ Sơn và Tiên Du ngày nay.

2. Sự nghiệp, hành trạng của Vạn Hạnh thiền sư và việc giúp Lý Công Uẩn lên ngôi

Như chúng ta đã biết, hiện nay dường như chưa có tài liệu nào ghi đích xác Vạn Hạnh sinh năm nào, chỉ biết một số tư liệu đã dựa vào ghi chép trong Thiền uyển tập anh nên đã ghi ông mất năm 1018(6), các sách chính sử như Việt sử lược(7), Đại Việt sử ký toàn thư(8), Đại Việt sử ký tiền biên(9) đều ghi Vạn Hạnh mất năm 1025. Vậy năm ông mất là năm ông bao nhiêu tuổi (?). Tìm trong Đại Việt sử ký toàn thư, năm Kỷ Dậu (Cảnh Thụy) năm thứ 2 (1009) có đoạn ghi lời nói của Vạn Hạnh bảo với Lý Công Uẩn rằng: “Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông như thế nào. Thực là cái may ngàn năm có một”. Lý Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh đưa Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn”(10).

Nếu đoạn trên là đúng lời nói của Vạn Hạnh được các sử gia ghi lại thì có thể từ đó mà biết được năm sinh của ông. Bởi đoạn văn trên cho biết vào năm 1009, Vạn Hạnh đã hơn 70 tuổi. Như vậy là chúng ta có thể tính được ông sinh vào khoảng năm 938 - 939. Năm đó là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc, bởi đất nước vừa giành được độc lập sau thắng lợi của Ngô Quyền chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Chắc hẳn tuổi ấu thơ của Vạn Hạnh khi đó đã được tắm trong không khí hào sảng của đại thắng quân Nam Hán, của công cuộc chống giặc ngoại xâm hơn 1000 năm Bắc thuộc. Sau khi giành được độc lập, Ngô Quyền đã chọn Cổ Loa (cách quê hương Cổ Pháp của Vạn Hạnh không xa) làm kinh đô với ý chí nối tiếp truyền thống dựng nước và giữ nước của các Vua Hùng- Vua Thục khi xưa càng góp phần hun đúc cho ông lòng yêu nước và nhãn quan chính trị.

Như thế, ta có thể tính được các mốc quan trọng mà Vạn Hạnh thiền sư đã tham gia vào các giai đoạn trọng đại của đất nước. Năm 21 tuổi, ông xuất gia ở chùa Lục Tổ (khoảng năm 960) cùng với sư Định Huệ(11) theo Thiền Ông đạo giả. Năm đó Thiền Ông đạo giả đã gần 60 tuổi(12). Từ tuổi tráng niên, cho đến tuổi trung niên (khoảng 40 tuổi), ông đã được Thiền Ông truyền cho những yếu chỉ của Thiền Tông và chính trong thời gian này ông đã chuyên tâm trau rồi kiến thức, ngày đêm khổ luyện học tập kinh kệ, tham khảo sử sách và đắc pháp trở thành thế hệ thứ 12 của dòng thiền Nam phương. Có thể nói rằng, trong khoảng thời gian Vạn Hạnh thiền sư trụ thế, tại vùng Bắc Ninh, ở các hương chung quanh có rất nhiều các vị thiền sư nổi tiếng uyên bác của các dòng Thiền phái Vô Ngôn Thông và dòng thiền Tỳ - Ni - Đa - Lưu - Chi như: Thiền Ông (902 - 979), Sùng Phạn (1004- 1087), Định Huệ... Chắc hẳn Vạn Hạnh thiền sư có nhiều điều kiện học tập trực tiếp hoặc qua sách vở với các bậc thầy và các bạn bè đồng môn của ông(13). Năm 979, Đạo giả Thiền Ông viên tịch, Vạn Hạnh lúc này đã khoảng 40 tuổi, ông được thầy truyền cho tâm ấn trụ trì thay thầy, chuyên tâm tập phép: Tổng trì - tam - ma - địa để lấy đó làm sự nghiệp. Sau hơn 20 năm thụ giáo ở Đạo giả Thiền Ông, bản thân không ngừng học hỏi, Vạn Hạnh thiền sư lúc này đã là người nổi tiếng uyên bác, ông đã thâu nhập được những điều huyền vi của giáo lý. Sử sách còn chép, lời nào sư nói ra, dân chúng đều cho là lời sấm ký. Căn cứ vào thời điểm năm 1009, Vạn Hạnh thiền sư khoảng hơn 70 tuổi, chúng ta cũng có thể tính được năm Vạn Hạnh giúp Lê Hoàn chống Tống (980-981) là năm ông đã khoảng 41- 42 tuổi.

Dưới thời Tiền Lê, vai trò của các vị quốc sư nổi tiếng như: Khuông Việt đại sư, Vạn Hạnh thiền sư...là những người có vai trò quan trọng trong việc tham mưu xây dựng quốc gia Đại Cồ Việt, đặc biệt từ khi nhà Lý mới dựng nghiệp, sư Vạn Hạnh đã có ảnh hưởng nhiều. Từ thời Tiền Lê, sư đã có tiếng là một nhà tiên tri. Cho nên Lê Đại Hành đã từng hỏi ý kiến, trong khi đánh Tống và đánh Chiêm. Sách Thiền uyển tập anh chép rằng: “Năm Thiên Phúc thứ nhất (980), nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược nước ta, đóng quân ở gò Tử Cương, núi Giáp Lăng, vua mời sư đến hỏi tình hình thế thắng bại như thế nào. Sư đáp: Chỉ trong ba, bảy ngày giặc tất phải lui. Sau quả đúng như thế. Vua muốn đi đánh Chiêm Thành, cùng bàn bạc với triều thần, nhưng chưa quyết. Sư tâu vua xin cấp tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dịp(14).

