BƯỚC ĐẦU KHẢO CỨU
MAO THI NGÂM VỊNH THỰC LỤC
LÃ MINH HẰNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
KinhThilà tổng tập thi ca sớm nhất của Trung Quốc cổ đại. Tác phẩm gồm trên 300 bài thơ. Đến đời Hán, Kinh Thi mới được sưu tầm và phục nguyên lại. Trong số các học giả có công sưu tầm và phục nguyên Kinh Thi phải kể đến “tứ gia”, đó là: Viên Cố Sinh (người nước Tề), Thân Bồi (người nước Lỗ), Hàn Anh (người nước Yên) và hai thầy trò họ Mao là Mao Hanh (người nước Lỗ) và Mao Trường (người nước Triệu). Bộ Kinh Thi được lưu truyền đến ngày nay còn có tên gọi khác là Mao thi (bộ này do hai thầy trò họ Mao sưu tầm).
Hiện nay, trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ khá nhiều văn bản diễn âm, chú thích và dịch toàn bộ nội dung bộ Kinh Thi ra chữ Nôm như: Thi kinh diễn âm, Thi kinh diễn nghĩa, Thi kinh giải âm, Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca… Ở bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu một thể loại khác về Kinh thi. Đó là Mao thi ngâm vịnh thực lục.
1. Khảo cứu về văn bản
Mao thi ngâm vịnh thực lục (gọi tắt là Mao thi) mang ký hiệu AB.314 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Kí hiệu AB.314 gồm tổng cộng 31 tờ, đóng chung 2 khúc ngâm: Mao thi ngâm vịnh thực lục gồm 16 tờ (từ tờ 1 đến tờ 16) và Thư kinh quốc ngữ ca gồm 15 tờ (từ tờ 1 đến tờ 15). Sách có kích thước 21,5 x 31,5 cm và được viết trên giấy lệnh hội, bên ngoài đóng bìa học sinh màu hồng, sách được bảo quản trong hộp bằng bìa cứng. Sách do Nguyễn Tiên sinh người xã Cổ Đô soạn. Sách có độ dài 694 câu thơ và được viết theo thể thơ lục bát. Khác với các văn bản chú thích và dịch toàn bộ tác phẩm Kinh Thi ra chữ Nôm (như vừa nêu trên), Mao thi là khúc ca ngâm, tóm lược nội dung chính của 309 bài thơ trong Kinh thi. Các bài nhạc sáo không có lời trong Kinh Thi (như các bài Nam cai, bài Bạch hoa và bài Hoa thử) cũng được tác giả khúc ngâm giới thiệu sơ lược. Tuy nhiên, vì lý do riêng, hai bài Sùng khâu và Thường thường giả hoa lại không được Mao thi đề cập đến. Qua văn bản này, người đọc không có điều kiện tiếp xúc với nguyên tác cũng có thể hiểu được số bài trong từng tập, cấu trúc của các phần, khái lược nội dung chính và chủ đề của từng bài thơ trong nguyên tác. Mỗi bài thơ trong Kinh Thi được tóm lược trong 1, 2 hoặc 3 thậm chí là 4 câu thơ trong khúc ngâm. Cụ thể như sau:
a. Về các bài được tóm lược trong một câu thơ
Các bài được giới thiệu tóm tắt trong một câu thơ không nhiều, chỉ có 11/309 bài trong Mao thi. Thuộc vào tiểu loại này gồm các bài được giới thiệu độc lập trong một câu thơ, ví dụ: 8 chương của bài Tứ nguyệt đã được giới thiệu tóm lược trong câu: “Hạ sang tứ nguyệt hầu nồng”.
Hai bài có nội dung hoặc có đặc điểm thể loại giống nhau (cùng thể loại nhạc sáo không lời) cùng được giới thiệu chung trong một đôi câu lục bát, như các bài Tiểu nhung và bài Tứ thiết, bài Tái sam và bài Lương tỷ, bài Bạch hoa và bài Hoa thử… Ví dụ hai bài Xa công và bài Cát nhật đã được ghi lại như sau:
“Ngôi điền sửa ngựa xếp xe
Xa công, Cát nhật giữ lề đời xưa”.
b. Về các bài được tóm lược trong hai câu thơ
Đại đa số các bài thơ trong Kinh Thi được giới thiệu gọn trong 2 câu thơ của khúc ngâm(1). Qua khảo cứu, Mao thi có 285/309 bài thơ được tóm lược trong hai câu thơ lục bát, gồm: một câu giới thiệu tên bài thơ và câu còn lại tóm lược nội dung chính, xuất xứ của bài thơ đó trong nguyên tác. Bài thơ mở đầu trong Kinh Thi đã được Mao thi ghi lại bằng hai câu thơ như sau:
“Hậu phi có đức Quan Thư
Cung nhân mừng thấy hứng thừa ngợi khen”.
Bài Quan thư gồm 3 chương, thể hiện tâm trạng, tình yêu của Văn Vương đối với nàng Thái Tự. Đoạn trích trong Mao thi đã không ghi lại nội dung chính mà chỉ nêu tên và xuất xứ(2) của bài thơ đó.
Thông qua hình ảnh chim bảo, bài thơ Bảo vũ trong tập Đường phong đã nói lên khát vọng của nhân dân về một cuộc sống hoà bình, phản đối chiến tranh phi nghĩa. Bằng biện pháp tu từ tinh xảo, tác giả khúc ngâm đã khéo léo giới thiệu cho độc giả Việt Nam hiểu được đầy đủ tên gọi và chủ đề của bài thơ:
“Thấy con bảo vũ trên cành
Thêm phiền đi việc tòng chinh lâu về”.
Đặc biệt, do khuôn khổ hạn hẹp của hai câu thơ lục bát, ở một số bài đã thấy xuất hiện hiện tượng rút gọn tên đề bài, thậm chí đã lược bỏ không ghi tên bài trong hai câu thơ của khúc ngâm. Chúng tôi đã khảo cứu 285 bài thơ được ghi lại bằng hai câu thơ ở Mao thi, thì: 29/285 bài có hiện tượng lược bớt từ ngữ dùng trong tên bài thơ, 11/285 bài không ghi tên đề bài. Câu thơ:
“Bạc tình chẳng đoái kẻ xưa
Nào lời giai lão bây giờ để đâu”
đã ghi lại nội dung của bài thơ Bách niên giai lão, tập Dung phong của Kinh Thi. Có thể thấy rõ, hai câu thơ trên của khúc ngâm đã có sự lược bớt từ ngữ dùng ở đề bài. Các bài khác như: Nhị tử thừa chu, Thuần chi bôn bôn, Ân kì lôi, Dã hữu tử quân, Hà bỉ nùng hĩ, Bào hữu khổ diệp… đều có hiện tượng lược bớt từ ngữ dùng trong tên đề bài, chỉ còn lại: nhị tử, thuần bôn, ân lôi, dã quân, hà bỉ nùng, bào diệp… khi chúng nằm trong hai câu thơ giới thiệu về bài thơ đó ở Mao thi.
Số bài thơ không ghi tên đề bài không nhiều (có 11/285 bài thơ được thống kê). Đại bộ phận trong số này là các bài mở đầu các thập, tên của bài thơ trùng với tên thập đã được giới thiệu ở câu trước đó nên đã lược bỏ không ghi tên đề bài. Số còn lại cũng có thể dễ dàng xác định được tên các bài thơ đó dựa vào nội dung tóm lược trong hai câu thơ của khúc ngâm. Ví dụ khi giới thiệu về bài Manh, tác giả khúc ngâm đã viết:
“Lìa chồng bởi gái thất thân
Chê ai rằng nết tuy dân thẩn thờ”.
c. Về các bài thơ được tóm lược trong ba, bốn câu thơ
Số bài thơ thuộc loại này không nhiều: có 10/309 bài thơ được tóm lược trong ba câu thơ, chỉ có 3/309 bài thơ được tóm lược trong bốn câu thơ ở Mao thi. Các bài Thước sào, Bách chu, Kì úc, Quynh, Thanh miếu, Thất nguyệt, Cát lũ… đều được tác giả khúc ngâm giới thiệu tóm lược trong 3 câu thơ ở Mao thi. Ví dụ bài Tri y, bài thơ mở đầu trong tập Trịnh phong được ghi gọn trong ba câu thơ sau:
“Tri y hòng ngợi hai ông Tư đồ
Hiếu hiền lâu chẳng hay no
Cơm ăn áo mặc muốn cho có thường”.
Số bài thơ được tóm lược trong 4 câu thơ không nhiều, xin giới thiệu đoạn giới thiệu về bài thơ Nam hữu gia ngư:
“Tưởng lời Nam hữu gia ngư
Đãi hiền thong thả đều thơ thái bình
Cá tươi rượu ngon khách lành
Gốc cù vui vẻ, tiếng sênh dậy dời”.
2. Giá trị văn học của khúc ngâm
Từ đặc điểm thể loại và cách dùng từ đặt chữ, chúng tôi muốn khảo luận đôi nét về giá trị văn học của Mao thi.
a. Ưu điểm nổi bật của thể thơ dân tộc là được viết thành những vần thơ có vần điệu, dễ nhớ dễ thuộc. Cũng chính vì lẽ đó, các khúc ngâm và các văn bản diễn ca lịch sử có sức truyền thụ và sức lan toả lớn. Nhiều tác phẩm đã được người dân say mê đọc đến thuộc lòng. Được làm từ thể thơ dân tộc, Mao thi cũng đã góp phần tích cực trong việc phổ biến các tri thức Hán học (giới thiệu về một bộ sách kinh điển của Trung Quốc) được rộng rãi và hiệu quả hơn. Với chưa đầy 700 câu thơ, Mao thi đã có thể giúp cho những người không có điều kiện sở hữu một bộ Kinh Thi cũng có thể hiểu được cấu trúc, nội dung chính, chủ đề của toàn bộ các bài thơ trong nguyên tác thông qua ngôn ngữ dân tộc, thể thơ dân tộc.
b. Trong sáng tác thơ ca trung đại Việt Nam, một thủ pháp nghệ thuật được áp dụng khá phổ biến đó là dụng điển. Xu hướng chủ đạo thường được các nhà Nho Việt Nam sử dụng khi dùng điển đó là vay mượn các điển cố có xuất xứ từ nguồn văn liệu Trung Hoa. Tìm hiểu nguồn thư tịch viết bằng chữ Nôm thì thấy rằng: những từ ngữ, sự kiện, những câu chuyện xuất hiện trong Kinh Thi đã được các nhà Nho Việt Nam trích dẫn khá nhiều.
Khảo cứu Mao thi, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến cách dùng từ đặt chữ trong khúc ngâm này. Nhiều bài thơ dài 9, 10 chương thậm chí có bài dài đến 16 chương cũng đã được tác giả khúc ngâm tóm lược gọn trong hai câu thơ. Nhưng chỉ với 2 câu thơ cũng đã đủ toát lên đầy đủ nội dung, chủ đề chính của bài thơ. Có thể nói cách dùng từ đặt chữ, cách tóm lược nội dung như vậy đã đạt đến trình độ của phép dụng điển. Hình như ở đây đã có sự mô phỏng phương pháp dẫn kinh(3) mà các nhà Nho thời xưa thường dùng trong sáng tác thơ ca. Thử đối chiếu cách dẫn kinh trong thơ ca Trung đại và cách dùng từ đặt chữ trong Mao thi:
“Người đây kén giá hảo cầu
Thị thành mấy lứa, công hầu mấy ai”
(Sơ kính tân trang)
Từ “hảo cầu” được mượn trong bài Quan thư của Kinh Thi. Từ này có ý nghĩa biểu trưng về sự vừa đôi phải lứa và đã được tác giả Sơ kính tân trang sử dụng trong tác phẩm của mình. Xét về hình thức, câu thơ trên rất giống với các câu tóm lược các bài thơ của Mao thi (có cùng độ dài và cùng biểu thị trọn vẹn một ý nghĩa). Ví dụ ở bài Cốc phong:
“Cốc phong lời vợ trách chồng
Nữ hiềm sắc kém hòa vong đức hiền”
Đặt trong khuôn khổ khúc ngâm, nghiên cứu kỹ nội dung bài thơ trong nguyên tác thì thấy hai câu thơ trên là hai câu tóm lược nội dung bài thơ Cốc phong. Tuy nhiên, với tư cách là một văn liệu, hoàn toàn có thể lồng hai câu thơ trên vào trong một sáng tác mới nếu với nội dung phù hợp(4). Mao thi thực sự là nguồn văn liệu phong phú cho các tác gia Trung đại Việt Nam, là một cuốn sách tra cứu hữu hiệu mỗi khi muốn viện dẫn đến từ ngữ, sự kiện hay câu chuyện xuất hiện trong đó. Ở Mao thi, nguồn thi liệu này được cấu trúc theo các hình thức chủ yếu sau:
b1. Dùng các từ ngữ xuất hiện trong các bài thơ: đó là những từ có liên quan đến một câu chuyện, đề cập đến một sự việc hay một vật trong nguyên tác. Tác giả khúc ngâm đã áp dụng phương pháp dụng điển để khéo léo đưa từ ngữ đó vào nội dung của hai câu thơ tóm lược bài thơ ở Mao thi. Thuộc vào tiểu loại này là các từ như: đồng quản, hùng huỷ, tích linh... Ví dụ bài Tư can, chương 7 của nguyên tác có câu “Duy hùng duy bi, nam tử chi tường. Duy hủy duy xà, nữ tử chi tường” (nghĩa: mộng thấy con gấu là điềm sinh con trai, mộng thấy con rắn là điềm sinh con gái). Bài này đã được tác giả khúc ngâm tóm lược thành:
“Tư can nhà mới vẻ vang
Chiêm bao hùng hủy rõ ràng gái trai”
Những từ ngữ loại này của Mao thi cũng đã được các tác gia Trung đại sử dụng trong các sáng tác thơ văn.
b2. Giữ nguyên tên gọi các bài thơ: loại này chiếm tỉ lệ khá nhiều
Ở Mao thi, tên gọi các bài thơ phần lớn được giữ nguyên như nguyên tác. Thông thường, bên cạnh từ ghi tên gọi các bài thơ có bổ sung thêm thành tố phụ, tạo thành kết cấu chính phụ, theo công thức: Danh từ + tên bài thơ. Đa phần nguồn thi liệu ở Mao thi đều được cấu tạo theo công thức này. Ví dụ, ngữ “khúc chung tư” là kết cấu gồm: khúc + chung tư (tên bài thơ). Thuộc vào tiều loại này gồm các ngữ sau: kẻ tích linh, thơ quyển nhĩ, thuở đào yêu, lời giai lão, lời tướng thử, người thạc nhân, lời cát luỹ, khúc vô y, lời cửu vực, thơ đường lệ, khúc do nghi, tiếng hạc minh, lời miện thủy, khúc tân diên, tiếng thanh nhăng, thơ ký túy, khúc phù ê, chữ đức thuần, chữ duy trinh, câu đào cố, câu chưng thường, đấng can thành, người vu dịch…
b3. Thay đổi các yếu tố trong tên gọi của bài thơ. Sự thay đổi này có thể theo công thức: tên bài thơ + 1 từ được sử dụng trong bài thơ. Ví dụ: ngữ “cát đàm áo mát”, gồm: cát đàm (tên bài thơ) + áo mát (áo dùng cây sắn dệt, là loại vải thô và mặc rất mát).
Việc thay đổi yếu tố trong tên gọi bài thơ cũng có thể là việc thêm hoặc bớt từ ngữ dùng trong tên gọi các bài thơ: “Nhị tử thừa chu” lược thành “nhị tử”, “Thuần chi bôn bôn” lược thành “thuần bôn” ở Mao thi (xem phần 1b).
3. Giới thiệu văn bản
Do khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, chúng tôi xin chỉ giới thiệu một đoạn trong Mao thi: Đoạn trích phần Tiểu nhã (từ đầu phần Tiểu nhã đến hết tập Kì phụ chi thập):
Còn từ Tiểu nhã(5) cho thông
370. Mười thiên một thập dòng dòng đã phân
Lộc minh(6) yến kẻ gia tân
Thổi cung cầm sắt thay vần thi ca
Tả người Tứ mẫu(7) giong sa
Việc vua muôn dặm, việc nhà bội phân
375. Hoàng hoa(8) vua khiến sứ thần
Bề trên sáng đức, dưới dân thông tình
Nội bình tưởng kẻ tích linh(9)
Có thơ đường lệ(10) yến anh em nhà
Mượn lời phạt mộc(11) làm ca
380. Đãi người bằng hữu gần xa ướm lòng
Yến trinh cũng đội ơn chung
Một thơ thiên bảo(12) tôi cùng chúc quân
Thái vi(13) khiển thú nhọc nhằn
Vì ngự nan cấp phải cần việc khơi 8b,1
385. Gian nan vương sự tơi bời
Uý an hoàn tốt có lời xuất xa(14)
Thấy cây đệ đỗ(15) rườm rà
Thương người hoàn dịch thất gia trông chờ
Nhịp đưa nhẫn xuống năm thơ
390. Nam cai(16) chẳng có thơ đều có sênh
Bạch hoa, hoa thử(17) rành rành
Đôi thơ cũng một tiếng sênh khác gì
Rượu ngon, vật mượn phải thì
Vui thay tiệc yến ly ngư(18) sẵn sàng
395. Yến thôi sênh chỉ nhịp nhàng
Do canh(19) mới lại tỏ tường ý thưa
Tưởng lời Nam hữu gia ngư(20)
Đãi hiền thong thả đều thơ thái bình
Cá tươi rượu ngon khách lành
400. Gốc cù vui vẻ, tiếng sênh dậy dời(21)
Người hiền vững nước sáng đời
Tôn hiền là yến hữu đài(22) tứ thi
Yến thôi ngợi khúc do nghi(23)
Nhịp sênh khoan nhặt, báo thời dật vui 8b,8
405. Chư hầu gang tấc uy trời
Lục tiêu(24) trạm lộ(25) cũng lời yến ca
Lộc minh thôi lại Bạch hoa(26)
Đã rồi đôi thập nay là Đồng cung(27)
Của yêu cho kẻ có công
410. Nhạc chen tiếng trống, tiếng chuông vang lừng 9a,1
Chữ rằng: tích ngã bách bằng
Lòng vui quân tử tiệc mừng Tinh nga(28)
Giặc xâm khiến tướng khu ra
Tấu công Lục nguyệt(29) âu ca tiếng lành
415. Đem quân Thái khỉ(30) xuất chinh
Tráng du là tướng lôi đình là uy
Ngôi điền sửa ngựa xếp xe
Xa công(31) Cát nhật(32) giữ lề đời xưa
Dân phiêu Hồng nhạn(33) ngẩn ngơ
420. Ơn vua hoàn tập lại đưa dân về
Mờ mờ đêm hãy còn khuya
Đuốc dong Đình liệu(34) nhẫn khi đông triều
Nghèo nàn ai biết lo đâu
Có lời miện thuỷ(35) dặn nhau giữ mình
425. Thi nhân mượn tiếng hạc minh(36)
Lời sâu ý nhiệm đạo lành vi khuyên
Bước sang kỳ phụ(37) mười thiên
Lạ thay Tư mã gọi tên chẳng từ
Chẳng thương quân sĩ nhà vua
430. Nỡ hoài nanh vuốt mà khua dãi dầu
Người hiền thẳng ruổi Bạch câu(38)
Câu rằng trả lại công hầu tiếc chi
Than rằng: dân phải lưu ly
Than rằng: hoàng điểu(39) chớ hề ngốc ta
435. Nương ai chẳng đã nương nhà 9b,1
Xem lời hành dã(40) xót xa đoạn trường
Tư can(41) nhà mới vẻ vang
Chiêm bao hùng hủy rõ ràng gái trai
Vô dương(42) mục súc màng vui
440. Ba trăm có lũ, chín mươi có đàn
Cầm cân chẳng chính để loàn
Mấy lời tiết bỉ Nam san(43) cho tường
Lạ thay chính nguyệt(44) kì sương
Đại phu cảm nỗi phi thường siết bao
445. Vừa khi thập nguyệt chi giao(45)
Mặt trời mồng một cớ sao sương mờ
Vũ vô chính(46) bẩy chương thơ
Tôi gần trách kẻ thờ ơ sự đời
Mười thiên kỳ phụ đã thôi…
Chú thích:
Tài liệu tham khảo chính
1. Tứ thư, Ngũ kinh, Nhạc Ly thư xã, Bắc Kinh.
2. Kinh Thi, Khổng Tử, Tạ Quang Phát (dịch), Nxb. Văn học, H. 2004.
3. Ngữ văn Hán Nôm, phần Ngũ kinh (tập 2), Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb. KHXH, H. 2004.
4. Mao thi ngâm vịnh thực lục, AB.314 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.340-353