VI | EN
28.Bước đầu khảo cứu Mao thi ngâm vịnh thực lục (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

BƯỚC ĐẦU KHẢO CỨU

MAO THI NGÂM VỊNH THỰC LỤC

LÃ MINH HẰNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

KinhThilà tổng tập thi ca sớm nhất của Trung Quốc cổ đại. Tác phẩm gồm trên 300 bài thơ. Đến đời Hán, Kinh Thi mới được sưu tầm và phục nguyên lại. Trong số các học giả có công sưu tầm và phục nguyên Kinh Thi phải kể đến “tứ gia”, đó là: Viên Cố Sinh (người nước Tề), Thân Bồi (người nước Lỗ), Hàn Anh (người nước Yên) và hai thầy trò họ Mao là Mao Hanh (người nước Lỗ) và Mao Trường (người nước Triệu). Bộ Kinh Thi được lưu truyền đến ngày nay còn có tên gọi khác là Mao thi (bộ này do hai thầy trò họ Mao sưu tầm).

Hiện nay, trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ khá nhiều văn bản diễn âm, chú thích và dịch toàn bộ nội dung bộ Kinh Thi ra chữ Nôm như: Thi kinh diễn âm, Thi kinh diễn nghĩa, Thi kinh giải âm, Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca… Ở bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một thể loại khác về Kinh thi. Đó là Mao thi ngâm vịnh thực lục.

1. Khảo cứu về văn bản

Mao thi ngâm vịnh thực lục (gọi tắt là Mao thi) mang ký hiệu AB.314 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Kí hiệu AB.314 gồm tổng cộng 31 tờ, đóng chung 2 khúc ngâm: Mao thi ngâm vịnh thực lục gồm 16 tờ (từ tờ 1 đến tờ 16) và Thư kinh quốc ngữ ca gồm 15 tờ (từ tờ 1 đến tờ 15). Sách có kích thước 21,5 x 31,5 cm và được viết trên giấy lệnh hội, bên ngoài đóng bìa học sinh màu hồng, sách được bảo quản trong hộp bằng bìa cứng. Sách do Nguyễn Tiên sinh người xã Cổ Đô soạn. Sách có độ dài 694 câu thơ và được viết theo thể thơ lục bát. Khác với các văn bản chú thích và dịch toàn bộ tác phẩm Kinh Thi ra chữ Nôm (như vừa nêu trên), Mao thi là khúc ca ngâm, tóm lược nội dung chính của 309 bài thơ trong Kinh thi. Các bài nhạc sáo không có lời trong Kinh Thi (như các bài Nam cai, bài Bạch hoa và bài Hoa thử) cũng được tác giả khúc ngâm giới thiệu sơ lược. Tuy nhiên, vì lý do riêng, hai bài Sùng khâu và Thường thường giả hoa lại không được Mao thi đề cập đến. Qua văn bản này, người đọc không có điều kiện tiếp xúc với nguyên tác cũng có thể hiểu được số bài trong từng tập, cấu trúc của các phần, khái lược nội dung chính và chủ đề của từng bài thơ trong nguyên tác. Mỗi bài thơ trong Kinh Thi được tóm lược trong 1, 2 hoặc 3 thậm chí là 4 câu thơ trong khúc ngâm. Cụ thể như sau:

a. Về các bài được tóm lược trong một câu thơ

Các bài được giới thiệu tóm tắt trong một câu thơ không nhiều, chỉ có 11/309 bài trong Mao thi. Thuộc vào tiểu loại này gồm các bài được giới thiệu độc lập trong một câu thơ, ví dụ: 8 chương của bài Tứ nguyệt đã được giới thiệu tóm lược trong câu: “Hạ sang tứ nguyệt hầu nồng”.