Sự kiện quan trọng của giai đoạn này là: đồng thời với việc Thiền Ông - người thầy khả kính của Vạn Hạnh viên tịch, ông tiếp nối thầy trụ trì chùa Cổ Pháp đồng thời ông nhận thêm cậu bé Lý Công Uẩn về nuôi nấng và kèm cặp, dạy dỗ do Thiền sư Lý Khánh Văn gửi lại nhờ Vạn Hạnh nuôi dạy. Năm đó, Lý Công Uẩn đã khoảng 7-8 tuổi (năm 980 - 981)(15). Vạn Hạnh thiền sư đã nhận ra Lý Công Uẩn là người có tư chất thông minh. Chính vì thế mà nhà sư đã kỳ vọng rất nhiều về cậu bé này: “Vua (Lý Công Uẩn) khi còn bé đã thông minh, khí độ rộng rãi, du học ở chùa Lục Tổ, sư Vạn Hạnh trông thấy vua, lấy làm lạ, nói rằng: “Đây là một người phi thường! sau này lớn mạnh lên, tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ”. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ: Lý Công Uẩn làm võ tướng dưới triều Tiền Lê, cụ thể là giữ chức “Điện tiền chỉ huy sứ”. Nhưng tư liệu không cho biết ông bắt đầu vào làm quan trong triều Tiền Lê là năm nào (?). Thiên Nam ngữ lục cho biết năm 20 tuổi (năm 993 - 994), Lý Công Uẩn bắt đầu đi làm võ tướng dưới triều Tiền Lê. Nếu như căn cứ vào tư liệu này thì Vạn Hạnh thiền sư có công dạy dỗ trực tiếp Lý Công Uẩn khoảng 12-13 năm(16). Tuy sống và làm việc ở triều đình Hoa Lư cách quê hương Cổ Pháp khá xa, nhưng chắc hẳn Lý Công Uẩn vẫn thường xuyên chịu sự chỉ bảo của Vạn Hạnh khi có điều kiện gần gũi. Mặt khác, với uy tín của mình, ông thường xuyên được vua Lê Đại Hành mời vào kinh đô để hỏi những vấn đề của đất nước và trao đổi những kiến thức Phật học. Những dịp như thế, chắc hẳn Vạn Hạnh thiền sư và người học trò yêu của ông sẽ có điều kiện bàn bạc những vấn đề về thế sự, tình hình chính trị đương thời.

Như chúng ta đã biết, dưới thời Tiền Lê, Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong tầng lớp bình dân và trong cả các tầng lớp quý tộc, vua quan, nhiều vị cao tăng được trọng đãi, mến mộ, nhiều kinh phật, nhiều kinh đạo tràng được khắc in trên bia đá, cột đá...Có thể nói rằng, cùng với lực lượng quân đội (do Đào Cam Mộc đứng đầu) và lực lượng Phật giáo (mà Vạn Hạnh là một trong những vị thiền sư tiêu biểu) là hai lực lượng chính phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhưng đến giai đoạn này, tầng lớp thống trị mà đại diện cao nhất là vua Lê Ngọa triều đã có những chính sách tàn ác, dã man trong luật pháp và những hành động xúc phạm đến tầng lớp Tăng nhân, nhiều người đã chán ghét nhà Tiền Lê và trông chờ vào cơ hội soán đoạt. Học giả Đào Duy Anh nhận xét về giai đoạn này như sau: “Phái tăng đạo bấy lâu vẫn ủng hộ nhà Lê, cũng không chịu nổi những hành động táo bạo của Long Đĩnh. Việc Long Đĩnh ngược đãi sư Quách Ngang (có sách viết là Quách Mão) có thể là chứng tỏ mối mâu thuẫn giữa nhà vua và phái tăng nhân đã có thái độ đối lập- Sư Vạn Hạnh từng làm cố vấn cho Lê Hoàn, đã chán ghét nhà Lê đến nỗi đặt ra câu sấm đoán trước sự diệt vong của nhà Lê và sự hưng khởi của nhà Lý để khuyên Lý Công Uẩn cướp ngôi nhân lòng oán ghét của tất cả các tầng lớp xã hội đối với nhà Lê, Lý Công Uẩn là Điện tiền chỉ huy sứ trông nom quân cận vệ, quyết định thực hiện âm mưu soán đoạt(17).

Trước tình hình đó, Vạn Hạnh với nhãn quan tinh tường của mình chắc đã dự đoán được tương lai của đất nước trong những năm tới như thế nào. Để tạo dư luận hướng dẫn quần chúng nhân dân và cả tầng lớp quan lại triều đình khi đó, nhiều bài thơ mang tính chất sấm vỹ từ vùng quê Cổ Pháp và lân cận lần lượt ra đời và lan rộng đến kinh đô Hoa Lư. Có lẽ những bài thơ mang tính sấm vỹ này đều do Vạn Hạnh làm ra. Chúng ta chỉ đoán vậy thôi chứ không có gì làm bằng chứng ngoài những bài đã được sử sách chép lại(18). Những bài thơ sấm này có vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận để đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, nó có tác dụng lớn trong việc gieo vào lòng người niềm tin về một triều đại tiến bộ thay thế triều đại đã đến ngày tiêu vong, và đó là ý trời sắp đặt. Cùng với sự sắp xếp, kịch bản ra đời của các bài sấm ngôn và đặc biệt là bài Khuyến Lý Công Uẩn tức vị đế với chưa đầy một trăm từ trong một đoạn đối thoại đã cho chúng ta biết được biết bao hy vọng, tình cảm của Vạn Hạnh đối với người mà ông đã nhiều năm nuôi nấng, chăm sóc như một người cha ruột thịt. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại lời nói của Vạn Hạnh với Lý Công Uẩn mà đồng thời như muốn loan báo với toàn thiên hạ: “Vừa rồi, tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ, người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ, là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh giữ quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nổi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết, để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là cái may nghìn năm có một”(19)

Lý Công Uẩn đã được Vạn Hạnh thiền sư cùng với Đào Cam Mộc và các quần thần nhanh chóng đưa lên ngôi một cách êm thấm, kịp thời. Sau khi lên ngôi ít ngày, Lý Công Uẩn đã trở về quê bái yết tổ tiên cảm ơn quê hương và thân tộc, rồi truy phong tước vương cho cha mẹ, chú bác và người thân để đền ơn sinh thành và những người đã giúp đỡ mình lên ngôi để đền ơn tri ngộ, tu sửa nhiều đền chùa...Về Vạn Hạnh thiền sư không thấy sử chép ông được ban phong chức gì sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi.

Hiện nay trong chùa Tiêu vẫn còn bức tượng bằng đồng được thờ trong nhà thờ tổ có bài vị ghi rõ: Lý triều, Nhập nội, Tể tướng Lý Vạn Hạnh thiền sư thần vị. Không biết bài vị này căn cứ vào đâu mà đề như vậy (?). Chúng ta đều biết rằng trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có ghi một chi tiết tương tự: Chùa Trường Liêu, là chỗ trụ trì của sư Vạn Hạnh, Nội tể tướng triều Lý(20). Cho đến ngày nay, không có một tư liệu nào khẳng định Vạn Hạnh được ban chức Tể tướng của triều Lý. Trong các tư liệu thư tịch cổ, văn bia và sử sách cũng như các tư liệu Phật giáo cho chúng ta biết vào thời Đinh, Tiền Lê và cả thời Lý, người ta thấy những tên gọi như: Tăng thống, Trưởng lão, Cư sĩ, Quốc sư chỉ là những danh hiệu. Đầu hàng tăng có chức Quốc sư. Sau theo thứ tự trên dưới, có các chức tăng thống, tăng lục, tăng chính, đại hiền quan. Quốc sư chỉ có nghĩa là người sư của đất nước, cũng không phải là chức tể tướng như vị thái sư. Cũng như các chức kia, quốc sư coi việc giữ các chùa trong nước giảng đạo, lập đàn và giúp vua trong những việc cầu may, cầu phúc(21). Bài vị của Vạn Hạnh được ghi để ở chùa Tiêu hay ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí với chức danh Nội tể tướng triều Lý chỉ có nghĩa được hiểu là Quốc sư mà thôi. Thông thường về Vạn Hạnh, người ta chỉ gọi bằng tên gọi giản dị là Thiền sư. Tất nhiên ông vẫn là một vị cao tăng, vị nguyên lão của triều đình nhà Tiền Lê, là nhà “Thiết kế” của vương triều Lý nên được trọng đãi đặc biệt. Chỉ biết rằng ông vẫn thường xuyên chống gậy đi thăm thú kinh thành Thăng Long. Hình ảnh đó còn in đậm trong trí nhớ của vua quan triều Lý. Vua Lý Nhân Tông trong bài Truy tán Vạn Hạnh thiền sư có câu: “Hương quán danh Cổ Pháp/ Trụ tích trấn vương kỳ”. (Quê hương tên Cổ Pháp/ Chống gậy trấn kinh kỳ).

Từ khi giúp Lý Công Uẩn lên ngôi (1010) cho đến khi viên tịch (1018) (trong khoảng 9 năm) hầu như không có tư liệu nào đề cập đến đời sống và các hoạt động của Vạn Hạnh thiền sư. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ có một dòng ngắn ngủi: “Vạn Hạnh chết (Vạn Hạnh không bệnh mà chết, người bấy giờ nói là hóa thân”(22). Đại Việt sử ký tiền biên có ghi cụ thể hơn vài chi tiết, bên cạnh dòng thông báo như sách trên còn chép bài kệ Thị đệ tử (Bảo các học trò) trước khi viên tịch và viết thêm “Sư không ốm mà chết, người bấy giờ gọi là hóa thân, vua nghe tin cáo phó, thân hành đến chùa Lục Tổ viếng và an ủi, lập đàn siêu độ, cấp dân hộ làm người coi, mỗi năm hai người”(23). Có lẽ Ngô Thì Sĩ chép bài kệ trên là dựa vào sách Thiền uyển tập anh. Nhưng Thiền uyển tập anh có cho biết cụ thể ngày Vạn Hạnh viên tịch là ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), chứ không phải Thuận Thiên thứ 16 (1025) như các sách chính sử đã chép. Sau khi đọc bài kệ, sư lại bảo các đệ tử bằng một câu đầy tính triết lý nhà Phật: “Các ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựa vào chỗ vô trụ mà trụ. Một lát sau sư qua đời. Vua cùng các quan dân làm lễ hỏa táng, rồi xây tháp chứa xá lỵ để đèn hương phụng thờ”(24).

Đoạn văn trên đã cho ta biết nhiều thông tin quan trọng, trước hết là câu nói trước lúc vĩnh biệt cõi đời đậm chất triết học Phật giáo, khái niệm“trụ” và “vô trụ” mà nhà sư nói đến cũng tương tự như các khái niệm “thường, vô thường, vô thường trụ”, khái niệm “vô” và “hữu”. Câu nói rất hợp với hoàn cảnh ra đời của bài kệ. Cho nên chúng ta tin rằng đó đúng là của Vạn Hạnh chứ không phải do nhà sử học đời sau thêm vào. Câu nói như giảng nghĩa cho bài kệ thêm sáng rõ. Các tư liệu chính sử và Thiền Uyển tập anh còn cho biết sư Vạn Hạnh viên tịch được tiến hành rất trọng thể có nhà vua và các quan tham gia. Đó là sự vinh hạnh và đánh giá cao nhất của triều đình đối với một đại sư - trí thức lớn của Đại Việt lúc bấy giờ. Trong trường hợp này, Vạn Hạnh thiền sư còn là một vị đặc biệt hơn bất cứ một vị đại sư, Quốc sư nào thời Lý. Bởi như trên đã nói, ông là người trực tiếp nuôi dưỡng, dạy bảo Lý Công Uẩn, người đã có công lớn lập lên vương triều Lý. Hay nói khác, với Lý Công Uẩn, Vạn Hạnh thiền sư là một người cha, một vị thầy, với vương triều Lý, Vạn Hạnh là “nhà thiết kế” tài tình. Như vậy sư Vạn Hạnh thọ khoảng 86 tuổi (938 (939) - 1025) tính toán theo các sách Việt sử lược, Toàn thư, Tiền biên.., hoặc theo Thiền uyển tập anh thì ông thọ khoảng 80 tuổi ( 938 (939) - 1018)(25). Sau khi Vạn Hạnh qua đời, dân gian đã thần thoại hóa nhiều tích để gắn cho ông như: Vạn Hạnh đã “Kỵ hổ thăng thiên” (Cưỡi hổ bay lên trời). Phong thổ Hà Bắc đời Lê đã ghi lại truyền thuyết này: “Tiêu Sơn là chốn có nhà sư cưỡi hổ vàng” và có câu thơ: “Non Tiêu nọ truyền tuynh tăng tục/ Cưỡi hổ vàng làm thú tiêu giao). Ngày nay, chúng ta chưa tìm thấy ngôi tháp đặt xá lỵ của nhà sư như thông tin trong các tư liệu của Thiền uyển tập anh đã cho biết. Sau khi Vạn Hạnh thiền sư qua đời, chùa Tiêu càng trở nên một chốn rất linh thiêng, được nhà Lý cho xây dựng bề thế hơn đồng thời nơi đây thường diễn ra các hoạt động cầu đảo, cúng tế của nhà vua mỗi khi cần cầu cúng(26).

III. Về tư tưởng của Vạn Hạnh thiền sư qua việc tìm hiểu các di tác

Tìm hiểu thân thế sự nghiệp của một con người không chỉ giản đơn là những mốc sự kiện mà thông qua các sự kiện, các hành động việc làm của nhân vật đó để đánh giá ý thức, tư tưởng của họ. Nghiên cứu về Vạn Hạnh - một vị thiền sư được coi là Quốc sư có uy tín bậc nhất trong triều Lý, là vị trí thức lớn và tiêu biểu lúc bấy giờ, chúng ta không thể không nghiên cứu về các trước tác của ông qua các bài thơ, kệ hoặc lời nói của họ được các học trò hoặc người đời sau ghi lại thường gọi là “ngữ lục”. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu những nhận xét, đánh giá của người đương thời về họ cho thật toàn diện, cũng như cách hiểu của các nhà nghiên cứu sau này về tiền nhân như thế nào. Đặt ra vấn đề nghiên cứu tư tưởng của một người sống cách chúng ta vừa tròn 1000 năm, lại là một con người có trí tuệ siêu phàm, xuất chúng như Vạn Hạnh thiền sư không phải là công việc dễ dàng.

Trước hết, chúng ta phải chọn ra được những tác phẩm nào đích thực là của Vạn Hạnh. Cho đến nay, qua các tư liệu tin cậy chúng ta mới chỉ đưa ra được 4 bài thơ và một đoạn văn trích lời nói của Vạn Hạnh. Đó là các bài: Ký Đỗ Ngân, Quốc tự, Yết bảng thị chúng, Thị đệ tử và một đoạn nói riêng với Lý Công Uẩn. Đoạn này vốn không có đầu đề, về sau được các soạn giả đặt cho tên gọi: “Khuyến Lý Công Uẩn tức vị đế” (Khuyên Lý Công Uẩn lên ngôi). Ngoài ra, còn nhiều bài khác được các nhà nghiên cứu xếp vào dạng bài khuyết danh như: Đại sơn, Đại đức, Xuất xử, Sấm ngôn, Chính nam, Tây vọng, Chính bắc. Riêng về các bài thơ được coi là khuyết danh mang tính sấm vĩ này được chép ở các sách khác nhau như: Việt Điện u linh, Thiền uyển tập anh, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, và nhiều bộ sưu tập thơ văn như: Hoàng Việt thi văn tuyển mà nhiều người đoán rằng có lẽ là của Vạn Hạnh thiền sư, nhưng không có gì để khẳng định. Bởi trong hoàn cảnh đó, người ta phải dấu mặt phần vì để cho nó được linh thiêng coi như đó là bài thơ của thần nhân, là điềm báo của trời để mê hoặc quần chúng, phần vì nếu tác giả lộ tên có thể còn ảnh hưởng đến cả tính mạng nữa. Vì thế, ngày nay chúng ta không biết tên tác giả của nó là ai. Các soạn giả Thơ văn Lý - Trần đã có nhận xét thật chính xác: Những bài thơ sấm ký, khuyết danh nhưng đều ít nhiều có liên quan đến Vạn Hạnh hoặc Đào Cam Mộc...về việc ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi(27). Như chúng ta đã biết, Vạn Hạnh là người giỏi cả Tam học: Nho, Phật, Đạo, trong đó đặc biệt giỏi về phong thủy, địa lý. Ông chính là học trò chính truyền của dòng truyền thừa mà theo Thiền uyển tập anh là Từ Định Không (730 - ?), La Quý An (852-936), Thiền Ông (902-979) rồi đến Vạn Hạnh. Vì thế có nhà nghiên cứu đã cho rằng: “Ta có nhiều lý do để tin rằng, Quốc sư Vạn Hạnh là thầy của Lý Công Uẩn là người đã thuyết phục vua chuyển rời từ Hoa Lư ra Thăng Long trong ý nguyện bảo vệ nền độc lập được lâu dài (...). Ta có thể nghĩ rằng, thiền sư Vạn Hạnh vừa là người thảo chiếu, vừa là người thiết kế họa đồ cho kinh thành Thăng Long(28). Với tài năng của Vạn Hạnh và tình cảm đặc biệt của ông như một người cha ruột đối với Lý Công Uẩn đã cho phép chúng ta đi xa và suy đoán như vậy.

Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào các tác phẩm đã biết chắc chắn là của Vạn Hạnh, chúng ta cũng đã có đủ căn cứ để đánh giá về ông. Tác phẩm của Vạn Hạnh có thể chia làm hai chủ đề: Chủ đề của những bài sấm ký và thư từ là những bài làm ra nhằm mục đích phục vụ cho công việc chính trị, cho công việc vận động thành lập vương triều Lý và thơ mang tính chất Phật giáo thuần túy. Qua đó, cho chúng ta thấy được ông là người giỏi về độn số, có nhãn quan chính trị sắc bén. Chẳng hạn như bài thơ Yết bảng đã tiên đoán về sự diệt vong của nhà Tiền Lê và sự hưng khởi của nhà Lý:

"Tật Lê trầm bắc thủy

Lý tử thụ Nam thiên

Tứ phương can qua tĩnh

Bát biểu hạ bình an".

(Tật Lê chìm biển bắc

Cây Lý mọc trời Nam

Bốn phương binh đao dứt

Tám hướng chúc bình an (29)

Hay bài thơ: Ký Đỗ Ngân cũng đã chứng tỏ ông hiểu thấu lòng người, hiểu thấu đối phương, với lời nhắn nhủ nhẹ nhàng làm cho Đỗ Ngân phải sợ:

“Thổ mộc tương sinh cấn bạn kim (câm)

Vi hà mưu ngã uẩn linh khâm

Đương thời ngũ khẩu thu tâm tuyệt

Chân chí vị lai bất hận tâm”

Dịch thơ:

Thổ mộc sinh ra cấn cạnh kim

Thù ta toan định sẵn mưu ngầm

Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt

Cả đến mai sau chẳng oán ngầm(30).

Về chủ đề thơ văn đậm tính chất Phật học phải kể đến bài kệ Thị đệ tử làm trước lúc lâm chung:

“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn vật xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Dịch thơ:

Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông(31).

Bài kệ đã nói lên về sự mất còn, thịnh suy, “vô” và “hữu”. Cuộc đời của con người, của mỗi triều đại không có cái gì là vĩnh cửu, không có cái gì là vĩnh viễn mà có thịnh, có suy, có được, có mất. Con người cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đó là quy luật tất yếu của lịch sử cũng là quy luật của sự vận động và phát triển. Con người đứng trước hoàn cảnh đó không hề sợ hãi mà hãy vững tâm, hãy làm chủ cuộc sống của mình bởi thịnh và suy như giọt sương treo đầu ngọn cỏ. Cuộc đời của con người sống trên thế giới này theo quan niệm của Phật giáo cũng chỉ là nhất thời, về thế giới của cõi Phật mới là thế giới của vĩnh hằng. Bài kệ trên cùng câu nói với các đệ tử trước lúc lâm chung: “Các người muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ”. Câu nói thể hiện rõ tinh thần tự do phá chấp. Vạn Hạnh không những là vị lãnh đạo đời sống tâm linh mà còn là một người hành động. Thơ thiền của ông thấm nhuần tinh thần Bát nhã và sự thấu hiểu về thời cuộc của con người từng trải, thông thái.

Nghiên cứu về con người và sự nghiệp của Vạn Hạnh thiền sư cho đến nay không nhiều người đề cập. Dưới thời trung đại có thể kể đến những nhận xét, đánh giá của Lý Nhân Tông với bài Truy tán Vạn Hạnh thiền sư và các lời bình sử của nhà sử học Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ...

Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư đã đánh giá rất cao tài năng của Vạn Hạnh, ông là người sâu sắc, học rộng, hiểu nhiều, tri thức uyên thâm... Nhưng với tinh thần phê phán của nhà Nho, thấm đẫm tinh thần Nho giáo, Ngô Sĩ Liên đã phê phán ông như: Dứt tính mệnh, bỏ nhân luân, chán trần tục ồn ào, nương cửa thiền tịch mịch, để trong sạch lấy một mình, người quân tử không cho là phải(32). Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên cũng giành nhiều dòng hơn khi đánh giá về Vạn Hạnh(33). Tuy nhiên những nhận xét, lời bình của các nhà sử học phong kiến đánh giá về Vạn Hạnh thiền sư dường như không khác nhau là bao nhiêu(34).

Trở lại bài Truy tán Vạn Hạnh thiền sư của vua Lý Nhân Tông đã cho chúng ta biết được sự đánh giá rất cao của ông đối với sư Vạn Hạnh. Chỉ bằng bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt (4 câu, mỗi câu 5 từ) ngắn gọn nhưng đã nói rõ được hết sở học của ông, về khả năng sấm ký, tiên tri và phong thái chống gậy ung dung thăm chốn kinh kỳ.

Bài thơ này đưa đến cho các nhà nghiên cứu nhiều cách hiểu khác nhau, đặc biệt là câu đầu và câu cuối. Câu đầu: “Vạn Hạnh dung Tam tế” đã có nhiều cách hiểu khác nhau về từ “Tam tế”. Các dịch giả của Hoàng Việt thi văn tuyển dịch là: “Sư Vạn Hạnh thông hiểu ba giáo”(35). Ba giáo ở đây có lẽ là: Nho- Phật - Đạo(?). Tổng tập văn học Việt Nam(36) đã giải thích câu tam tế là ba cõi (trời-đất-người). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam(37) cũng dịch nghĩa tương tự là “Vạn Hạnh thông ba học (cõi). Chúng tôi thật không hiểu thông ba học (cõi) là gì?. Nếu như hiểu Vạn Hạnh thông Nho Phật Đạo thì phải dùng từ “Thông tam giáo”, còn hiểu là: “Vạn Hạnh thông Tam (ba) cõi” mà giải thích là (thiên, địa, nhân) thì phải là “tam tài” chứ. Có lẽ vấn đề này cần phải nghiên cứu thêm. Trong các cách hiểu và giải thích câu thơ của Lý Nhân Tông về Vạn Hạnh Thiền sư, chúng tôi thấy cách hiểu của Thích Thanh Từ có lẽ đúng hơn “Vạn Hạnh dung tam thế” và dịch là: “Vạn Hạnh thông ba mé”(Giải thích từ “Tam tế” là ba mé: quá khứ, hiện tại, vị lai)(38). Tra cứu qua các sách Từ điển thuật ngữ Phật học cũng như khảo cứu cách hiểu của các nhà nghiên cứu xưa như Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục chúng ta đã tìm được cách hiểu của ông “Tam thế”: là đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai(39).

Hay câu thơ thứ 4 cuối cùng trong bài Truy tán Vạn Hạnh Thiền sư của Lý Nhân Tông cũng có sự khác nhau về mặt văn bản học và cách hiểu khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư, Đại việt sử ký tiền biên, Việt sử lược cũng như Thiền uyển tập anh ghi tương đối thống nhất với nhau về văn bản: “Hương quan danh Cổ Pháp/Trụ tích trấn vương kỳ”(Quê hương làng Cổ Pháp/ Chống gậy chốn kinh kỳ). Nhưng trong Hoàng Việt thi văn tuyển lại ghi: “ơng quán danh Cổ Pháp/ Quải tích trấn vương kỳ”(40) (Dịch là: (Quê hương tên Cổ Pháp/ Treo gậy chốn kinh kỳ). Các soạn giả của Tổng tập văn học Việt Nam cũng đã dịch đúng nghĩa câu thơ trên nhưng đã giải thích rằng: Tích là tích trượng, chỉ chiếc gậy bịt đầu, bịt thiếc mà các nhà sư thường dùng. Cả câu muốn nói Vạn Hạnh trụ trì ở một ngôi chùa trong kinh thành và nhà sư là trụ cột của quốc gia”(41). Chúng tôi cho rằng nhận xét trên là xác đáng. Chắc chắn Vạn Hạnh đã nhiều lần chống gậy ra thăm kinh đô Thăng Long- Kinh đô của vương triều Lý - một vương triều ông đã dày công tham mưu và góp phần quan trọng gây dựng từ buổi ban đầu. Còn việc ông có trụ trì một ngôi chùa nào đó trong kinh thành Thăng Long hay không thì cho đến nay chưa có tài liệu nào cho biết điều đó...

Có thể nói rằng, Vạn Hạnh thiền sư là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của của thế kỷ thứ X, đầu thế kỷ XI. Với Lý Công Uẩn (sau này trở thành Lý Thái Tổ), ông thực sự thân tình, nuôi nấng như một người cha, là một người thầy theo sát dạy dỗ ông từ tuổi ấu thơ cho đến khi trưởng thành và làm quan. Từ làng quê Cổ Pháp, với sở học và từng trải của mình, ông đã tham gia giúp Lê Hoàn chống Tống, xây dựng vương triều nhà Tiền Lê, rồi sau này ông là người đã bằng trí tuệ mẫn tiệp của mình hết lòng phù giúp cho sự nghiệp của Lý Công Uẩn và vương triều Lý - vương triều rực rỡ võ công văn trị. Sau một ngàn năm nhìn lại, chúng ta vẫn thấy ở ông một con người cơ trí, với tri thức uyên thâm, bác học về các lĩnh vực chính trị, sấm ký, phong thủy, địa lý, văn học... trong nền minh triết phương Đông - Việt Nam./.

 

Chú thích:

(1) Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb. KHXH, H. 1993, tr.190.

(2) Thiền uyển tập anh, Sđd., tr.94. Cũng xem Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.247.

(3) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, H. 1992, tr 102.

(4) Nguyễn Văn Siêu: Đại Việt địa dư toàn biên, Viện Sử học và Nxb. Văn học, H, 1997, tr.428.

(5) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn hóa, H. 2005, tr.135.

(6) Thuyền uyển tập anh, Sđd..

(7) Việt sử lược, Sđd,

(8) Ngô Sĩ Liên, ĐVSKTT.TI, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.247.

(9) Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.205

(10) ĐVSKTT, BK, QII, 32a; bd,T1, Sđd, tr.238.

(11) Xem Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, H. 1993, mục Thiền sư Định Huệ (trụ trì chùa Quang Hưng, hương Yên Trịnh, phủ Thiên Đức, người quê Cẩm Điền, Phong Châu).

(12) Đạo Giả Thiền Ông (902 - 979) tu ở chùa Song Lâm, hương Phù Ninh, phủ Thiên Đức (nay là làng Nành, xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội), ông người hương Cổ Pháp.

(13) Chúng tôi thống kê trong Thiền uyển tập anh, Nxb. VH, H. 1993 có đề cập đến 71 vị thiền sư, cư sĩ, đạo giả, trưởng lão, tăng thống... trong đó có 30 vị cao tăng trụ trì tại các ngôi chùa của Kinh Bắc (bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang và Gia Lâm, Đông Anh (Hà Nội) từ Tk IX- XIII, trong đó có 9 người sống cùng thời hoặc tương đương với thế hệ thầy hoặc trò của Vạn Hạnh thiền sư.

(14) Thiền uyển tập anh, Sđd., tr.190,191.

(15) Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), đến năm Đạo giả Thiền Ông viên tịch (năm 979) thì Lý Công Uẩn mới 5 tuổi, (lúc này Lý Khánh Văn nuôi). Sử sách chỉ đề cập đến mối quan hệ của Vạn Hạnh thiền sư với Lý Công Uẩn mà không thấy đề cập đến mối quan hệ của Thiền Ông với Vạn Hạnh hoặc Thiền Ông với Lý Công Uẩn. Theo cảm nhận của chúng tôi, chắc hẳn Thiền Ông với Lý Khánh Văn phải có mối quan hệ và ảnh hưởng nhất định và Thiền Ông trong ký ức của cậu bé Uẩn chắc hẳn cũng khá mờ bởi lúc này Lý Công Uẩn còn bé thơ. ĐVSKTT cho biết: “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi”.(Tập I, sđd tr.240). Sách Thiên Nam ngữ lục lại cho rằng năm Vạn Hạnh thiền sư 60-70 tuổi, ở chùa Lục Tổ, khi đó Lý Khánh Văn giao Lý Công Uẩn cho Vạn Hạnh:

“Tuổi đà sáu bảy mươi xuân

Ở chùa Lục Tổ gửi thân lâm tuyền

Tuy rằng vui thú áng thiền

Song còn mến đạo thánh hiền thi thư

Nhân rồi lại dạy học trò

Khánh Văn bấy chừ đem Công Uẩn sang

Hỏi nói năng hết mọi đường

Cậy anh dạy cháu giữ giàng cho tôi”(Sđd, tr.52).

So sánh phần văn vần với phần “Toát yếu” lại không ghi khớp: “Lý Khánh Văn nuôi nấng Lý Công Uẩn không quản tanh nhơ, khi nhà vua lên bảy, tám tuổi, liền gửi nhà sư Vạn Hạnh dạy dỗ” (Sđd, tr.56). Như vậy, Lý Công Uẩn lên 7 - 8 tuổi (tức là năm 981-982). Đại Việt sử ký tiền biên,sđd, tr.192 cho biết: Năm 3 tuổi mẹ bế đến nhà Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp, Khánh Văn nuôi làm con nuôi... năm 7 tuổi Khánh Văn nhờ sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ dạy cho học. Năm đó theo tính toán của chúng tôi, Vạn Hạnh mới 42- 43 tuổi chứ không phải 60-70 tuổi như phần thơ trên đã nói.

(16) Thiên Nam ngữ lục, Nxb. KHXH, H. 1958, tác phẩm khuyết danh thế kỷ XVIII, do Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh (phiên âm, chú giải).

(17) GS Đào Duy Anh trong lời chú có thống nhất với nhà sử học Minh Tranh cho rằng; “ Tuy có sự đối lập của phái tăng đạo đối với hành động tàn bạo của Lê Long Đĩnh, tôi không nhận rằng có sự xung đột giữa tập đoàn phong kiến quân sự mà đại biểu là nhà Lê và tập đoàn phong kiến Phật giáo mà đại biểu là Lý Công Uẩn (...) Quân sự là lợi khí thực hiện thống nhất và lợi khí thống trị bằng tinh thần của giai cấp thống trị. Hai lực lượng quân sự và tôn giáo vốn là phục vụ quyền lợi của 1 giai cấp. Vì thế cho nên trong căn bản không có mâu thuẫn gì giữa hai lực lượng (Xem Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. VH-TT, 2006, tr.164).

(18) Các bài mà ngày nay chúng ta biết được chắc chắn là 5 bài trong đó có 4 bài thơ và một đoạn trích lời nói của ông với Lý Công Uẩn như: “Ký Đỗ Ngân”, “Quốc tự”, “ Yết bảng thị chúng”, “Thị đệ tử” và một đoạn văn xuôi “Khuyến Lý Công Uẩn tức vị đế” ngắn ngủi chưa tới một trăm từ. Ngoài ra còn nhiều bài sấm ký khác được sưu tập trong các bộ sách Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư đã tập hợp lại trong Thơ văn Lý -Trần, Tập I, Sđd gồm 8 bài: Đại sơn, Đại đức, Xuất xử, Sấm ngôn, Chính Nam, Tây Vọng, Chính Bắc.

(19) Đại Việt sử ký toàn thư, TI, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.237-238.

(20) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, TI, Địa lý chí, Nhân vật chí, Nxb. Sử học, H. 1960, tr.86.

(21) Xem Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nxb. Hà Nội, H. 1996, tr.413.

(22) Đại Việt sử ký toàn thư, TI, Sđd, tr.247. Trong Việt sử lược cũng ghi: Năm Ất Sửu, hiệu Thiên Thuận năm thứ 16 (1025), Sư Vạn Hạnh hóa (Sđd, tr.77). Ở đây chúng tôi theo Thiền uyển tập anh ghi ngày 15/5 năm Thuận Thiên thứ 9 (1018).

(23) Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.204-205). Xem Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, 1993, tr.193-194.

(24) Ở đây, chúng tôi vẫn thiên về tư liệu trong Thiền uyển tập anh cho rằng Vạn Hạnh viên tịch năm 1018 hơn. Vì đây là một tập sách chuyên viết về Phật giáo, một cuốn sách có từ thời Trần, được khắc in lại vào thế kỷ thứ XVIII (năm 1715). Hơn nữa tập sách này do chính thiền sư Như Trí - trụ trì tại chùa Tiêu khắc in (ngày nay vẫn còn tượng nhục thân). Tại ngôi chùa này, khi đó là một trong những trung tâm khắc in sách Phật rất lớn, trong đó có nhiều sách về lịch sử Phật giáo và văn hóa Việt Nam như

- Kế đăng lục, Thiền sư Như Sơn biên soạn.

- Thánh đăng lục,Thiền sư Tịnh Quang khắc in năm 1750.

- Khóa hư lục, Thiền sư Tuệ Hiền, khắc in khoảng thế kỷ XVIII.

- Thượng sĩ ngữ lục, Thiền sư Tuệ Nguyệt, khắc in năm 1763...

(25) Phong thổ Hà Bắc đời Lê, Ty văn hóa Hà Bắc, 1970 (Trần Văn Giáp dịch), Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng (Giới thiệu), tr.37-38. Phong thổ Hà Bắc đời Lê, đd tr.51. Theo khảo cứu của Trần Văn Giáp thì ông có giả thiết rằng, Phong thổ Hà Bắc đời Lê có thể đây là tác phẩm của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), nhưng không có gì làm bằng chứng nên để khuyết danh. Còn sách Thiên Nam ngữ lục (diễn ca lịch sử), tác phẩm Nôm cổ TK XVIII (do Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh (phiên âm, chú thích và giới thiệu), Nxb.VH. H. 1958, phần viết về Lý Công Uẩn (từ câu 4346-4826) đã nói Vạn Hạnh là cha đẻ của Lý Công Uẩn. Vì đoạn thơ rất dài nên chúng tôi không trích ở đây. Nhưng trong tâm thức dân gian cũng thực khó hiểu và không tránh khỏi mâu thuẫn. Phần vì muốn hiện thực hóa, đời thường hóa nhân vật lịch sử bằng cách đặt ra, kể lại các tình tiết một cách sinh động. Nhưng bên cạnh đó lại có thêm khuynh hướng phủ nhận, do đó phải thần thánh hóa nhân vật lịch sử, khiến cho họ phải trở thành con người siêu phàm, có khả năng biến hóa. Tất cả nó đều muốn nhằm mục đích khao khát lý giải những góc khuất của lịch sử và đồng thời huyền thoại hóa lịch sử. Đó là đặc trưng chung của văn học dân gian. Chúng tôi khảo sát khu vực vùng Kinh Bắc được nhân dân truyền tụng rằng: Sau khi Lý Công Uẩn ra đời, thiên hạ cho rằng Vạn Hạnh là cha đẻ. Vạn Hạnh bày tỏ nỗi oan bằng cách chỉ vào con hổ đất ở gần bàn thờ mà thề: Thân này, tâm này đã tu hành không vọng tưởng gì nữa, Nhược bằng không thanh tịnh, mắc tội tà dâm thì xin trời Phật trừng phạt và con hổ đất kia là hổ đất. Còn vẫn còn giữ pháp giới siêu thoát, thì con hổ đất sẽ biến thành con hổ thật. Lời cầu được chứng nghiệm, con hổ đất bỗng dùng mình, biến thành con hổ thật để Vạn Hạnh cưỡi. Bức tượng cao khoảng 50cm, tạc chân dung Vạn Hạnh: ngồi uy nghiêm trên thân hổ, một bàn tay ôm lấy đầu hổ, một bàn tay đặt lên đầu gối, mặt ngẩng cao, đôi mặt nhìn dõi xa xăm (Phong thổ Hà Bắc thời Lê có nói đến chi tiết này). Cách giải thích này, gợi cho chúng ta nghĩ đến câu chuyện về Thiền sư Lý Đạo Tái (thời Trần) với nàng Điểm Bích. Mô típ câu chuyện là muốn ca ngợi đạo đức, nhân cách sáng ngời của thiền sư, ca ngợi tài năng siêu phàm và đồng thời minh oan cho Vạn Hạnh.

(26) Việt sử lược ghi:

- Năm Tân Sửu, hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 3 (1061), vua đi cầu tự ở Ba Sơn, rồng vàng hiện ra ở trong đàn lễ (Chú thích: Ba Sơn tức là Tiêu Sơn, nay thuộc Từ Sơn) (sđd, tr.93).

- Năm Quý Mão, hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 5 (1063)... Vua sai xây chùa ở Ba Sơn (Tiêu Sơn) để làm nơi cầu tự, có người bắt được ngọc châu đem dâng vua (sđd, tr.93).

(27) Thơ văn Lý - Trần, TI, Nxb. KHXH. H. 1977, tr.219-226.

(28) Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, TI, Nxb. Văn hóa, H. 1992, tr.152.

(29) Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, H. 1993, tr.191.

(30) Thiền uyển tập anh, Nxb. Văn học, H. 1993, tr.192.

(31) Thiền uyển tập anh, Nxb. KHXH, H. 1993, tr.191,192.193.

(32) Đại Việt sử ký toàn thư, TI, Nxb. KHXH, H. 1998, tr.247.

(33) Ngô Thì Sĩ: Đại việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.205.

(34) Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997.

(35) Hoàng Việt thi văn tuyển (thời Lý - Trần - Hồ), Nhóm Lê Quý Đôn (trích dịch, chú thích), Tập I, Nxb. Văn hóa. H. 1957.

(36) Tổng tập văn học Việt Nam, GS. Đinh Gia Khánh (Tổng chủ biên), Tập I, GS Văn Tân (cb), Nxb. KHXH, H. 1997, tr.393-394.

(37) Nguyễn Q Thắng - Nguyễn Bá Thế (cb), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr.1495-1496.

(38) Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh 2008, tr.58.

(39) Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, mục Thiền dật, Nxb. Sử học. H. 1962. tr.447.

(40) Bùi Huy Bích: Hoàng Việt thi văn tuyển, sđd, tr.31.

(41) Tổng tập văn học Việt Nam, GS. Đinh Gia Khánh (Tổng chủ biên), TI, GS. Văn Tân (cb), Nxb. KHXH, H. 1997, tr.393-394./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr.341-363)

Nguyễn Quang Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm