27. Về khúc ngâm Một trăm chữ “Nhịn”
VỀ KHÚC NGÂM MỘT TRĂM CHỮ “NHỊN”
LÃ MINH HẰNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong xã hội ngày nay, chữ nhẫn “nhịn” được khá nhiều người thích. Người chuộng chữ nhẫn giải thích rằng chữ nhẫn đã giúp cho họ có thể tỉnh táo hơn trong công việc; rằng họ có thể tìm thấy lời răn cho mình trong ứng xử hàng ngày. Có người lại bảo chữ nhẫn là để dùng cho người mới bước vào đời, giúp cho họ có công ăn việc làm tử tế... Đây cũng là nét chung của Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản - những dân tộc chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của đạo Nho và văn hoá Trung Hoa. Bài viết của chúng tôi xin đề cập đến chữ nhẫn, đồng thời giới thiệu cho bạn đọc khúc ca về một trăm chữ nhẫn trong kho thư tịch Hán Nôm.
1. Chữ nhẫn trong đời sống nhân bản
1.1. Khái niệm chữ nhẫn
Trong Từ nguyên chữ nhẫn được giải thích là “nhẫn, nại dã” (nhẫn có nghĩa là chịu, là nhịn). Theo triết tự, chữ nhẫn được hiểu là: chữ nhẫn gồm có chữ đao ở trên chữ tâm ở dưới và cho rằng: “con người khi nhẫn nại thì trái tim phải chịu đau đớn”, rằng: “lấy dao đè lên trái tim (để tựdằn lòng mình, tự kiềm chế trong lời nói và việc làm của mình)”
1.2. Chữ nhẫn trong đời sống văn hóa Trung Hoa
Khổng Tử là người bàn nhiều về chữ nhẫn. Tử Trương khi đến từ tạ Ðức Khổng Phu Tử và xin một lời khuyên để làm phép sửa mình, Khổng Tử nói: "百行之本,忍之为上 Bá hạnh chi bản, nhẫn chi vi thượng". (Gốc của trăm nết hạnh chỉ có chữ nhẫn là cao thượng hơn hết).
Tử Trương hỏi thầy Khổng Tử “tại sao phải nhịn” thì thầy Khổng Tử đã trả lời nêu rõ tác dụng của chữ nhẫn, rằng:
"天子忍之国无害,诸侯忍之成其大,官吏忍之进其位,兄弟忍之家富贵,夫妻忍之终其世,朋友忍之终其好,自身忍之无祸患。"Thiên tử nhẫn chi quốc vô hại. Chư hầu nhẫn chi thành kỳ đại. Quan lại nhẫn chi tiến kỳ vị. Huynh đệ nhẫn chi gia phú quý. Phu thê nhẫn chi chung kỳ thế. Bằng hữu nhẫn chi chung kỳ hiếu. Tự thân nhẫn chi vô họa hoạn". (Làm vua mà biết nhịn thì trong nước không có điều tai họa. Bậc chưhầu mà biết nhịn thì làm nên nghiệp lớn. Làm quan mà biết nhịn thì phẩm chức sẽ thăng tiến. Anh em biết nhịn nhau thì nhà cửa đặng giàu sang. Chồng vợ biết nhịn thì mới thương yêu nhau được trọn đời. Bè bạn biết nhịn thì mới thân thiết với nhau mãi mãi. Bản thân mà biết nhịn thì chẳng lo tai họa”.
Khổng Tử cũng đã nói rõ điều nguy hại nếu không giữ được chữ nhẫn, rằng: "天子不忍国空虚,诸侯不忍丧其位,官吏不
忍刑法诛,兄弟不忍各分居,夫妻不忍子孙稀,朋友不忍情义疏,自身不忍祸不除. "Thiên tử bất nhẫn quốc khống hư. Chư hầu bất nhẫn táng kỳ vị. Quan lại bất nhẫn hình phạt tru. Huynh đệ bất nhẫn các phân cư. Phu phụ bất nhẫn tử tôn hi. Bằng hữu bất nhẫn tình nghĩa sơ. Tự thân bất nhẫn họa bất trừ". Tạm dịch: “Làm vua mà chẳng nhịn thì nước bị trống không. Là chư hầu chẳng nhịn thì hư bại thân mình. Làm quan không nhịn thì phải chịu hình phạt. Anh em chẳng biết nhịn nhau, thì mất tình anh em (các phân cư: mỗi người đi một hướng, không còn tình nghĩa anh em nữa). Chồng vợ chẳng nhịn thì con cháu ít. Bạn bè chẳng biết nhịn thì tình nghĩa sẽ phai nhạt. Bản thân mà chẳng biết nhịn thì tai họa chẳng dứt”.
1.3. Chữ nhẫn trong tâm hồn người Việt
Người Việt Nam thường nói: “Một điều nhịn là chín điều lành”. Đấy là câu nói để tự răn mình và cũng để khuyên nhủ người thân, bạn bè con cháu mình mỗi khi có những điều làm cho mình bực tức, khó chịu. Cuộc sống sẽ đỡ căng thẳng hơn nếu ta biết giữ được chữ nhẫn. Phát huy tinh thần nhân bản của Nho giáo truyền thống, người Việt Nam quan niệm:
Cha con biết nhẫn nhịn, vẹn toàn đạo lý.
Vợ chồng biết nhẫn nhịn, con cái khỏi bơ vơ.
Anh em biết nhẫn nhịn, trong nhà thường êm ấm.
Bạn bè biết nhẫn nhịn, tình nghĩa chẳng phai mờ.
Tự mình biết nhẫn nhịn, được mọi người yêu mến.
Tác giả bài Chữ nhẫn, Chúa nhật 24 thường niên C đã nêu rõ vai trò tích cực của chữ nhẫn, đó là củng cố và giúp nhân đức phát triển:
Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để tìm đường tiến thân
Có khi nhẫn để vị tha
Có khi nhẫn để ta vơi bớt thù
Có khi nhẫn để tăng uy
Có khi nhẫn để kiên trì bền tâm
Có khi nhẫn để an toàn
Có khi nhẫn để rõ ràng đúng sai
Ai chưa biết nhẫn nhịn, chưa phải là người hay.
Ta hãy dùng chữ nhẫn mà an ủi nhau, cầu nguyện cho nhau [2]
Một đức tính đáng quý của người phụ nữ Việt Nam mà ít có phụ nữ của một nước nào khác có thể có được, đó là đức tính nhẫn nhịn. Để cho gia đình được yên ấm, người phụ nữ luôn phải chịu phần thiệt thòi hơn nam giới, phải nhẫn nhịn nhiều hơn. Cho dù chồng con có chơi bời hư hỏng, cờ bạc thua thiệt thì cũng phải lo mà trả nợ cho chồng, phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” tuyệt đối không được điều tiếng lôi thôi để ảnh hưởng đến hoà khí trong gia đình:
"Chữ nhẫn là chữ tương vàng
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa thì đời nào khê.
Nói đây cho chị em nhà
Còn dăm bát gạo, còn vài lạng bông
Bán đi trả nợ cho chồng
Còn ăn, hết nhịn, bằng lòng chồng con
Đắng cay ngậm quả bồ hòn".
Dẫn theo [7]
Chế độ phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ, đạo tam tòng tứ đức đã chói chặt người phụ nữ, họ luôn phải chịu phần thiệt thòi hơn so với mọi người trong gia đình. Chúng tôi đã điều tra các sách gia huấn ghi bằng chữ Nôm thì thấy rằng các điều khuyên về tứ đức cho phụ nữ đặc biệt là đối với vị “nội tướng”(1) là cực kỳ khắt khe. Người phụ nữ chỉ còn cách duy nhất là phục tùng và phục tùng. Đạo tam tòng trói buộc người phụ nữ phải theo chồng suốt đời, chớ bề ghen tuông cho dù chồng có năm thê bảy thiếp:
“Canh cánh giữ đạo tam tòng,
Phận gái theo chồng chớ có ghen tuông” [11].
Quan niệm của Nho gia cho phép đàn ông được lắm vợ, nhiều con. Các sách gia huấn Nôm đã khuyên chị em phải biết nhẫn nhịn, phải lấy lòng bao dung độ lượng để cư xử với các vợ bé của chồng, rằng:
“Khi chồng lấy bảy lấy ba,
Có dung kẻ dưới mới là người trên” [12].
Người phụ nữ có đức hạnh là người biết nhẫn nhịn, khéo giữ tình thân ái như chị em trong một nhà với các bà vợ khác của chồng, giữ sao cho gia đình được hòa thuận, êm ái:
“Chồng ta lắm vợ nhiều con
Thê thê thiếp thiếp tử tôn đề huề
Ở sao cho vẹn mọi bề
Chị phải đạo chị em thì đạo em
Ấy là chị em trong nhà
Thuận hòa êm ái chồng con được nhờ” [11]
Có thể nói, chữ nhẫn được mọi lứa tuổi ưa thích: từ các nhà doanh nghiệp thành đạt cho đến các nhà nghiên cứu suốt ngày chỉ biết đến giấy tờ chữ nghĩa; từ các cụ già cho đến các em nhỏ còn đang ngồi ghế nhà trường; từ các nhà tu hành mộ đạo cho đến những nam thanh nữ tú phơi phới tuổi xuân...Tinh thần kiên nhẫn chịu đựng gian khổ đã giúp cho mọi người đạt nhiều thành công hơn trong cuộc sống. Các nhà kinh doanh thì luôn coi chữ nhẫn là triết lý sống. Đối với họ thì "Trái tim tôi luôn nóng và cái đầu tôi luôn lạnh để xử lý vấn đề. Có những lần thất bại tôi không bao giờ quên. Nhiều thất bại nhỏ cộng lại thành thất bại to. Thất bại là do mình nóng giận, quyết đoán một cách bảo thủ, tin chắc những hành động của mình sẽ thành công, không cần hỏi anh em bạn bè, người thân...” [8]. Đó cũng là lời khuyên thật bổ ích cho tất cả chúng ta trong cuộc sống.
2. Về khúc ca một trăm chữ nhẫn
Bách nhẫn ngâm “Khúc ca một trăm chữ nhẫn” được in bằng chữ Nôm. Sách mang ký hiệu AB.198 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách được in lần đầu tiên vào năm Ất Mùi, niên hiệu Thành Thái (1895). Sách được lưu giữ tại nhà in Thịnh Mỹ đường ở Hà Nội. Sách gồm 3 tờ tổng cộng 6 trang, mỗi trang có 9 dòng, khổ sách 12,5 x 19 cm. Chữ khắc in khá rõ ràng, sắc nét. Có thể nói đây là văn bản chữ Nôm đầy đủ nhất nói về chữ nhẫn trong kho thư tịch Hán Nôm hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Khúc ca được ghi bằng thể lục bát. Đầu đề sách ghi là một trăm chữ nhẫn, nhưng đây chỉ là con số ước chừng chỉ số nhiều, không đủ đến một trăm chữ nhẫn. Toàn khúc ca chỉ có 88 câu, và được chia theo các đề mục: Nhẫn nói chung, nhẫn mục, nhẫn khẩu, nhẫn nhĩ, nhẫn tửu, nhẫn sách, nhẫn đổ, nhẫn kiến, nhẫn ương, nhẫn qua tức, nhẫn phu phụ, nhẫn bằng hữu, nhẫn danh, nhẫn lợi, nhẫn tranh và nhẫn tụng. Có thể nói những điều nhẫn ghi ra ở đây đã được cụ thể hóa và phát triển hơn rất nhiều so với quan niệm nhẫn của Nho giáo truyền thống. Nó là kết quả của sự kế thừa, phát triển và cụ thể hoá tư tưởng của quan niệm nhẫn, của đạo tam cương ngũ thường, đạo tam tòng tứ đức của Nho giáo truyền thống:
- Nhẫn mục: khuyên mọi người chớ nên trông càn. Đó cũng rất có thể là một cái liếc, cái trông một cách lẳng lơ không chính chuyên trong quan hệ nam nữ.
- Nhẫn khẩu: khuyên mọi người không nên nói nhiều. Người Việt Nam thường hay nói “hết khôn dồn đến dại” cũng là nhằm khuyên mọi người không nên nói nhiều. Trong nhiều trường hợp chúng ta cần phải “nhịn tiếng”. Điều tra các sách nữ huấn(2) ghi bằng chữ Nôm thì thấy các nhà nho của ta không thích phụ nữ đa ngôn một chút nào. Với họ thì người phụ nữ không được bàn chuyện triều đình, chuyện nghe đâu biết đấy, không đưa chuyện lôi thôi, rằng: “Hễ điều gì nói ít thì hay” rằng “Lân la trò chuyện hết ngày, đã hư công việc lại rày tiếng tăm”.
- Nhẫn nhĩ: khuyên mọi người không nên nghe điều chua ngoa, mặc cho miệng lưỡi thế gian. Vì nghe những điều xấu sẽ gây ra phản ứng mà để vào trong tai mình thì lại không hay chút nào. Nghĩa là không nên nghe những điều trái tai, điều chua ngoa.
- Nhẫn tửu: khuyên mọi người không nên rượu chè bê tha.
- Nhẫn sách: khuyên mọi người không nên hút sách làm ảnh hưởng đến sức khoẻ mà có khi lại gây bệnh xã hội.
- Nhẫn đổ: khuyên mọi người chớ nên tham tiền mà chơi cờ bạc, đừng mong ăn tiền của người khác mà sa đà vào cuộc đỏ đen. Cờ bạc dễ làm hư người. Dẫn đến khuynh gia bại sản cũng chỉ vì ham cờ bạc.
- Nhẫn kiến: khuyên mọi người không nên chơi bời sa đoạ nơi lầu xanh lầu hồng mà mang bệnh vào thân.
- Nhẫn ương: nhẫn nhịn không nên ương ngạnh. Cha con là trong mối cương thường, nếu nhẫn được thì mới giữ trọn đạo hiếu, mới giữ tròn được đạo lý.
- Nhẫn qua tức: khuyên anh em nên thương yêu nhau. Anh em như thể tay chân, giữ được điều nhẫn mới là phải đạo, mới mang phúc lành.
- Nhẫn phu phụ: khuyên mọi người giữ lấy chữ nhẫn trong đạo vợ chồng, như vậy thì cửa nhà mới được vui vẻ lâu bền.
- Nhẫn bằng hữu: bạn bè nên giữ lấy chữ đồng, đừng đem bụng giận nhau.
- Nhẫn danh: khuyên mọi người không nên chạy theo hư danh mà nhọc thân, cứ sống thực không sợ chê là hèn vì không có danh.
- Nhẫn lợi: khuyên chớ tham lợi, vì tham lợi sẽ dẫn đến bụng dạ đen tối. Truy đuổi theo điều lợi làm cho tâm mình xấu, gây ra nhiều điều oan trái. Nên xem tiền của như đám mây trôi.
- Nhẫn tranh: khuyên mọi người không nên đua tranh, nếu nhẫn nhịn được thì tốt hơn, chẳng sợ mọi người chê cười vì sự nhường nhịn.
- Nhẫn tụng: khuyên mọi người tránh xa sự kiện tụng. Ham hố sự kiện tụng làm hại đến người khác thì ắt cũng sẽ có người hại đến mình.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu toàn văn khúc ca về một trăm chữ nhẫn.
Bách nhẫn ngâm
Người ta ai cũng tính lành
Sao cho dẹp được lửa tình mới xong
Lòng này thanh tĩnh hư không
Thì điều gì cũng hợp trong lẽ trời
Cớ sao ruột rối bời bời
Nghĩ mình mình lại nực cười lắm phen
Cũng vì chẳng nhẫn cho nên
Nhẫn thì hòa thuận vui yên một niềm
Nhẫn lòng ta nhẫn chớ giận hiềm
Đừng lo nghĩ lắm, không thèm muốn chi
Muốn chi nào có được gì
Lo thêm nát ruột, giận thì tức gan
Mục Mắt ta nhẫn chớ trông càn
Trăng hoa bao nả trái oan trọn đời
Họa dâm phúc thiện những lời
Nghĩ bao nhiêu lại sợ trời bấy nhiêu
Khẩu Miệng ta nhẫn chớ nói nhiều
Sợ điều khôn hết dồnđiều dại ra
Chuyện hay mình giấu từ nhà
Kể chi chuyện dở người ta mà tức(3)
Nhĩ Tai ta nhẫn chớ nghe chua(4)
Khen chê đã biết phải chăng thế nào
Mặc ai miệng lưỡi gươm dao
Nói ra thêm ác để vào không hay
Tửu Thuốc cuồng ra chén rượu này
Tiệc mời nên nhẫn kẻo rày đến thân
Nể nhau chuốc một hai lần
Nhiều khi vui vẻ ít phần tranh be
Sách Hay chi nghiện hútchơi bời
Cuộc vui nên nhẫn kẻo người như ma
Chớ rằng thanh sạch hào hoa
Phong lưu bệnh ấy người ta khôn chờ
Đổ Khó hèn vì bạc vì cờ
Lòng tham nên nhẫn kẻo hư mất đời
Chẳng qua được một thua mười
Người ăn đừng chắc ăn người mà mong
Kiến Kia lầu xanh, nọ lầu hồng
Thói riêng nên nhẫn kẻo lòng còn quang
Làng chơi chơi đã đủ nghề
Của dần dần hết bệnh gì gì mang
Ương Cha con trong mối cương thường
Giận hờn nên nỗi phũ phàng ra chi
Nhẫn đi là hiếu là từ
Lẽ kia đã thuận việc gì cũng hay
Qua tức Anh em như thể chân tay
Gẫy rồi lại chắp liền ngay được nào
Nhẫn đi là kính là yêu
Bao nhiêu đạo phải bấy nhiêu phúc lành
Phu phụ Vợ chồng là một chữ tình
Phân chia từ nỗi tranh giành mà ra
Nhẫn đi là thuận là hòa
Trăm năm tuổi tác một nhà vui an
Bằng hữu Bạn bè gặp gỡ từ phen
Nỡ mang bụng giận mà quên chữ đồng
Nhẫn đi là thủy là chung
Mặt ngoài như một, lòng trong vẹn mười
Danh Tham danh chuộng tiếng những người
Ho henmất cả vì lời khen kia
Thôi thôi vụ thực một bề
Nhẫn thì không ngại tiếng chê điều hèn
Lợi Bạc càng trắng, ruột càng đen
Càng tham muốn lắm, càng oan trái nhiều
Phù vân là của thế nào
Nhẫn thì chẳngchút vơi liều lấy không
Tranh Ở đời chịu dại là xong
Làm chi khách khí mà cùng đua tranh
Ghê thay sinh sự sự sinh
Nhẫn thì sá quản kẻ khinh người cười
Tụng Hay gì tranh của tranh hơi
Mà ta kiện tụng cho người oan gia
Hại nhân nhân hại đó mà
Nhẫn thì phải chịu giải hòa cầu thân
Sự đời nghĩ hết xa gần
Nhẫn mà nhẫn đến trăm phần càng hay
Chuyện Trương Công cũng thế này
Bức thư còn để đến rày coi chung
Phận là con hiếu tôi trung
Những điều quan hệ phải mong báo đền
Sá gì mọi việc nhỏ nhen
Tấm lòng khoan thứ sao nên hẹp hòi
Bụng ta như nắm lửa bồi
Ngăn đi thì chớ động rồi lại lên
Đã đem nước nhẫn rửa liền
Gió xuân mát mẻ than phiền khói ngay
Khí hòa xum họp từ đây
Phúc trời đem đến điều hay rành rành
Một câu nhẫn chín câu lành
Huống chi trăm nhẫn thái bình biết bao
Hết khúc ca
"Một điều nhịn chín điều lành" huống hồ ở đây lại là một trăm điều nên nhịn. Nếu làm được như vậy thì quả là tốt biết chừng nào. Không ai có thể phủ nhận được những mặt hữu ích của chữ nhẫn trong đời sống con người. Trời cho mỗi người mỗi tính, tôi là người sinh ra rất trực tính, khó quay mặt làm ngơ trước những việc không đúng và phi lý. Phải thừa nhận rằng một người biết nhẫn nhịn sẽ dễ dàng thành công hơn về mọi mặt: công danh, sự nghiệp, giao thiệp, quan hệ... Nhưng nói như thế không có nghĩa là một người phải nhẫn nhịn đến mức độ hèn hạ, nhu nhược. Mỗi hoàn cảnh nhẫn nhịn đều phải có giới hạn của nó. Nhưng dù thế nào thì tôi cũng cần phải ghi nhớ câu nói cửa miệng của người bạn: "Hết sức kiềm chế!".
Chú thích:
Tài liệu tham khảo:
[1]. Thanh Thảo: Về chữ nhẫn, Báo Thanh niên, 30/12/2007.
[2]. Chữ nhẫn, Chúa nhật 24 thường niên C, Báo Tin vui, bạn trẻ công giáo tin vui, Chủ nhật 30/12/2007, xem trên trang điện tử:
http://tamlinhvaodoi.net/tinvui/index.php?mod=article&cat=sncn&article=38
[3]. Thư Minh: Xin chữ đầu xuân, báo Công an Tp. Hồ Chí Minh, 24/1/2006.
[4]. Thích Tâm Pháp: Tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trường Cao cấp Phật học Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh, khóa 1993 - 1997.
[5]. Văn Dũng: 'Ông đồ' 8X, Tiền phong, số ngày 10/08/2007.
[6]. Lý Lạc Long: Tản mạn cuối tuần, xem trên trang điện tử:
http://s152542055.onlinehome.us/1/showthread.php?p=12984
[7]. Charlie Nguyễn: Nghiên cứu và đối thoại, tháng 4 năm 2004, xem trên trang điện tử:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_II04/04_cn_vnwomen.htm
[8]. Võ Thuận, Sống tế nhị, Báo Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 24/12/2004.
[9] 范立本辑, 明心宝鉴, 华艺出版社.
[10]. Lã Minh Hằng: Bàn về công dung ngôn hạnh trong các sách gia huấn ghi bằng chữ Nôm, Hội nghị Quốc tế về Nho giáo, Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Viện Harvard-Yenching Hoa Kỳ, 11/2007.
[11]. Tam tự kinh thích nghĩa. Nc.407, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
[12]. Huấn nữ diễn âm ca, AC.552, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm./.