Hai bài có nội dung hoặc có đặc điểm thể loại giống nhau (cùng thể loại nhạc sáo không lời) cùng được giới thiệu chung trong một đôi câu lục bát, như các bài Tiểu nhung và bài Tứ thiết, bài Tái sam và bài Lương tỷ, bài Bạch hoa và bài Hoa thử… Ví dụ hai bài Xa công và bài Cát nhật đã được ghi lại như sau:

“Ngôi điền sửa ngựa xếp xe

Xa công, Cát nhật giữ lề đời xưa”.

b. Về các bài được tóm lược trong hai câu thơ

Đại đa số các bài thơ trong Kinh Thi được giới thiệu gọn trong 2 câu thơ của khúc ngâm(1). Qua khảo cứu, Mao thi có 285/309 bài thơ được tóm lược trong hai câu thơ lục bát, gồm: một câu giới thiệu tên bài thơ và câu còn lại tóm lược nội dung chính, xuất xứ của bài thơ đó trong nguyên tác. Bài thơ mở đầu trong Kinh Thi đã được Mao thi ghi lại bằng hai câu thơ như sau:

“Hậu phi có đức Quan Thư

Cung nhân mừng thấy hứng thừa ngợi khen”.

Bài Quan thư gồm 3 chương, thể hiện tâm trạng, tình yêu của Văn Vương đối với nàng Thái Tự. Đoạn trích trong Mao thi đã không ghi lại nội dung chính mà chỉ nêu tên và xuất xứ(2) của bài thơ đó.

Thông qua hình ảnh chim bảo, bài thơ Bảo vũ trong tập Đường phong đã nói lên khát vọng của nhân dân về một cuộc sống hoà bình, phản đối chiến tranh phi nghĩa. Bằng biện pháp tu từ tinh xảo, tác giả khúc ngâm đã khéo léo giới thiệu cho độc giả Việt Nam hiểu được đầy đủ tên gọi và chủ đề của bài thơ:

“Thấy con bảo vũ trên cành

Thêm phiền đi việc tòng chinh lâu về”.

Đặc biệt, do khuôn khổ hạn hẹp của hai câu thơ lục bát, ở một số bài đã thấy xuất hiện hiện tượng rút gọn tên đề bài, thậm chí đã lược bỏ không ghi tên bài trong hai câu thơ của khúc ngâm. Chúng tôi đã khảo cứu 285 bài thơ được ghi lại bằng hai câu thơ ở Mao thi, thì: 29/285 bài có hiện tượng lược bớt từ ngữ dùng trong tên bài thơ, 11/285 bài không ghi tên đề bài. Câu thơ:

“Bạc tình chẳng đoái kẻ xưa

Nào lời giai lão bây giờ để đâu”

đã ghi lại nội dung của bài thơ Bách niên giai lão, tập Dung phong của Kinh Thi. Có thể thấy rõ, hai câu thơ trên của khúc ngâm đã có sự lược bớt từ ngữ dùng ở đề bài. Các bài khác như: Nhị tử thừa chu, Thuần chi bôn bôn, Ân kì lôi, Dã hữu tử quân, Hà bỉ nùng hĩ, Bào hữu khổ diệp… đều có hiện tượng lược bớt từ ngữ dùng trong tên đề bài, chỉ còn lại: nhị tử, thuần bôn, ân lôi, dã quân, hà bỉ nùng, bào diệp… khi chúng nằm trong hai câu thơ giới thiệu về bài thơ đó ở Mao thi.

Số bài thơ không ghi tên đề bài không nhiều (có 11/285 bài thơ được thống kê). Đại bộ phận trong số này là các bài mở đầu các thập, tên của bài thơ trùng với tên thập đã được giới thiệu ở câu trước đó nên đã lược bỏ không ghi tên đề bài. Số còn lại cũng có thể dễ dàng xác định được tên các bài thơ đó dựa vào nội dung tóm lược trong hai câu thơ của khúc ngâm. Ví dụ khi giới thiệu về bài Manh, tác giả khúc ngâm đã viết:

“Lìa chồng bởi gái thất thân

Chê ai rằng nết tuy dân thẩn thờ”.

c. Về các bài thơ được tóm lược trong ba, bốn câu thơ

Số bài thơ thuộc loại này không nhiều: có 10/309 bài thơ được tóm lược trong ba câu thơ, chỉ có 3/309 bài thơ được tóm lược trong bốn câu thơ ở Mao thi. Các bài Thước sào, Bách chu, Kì úc, Quynh, Thanh miếu, Thất nguyệt, Cát lũ… đều được tác giả khúc ngâm giới thiệu tóm lược trong 3 câu thơ ở Mao thi. Ví dụ bài Tri y, bài thơ mở đầu trong tập Trịnh phong được ghi gọn trong ba câu thơ sau:

“Tri y hòng ngợi hai ông Tư đồ

Hiếu hiền lâu chẳng hay no

Cơm ăn áo mặc muốn cho có thường”.

Số bài thơ được tóm lược trong 4 câu thơ không nhiều, xin giới thiệu đoạn giới thiệu về bài thơ Nam hữu gia ngư:

“Tưởng lời Nam hữu gia ngư

Đãi hiền thong thả đều thơ thái bình

Cá tươi rượu ngon khách lành

Gốc cù vui vẻ, tiếng sênh dậy dời”.

2. Giá trị văn học của khúc ngâm

Từ đặc điểm thể loại và cách dùng từ đặt chữ, chúng tôi muốn khảo luận đôi nét về giá trị văn học của Mao thi.

a. Ưu điểm nổi bật của thể thơ dân tộc là được viết thành những vần thơ có vần điệu, dễ nhớ dễ thuộc. Cũng chính vì lẽ đó, các khúc ngâm và các văn bản diễn ca lịch sử có sức truyền thụ và sức lan toả lớn. Nhiều tác phẩm đã được người dân say mê đọc đến thuộc lòng. Được làm từ thể thơ dân tộc, Mao thi cũng đã góp phần tích cực trong việc phổ biến các tri thức Hán học (giới thiệu về một bộ sách kinh điển của Trung Quốc) được rộng rãi và hiệu quả hơn. Với chưa đầy 700 câu thơ, Mao thi đã có thể giúp cho những người không có điều kiện sở hữu một bộ Kinh Thi cũng có thể hiểu được cấu trúc, nội dung chính, chủ đề của toàn bộ các bài thơ trong nguyên tác thông qua ngôn ngữ dân tộc, thể thơ dân tộc.

b. Trong sáng tác thơ ca trung đại Việt Nam, một thủ pháp nghệ thuật được áp dng khá phổ biến đó là dụng điển. Xu hướng chủ đạo thường được các nhà Nho Việt Nam sử dụng khi dùng điển đó là vay mượn các điển cố có xuất xứ từ nguồn văn liệu Trung Hoa. Tìm hiểu nguồn thư tịch viết bằng chữ Nôm thì thấy rằng: những từ ngữ, sự kiện, những câu chuyện xuất hiện trong Kinh Thi đã được các nhà Nho Việt Nam trích dẫn khá nhiều.

Khảo cứu Mao thi, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến cách dùng từ đặt chữ trong khúc ngâm này. Nhiều bài thơ dài 9, 10 chương thậm chí có bài dài đến 16 chương cũng đã được tác giả khúc ngâm tóm lược gọn trong hai câu thơ. Nhưng chỉ với 2 câu thơ cũng đã đủ toát lên đầy đủ nội dung, chủ đề chính của bài thơ. Có thể nói cách dùng từ đặt chữ, cách tóm lược nội dung như vậy đã đạt đến trình độ của phép dụng điển. Hình như ở đây đã có sự mô phỏng phương pháp dẫn kinh(3) mà các nhà Nho thời xưa thường dùng trong sáng tác thơ ca. Thử đối chiếu cách dẫn kinh trong thơ ca Trung đại và cách dùng từ đặt chữ trong Mao thi:

“Người đây kén giá hảo cầu

Thị thành mấy lứa, công hầu mấy ai”

(Sơ kính tân trang)

Từ “hảo cầu” được mượn trong bài Quan thư của Kinh Thi. Từ này có ý nghĩa biểu trưng về sự vừa đôi phải lứa và đã được tác giả Sơ kính tân trang sử dụng trong tác phẩm của mình. Xét về hình thức, câu thơ trên rất giống với các câu tóm lược các bài thơ của Mao thi (có cùng độ dài và cùng biểu thị trọn vẹn một ý nghĩa). Ví dụ ở bài Cốc phong:

“Cốc phong lời vợ trách chồng

Nữ hiềm sắc kém hòa vong đức hiền”

Đặt trong khuôn khổ khúc ngâm, nghiên cứu kỹ nội dung bài thơ trong nguyên tác thì thấy hai câu thơ trên là hai câu tóm lược nội dung bài thơ Cốc phong. Tuy nhiên, với tư cách là một văn liệu, hoàn toàn có thể lồng hai câu thơ trên vào trong một sáng tác mới nếu với nội dung phù hợp(4). Mao thi thực sự là nguồn văn liệu phong phú cho các tác gia Trung đại Việt Nam, là một cuốn sách tra cứu hữu hiệu mỗi khi muốn viện dẫn đến từ ngữ, sự kiện hay câu chuyện xuất hiện trong đó. Ở Mao thi, nguồn thi liệu này được cấu trúc theo các hình thức chủ yếu sau:

b1. Dùng các từ ngữ xuất hiện trong các bài thơ: đó là những từ có liên quan đến một câu chuyện, đề cập đến một sự việc hay một vật trong nguyên tác. Tác giả khúc ngâm đã áp dụng phương pháp dụng điển để khéo léo đưa từ ngữ đó vào nội dung của hai câu thơ tóm lược bài thơ ở Mao thi. Thuộc vào tiểu loại này là các từ như: đồng quản, hùng huỷ, tích linh... Ví dụ bài Tư can, chương 7 của nguyên tác có câu “Duy hùng duy bi, nam tử chi tường. Duy hủy duy xà, nữ tử chi tường” (nghĩa: mộng thấy con gấu là điềm sinh con trai, mộng thấy con rắn là điềm sinh con gái). Bài này đã được tác giả khúc ngâm tóm lược thành:

“Tư can nhà mới vẻ vang

Chiêm bao hùng hủy rõ ràng gái trai”

Những từ ngữ loại này của Mao thi cũng đã được các tác gia Trung đại sử dụng trong các sáng tác thơ văn.

b2. Giữ nguyên tên gọi các bài thơ: loại này chiếm tỉ lệ khá nhiều

Mao thi, tên gọi các bài thơ phần lớn được giữ nguyên như nguyên tác. Thông thường, bên cạnh từ ghi tên gọi các bài thơ có bổ sung thêm thành tố phụ, tạo thành kết cấu chính phụ, theo công thức: Danh từ + tên bài thơ. Đa phần nguồn thi liệu ở Mao thi đều được cấu tạo theo công thức này. Ví dụ, ngữ “khúc chung tư” là kết cấu gồm: khúc + chung tư (tên bài thơ). Thuộc vào tiều loại này gồm các ngữ sau: kẻ tích linh, thơ quyển nhĩ, thuở đào yêu, lời giai lão, lời tướng thử, người thạc nhân, lời cát luỹ, khúc vô y, lời cửu vực, thơ đường lệ, khúc do nghi, tiếng hạc minh, lời miện thủy, khúc tân diên, tiếng thanh nhăng, thơ ký túy, khúc phù ê, chữ đức thuần, chữ duy trinh, câu đào cố, câu chưng thường, đấng can thành, người vu dịch…

b3. Thay đổi các yếu tố trong tên gọi của bài thơ. Sự thay đổi này có thể theo công thức: tên bài thơ + 1 từ được sử dụng trong bài thơ. Ví dụ: ngữ “cát đàm áo mát”, gồm: cát đàm (tên bài thơ) + áo mát (áo dùng cây sắn dệt, là loại vải thô và mặc rất mát).

Việc thay đổi yếu tố trong tên gọi bài thơ cũng có thể là việc thêm hoặc bớt từ ngữ dùng trong tên gọi các bài thơ: “Nhị tử thừa chu” lược thành “nhị tử”, “Thuần chi bôn bôn” lược thành “thuần bôn” ở Mao thi (xem phần 1b).

3. Giới thiệu văn bản

Do khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, chúng tôi xin chỉ giới thiệu một đoạn trong Mao thi: Đoạn trích phần Tiểu nhã (từ đầu phần Tiểu nhã đến hết tập Kì phụ chi thập):

Còn từ Tiểu nhã(5) cho thông

370. Mười thiên một thập dòng dòng đã phân

Lộc minh(6) yến kẻ gia tân

Thổi cung cầm sắt thay vần thi ca

Tả người Tứ mẫu(7) giong sa

Việc vua muôn dặm, việc nhà bội phân

375. Hoàng hoa(8) vua khiến sứ thần

Bề trên sáng đức, dưới dân thông tình

Nội bình tưởng kẻ tích linh(9)

Có thơ đường lệ(10) yến anh em nhà

Mượn lời phạt mộc(11) làm ca

380. Đãi người bằng hữu gần xa ướm lòng

Yến trinh cũng đội ơn chung

Một thơ thiên bảo(12) tôi cùng chúc quân

Thái vi(13) khiển thú nhọc nhằn

Vì ngự nan cấp phải cần việc khơi 8b,1

385. Gian nan vương sự tơi bời

Uý an hoàn tốt có lời xuất xa(14)

Thấy cây đệ đỗ(15) rườm rà

Thương người hoàn dịch thất gia trông chờ

Nhịp đưa nhẫn xuống năm thơ

390. Nam cai(16) chẳng có thơ đều có sênh

Bạch hoa, hoa thử(17) rành rành

Đôi thơ cũng một tiếng sênh khác gì

Rượu ngon, vật mượn phải thì

Vui thay tiệc yến ly ngư(18) sẵn sàng

395. Yến thôi sênh chỉ nhịp nhàng

Do canh(19) mới lại tỏ tường ý thưa

Tưởng lời Nam hữu gia ngư(20)

Đãi hiền thong thả đều thơ thái bình

Cá tươi rượu ngon khách lành

400. Gốc cù vui vẻ, tiếng sênh dậy dời(21)

Người hiền vững nước sáng đời

Tôn hiền là yến hữu đài(22) tứ thi

Yến thôi ngợi khúc do nghi(23)

Nhịp sênh khoan nhặt, báo thời dật vui 8b,8

405. Chư hầu gang tấc uy trời

Lục tiêu(24) trạm lộ(25) cũng lời yến ca

Lộc minh thôi lại Bạch hoa(26)

Đã rồi đôi thập nay là Đồng cung(27)

Của yêu cho kẻ có công

410. Nhạc chen tiếng trống, tiếng chuông vang lừng 9a,1

Chữ rằng: tích ngã bách bằng

Lòng vui quân tử tiệc mừng Tinh nga(28)

Giặc xâm khiến tướng khu ra

Tấu công Lục nguyệt(29) âu ca tiếng lành

415. Đem quân Thái khỉ(30) xuất chinh

Tráng du là tướng lôi đình là uy

Ngôi điền sửa ngựa xếp xe

Xa công(31) Cát nhật(32) giữ lề đời xưa

Dân phiêu Hồng nhạn(33) ngẩn ngơ

420. Ơn vua hoàn tập lại đưa dân về

Mờ mờ đêm hãy còn khuya

Đuốc dong Đình liệu(34) nhẫn khi đông triều

Nghèo nàn ai biết lo đâu

Có lời miện thuỷ(35) dặn nhau giữ mình

425. Thi nhân mượn tiếng hạc minh(36)

Lời sâu ý nhiệm đạo lành vi khuyên

Bước sang kỳ phụ(37) mười thiên

Lạ thay Tư mã gọi tên chẳng từ

Chẳng thương quân sĩ nhà vua

430. Nỡ hoài nanh vuốt mà khua dãi dầu

Người hiền thẳng ruổi Bạch câu(38)

Câu rằng trả lại công hầu tiếc chi

Than rằng: dân phải lưu ly

Than rằng: hoàng điểu(39) chớ hề ngốc ta

435. Nương ai chẳng đã nương nhà 9b,1

Xem lời hành dã(40) xót xa đoạn trường

Tư can(41) nhà mới vẻ vang

Chiêm bao hùng hủy rõ ràng gái trai

Vô dương(42) mục súc màng vui

440. Ba trăm có lũ, chín mươi có đàn

Cầm cân chẳng chính để loàn

Mấy lời tiết bỉ Nam san(43) cho tường

Lạ thay chính nguyệt(44) kì sương

Đại phu cảm nỗi phi thường siết bao

445. Vừa khi thập nguyệt chi giao(45)

Mặt trời mồng một cớ sao sương mờ

Vũ vô chính(46) bẩy chương thơ

Tôi gần trách kẻ thờ ơ sự đời

Mười thiên kỳ phụ đã thôi…

Chú thích:

(1) Câu thơ được hiểu là một dòng thơ (có thể là một câu sáu hoặc một câu tám).

(2) Kinh Thi, Khổng Tử, Tạ Quang Phát (dịch) Nxb. Văn học, H. 2004 ghi: "Khi Thái Tự kết hôn cùng vua Văn Vương nhà Chu, người trong cung cảm đức hạnh của Thái Tự mà làm ra bài thơ này".

(3) Nguyễn Ngọc San đã phân chia điển cố thành hai loại: loại dụng điển (rút ra từ sự vật, cốt lõi câu chuyện; nhân vật, tính cách nhân vật hoặc địa danh) và loại dẫn kinh (rút ra từ những từ ngữ trong các sách kinh điển). Phép dẫn kinh có thể là cắt lấy một vài chữ đầu hay chữ cuối của câu văn trong sách cổ. Xem Nguyễn Ngọc San: Tìm hiểu giá trị và cấu trúc của điển cố trong tác phẩm Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2/1992, tr.32.

(4) Bài thơ Cốc phong là lời trách người chồng phụ bạc, than với chồng rằng thiếp đây tuy nhan sắc giảm sút nhưng vẫn giữ được phẩm cách, đức hạnh.

(5) Tiểu nhã: tập Tiểu nhã.

(6) Lộc minh: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(7) Tứ mẫu: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(8) Hoàng hoàng giả hoa: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(9) Tích linh: loài chim nước, khi bay thì kêu, khi đi thì nhắm mắt.

(10) Thường lệ: văn bản viết thành đường lệ, tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(11) Phạt mộc: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(12) Thiên bảo: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(13) Thái vi: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(14) Xuất sa: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(15) Đệ đỗ: tên bài thơ trong tập Lộc minh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(16) Nam cai: phụ bài trong tập Lộc ninh chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi. Đây là bài thơ nhạc sáo, có thanh âm nhưng không có lời thơ.

(17) Bạch hoaHoa thử: hai bài thơ nhạc sáo không có lời trong tập Bạch hoa thi thập

(18) Bản Nôm viết đảo, Ngư ly: tên bài thơ trong Bạch hoa chi thập.

(19) Do canh: phụ bài trong tập Bạch hoa chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(20) Nam hữu gia ngư: tên bài trong tập Bạch hoa chi tập, Tiểu nhã, Kinh Thi.

(21) Bản gốc chữ Hán còn có bài Sùng khâu, bài thơ nhạc sáo không lời ở sau bài này.

(22) Bài thơ Nam sơn hữu đài, bài thơ trong tập Bạch hoa chi thập.

(23) Do nghi: tên bài thơ trong tập Bạch hoa chi thập.

(24) Tên bài trong tập Bạch hoa chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(25) Tên bài trong tập Bạch hoa chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(26) Hết tập Lộc minh chi thập lại đến tập Bạch hoa chi thập.

(27) Tập Đồng cung chi tập, thể Tiểu nhã, Kinh Thi.

(28) Tinh tinh giả nga: tên bài thơ trong Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(29) Lục nguyệt: tên bài thơ trong Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(30) Thái khỉ: tên bài thơ trong Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(31) Xa công: tên bài thơ trong Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(32) Cát nhật: tên bài thơ trong Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(33) Hồng nhạn: tên bài thơ trong tập Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(34) Đình liệu: tên bài thơ trong tập Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(35) Miện thủy: tên bài thơ trong tập Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(36) Hạc minh: tên bài thơ trong tập Đồng cung chi thập, Kinh Thi.

(37) Kỳ phụ: tập thơ Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(38) Bạch câu: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(39) Hoàng điểu: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(40) Ngã hành kỳ dã: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(41) Tư can: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(42) Vô dương: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(43) Tiết bỉ Nam san: câu đầu tiên trong bài Tiết Nam san, tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(44) Chính nguyệt: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(45) Thập nguyệt chi giao: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

(46) Vũ vô chính: tên bài thơ trong tập Kỳ phụ chi thập, Kinh Thi.

Tài liệu tham khảo chính

1. Tứ thư, Ngũ kinh, Nhạc Ly thư xã, Bắc Kinh.

2. Kinh Thi, Khổng Tử, Tạ Quang Phát (dịch), Nxb. Văn học, H. 2004.

3. Ngữ văn Hán Nôm, phần Ngũ kinh (tập 2), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb. KHXH, H. 2004.

4. Mao thi ngâm vịnh thực lục, AB.314 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

5. Nguyễn Ngọc San: Tìm hiểu giá trị và cấu trúc của điển cố trong tác phẩm Nôm, Tạp chí Hán Nôm, số 2 / 1992./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.340-353
Lã Minh Hằng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm