VI | EN
29. Hương án ở nhà đại bái Văn miếu Hà Nội (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

HƯƠNG ÁN Ở NHÀ ĐẠI BÁI VĂN MIẾU - HÀ NỘI

HOÀNG MAI HƯƠNG

Hà Nội

Văn miếu được thành lập ở Thăng Long năm 1070 đời Lý Thánh Tông. Ngay từ khi mới thành lập, Văn miếu đã cùng với nhà Quốc học (đến năm 1076 chính thức là Quốc tử giám) kiêm nhiệm hai trọng trách: thờ cúng Khổng Tử - người thầy của đạo Nho cùng các bậc tiên hiền và đào tạo nhân tài.

Về bố cục, mang bản sắc riêng của kiến trúc cổ Việt Nam thời Lê mạt với phong cách giản dị, không trạm trổ cầu kỳ nhưng chắc chắn, thanh nhã mà trang nghiêm.

Riêng về tòa Đại bái đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu và miêu tả tỷ mỷ. Ông Nguyễn Văn Uẩn dày công với cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX giới thiệu:

“Tại đây còn giữ mấy thứ đồ thờ có từ đời Lê. Một bức hoành lớn “Vạn thế sư biểu” của vua Khang Hy tự tay viết tặng sứ thần ta đem về khắc vào gỗ treo ở đây. Có hai cột trụ đá khắc dòng chữ “Cảnh Thìn (1760) quý xuân phụng mệnh kính lập”(1).

Ông Đỗ Văn Ninh, với con mắt của chuyên gia sử học ở cuốn “Văn bia Quốc tử giám Hà Nội” đã giải thích ý nghĩa tường tận cách bố trí và nội dung các bức hoành phi câu đối ở Bái đường này:

“Tòa Đại bái có chức năng là nơi hành lễ trong các kỳ tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án còn các gian khác đều bỏ trống. Tại đây treo khá nhiều hoành phi câu đối… Nhà Đại bái còn có một số hiện vật quý giá là chuông Bích Ung và chiếc khánh đá do thân sỹ huyện Thọ Xương cúng biếu”(2).

Đến Văn miếu ngắm kỹ chiếc hương án, thiết nghĩ cũng có thể xếp vào hàng ngũ những hiện vật quý ở gian giữa nhà Đại bái.

Hương án nhà Đại bái là một bức tranh khắc chạm gỗ tuyệt diệu thời Nguyễn(3) bằng gỗ sơn son thếp vàng rực rỡ. Bố cục mặt trước, mặt sau hương án giống nhau được trang trí bởi những ô vuông và hình chữ nhật cân đối, to nhỏ ken nhau mà không hề rối. Mặt trước chính giữa phía trên là mặt trăng với những áng mây uốn vờn xung quanh. Phía dưới là tượng Long mã hà đồ. Long mã hà đồ ngoài ý nghĩa gắn bó với Nho giáo, nó còn tượng cho trí nam nhi cõng cả thời gian, không gian chuyển động. Long là con rồng bay lên, đồng nhất với tung với kinh tuyến với thời gian. Mã là ngựa chạy ngang, đồng nhất với hoành với vĩ tuyến, với không gian. Mặt trăng và Long Mã đối nhau qua chữ “đi”. Long Mã là con kỳ lân, đại diện cho tầng trên trí tuệ, cho sự trong sáng thường được đưa vào mọi di tích để kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương. Nó cùng không gian, thời gian với tư cách thánh nhân làm thay đổi cả vũ trụ. Vì vậy đã được bố trí ở mặt trước hương án.

Hai bên là đôi rồng cưỡi mây tượng cho lưỡng nghi. Bên trái là rồng đực, phải là rồng cái. Chúng biểu tượng cho cả ngày và đêm, cả âm và dương, cả bầu trời ngày và bầu trời đêm. Mây biểu tượng cho việc cầu có nước để cày cấy, cầu được mùa. Đôi rồng này cũng đối nhau qua chữ “di” nói ở trên.

Cạnh con rồng đực là hình ống bút nằm bên trục đối xứng giữa chữ “ngưỡng” ở trên và chữ “cao” ở dưới. Cạnh con rồng cái là hình cuốn thư nằm bên trục đối xứng giữa chữ “toản” ở trên và chữ “kiên” ở dưới. Cuốn thư, ống bút ý nghĩa là “phi trí bất hưng” tượng cho sự học hành.

Mặt sau chính giữa phía trên là mặt trời. Phía dưới là tượng thần quy lạc thư. Hình mặt trời và thần quy đối nhau qua chữ “tại”. Rùa biểu tượng cho sự tạo lập nên vũ trụ và thế giới nhân sinh. Rùa tượng cho trời (với cái mai khum) và tượng cho đất (với cái bụng bằng phẳng) tượng cho sự sinh sôi phát triển, tồn tại; biểu hiện cho sự bền vững của thế giới, là hiện thân của nguồn nước. Vì vậy phải đặt ở sau lưng hương án hai bên là đôi rồng vờn mây. Đôi rồng này cũng đối nhau qua chữ “tại”. Cạnh con rồng bên phải là quả chuông, nằm bên trục đối xứng giữa chữ “chiêm” ở trên với chữ “tiền” bên dưới. Cạnh con rồng trái là con cá nằm bên trục đối xứng giữa chữ “hốt” bên trên và chữ “hậu” bên dưới. Ta còn thấy có hình cái trống nằm bên hình mặt trăng… Chuông trống mang ý nghĩa thức tỉnh. Cá biểu hiện cho sự dư thừa, cầu hạnh phúc. Tất cả mười chữ đều được chọn khắc theo kiểu chữ triện (thường gọi là kiểu chữ đỉnh) hiện thân của sự bền vững, cao quý, quyền uy. Từng chữ là chữ thiêng được bao quanh bởi hoa cúc. Hoa cúc trong tạo hình của người Việt là tượng trưng cho nguồn phát sáng là tinh tú, biểu tượng cho bầu trời. Ta có thể hình dung sơ đồ năm chữ mặt trước và năm chữ mặt sau hương án như dưới đây:

Toản

 

 

 

Ngưỡng

 

 

 

 

 

 

Di

 

 

 

 

 

 

 

Kiên

 

 

 

Cao

 

 

 

 

 

Hốt

 

 

 

Chiêm

 

 

 

 

 

 

 

Tại

 

 

 

 

 

 

 

Hậu

 

 

 

Tiền

Người đã đọc “Luận ngữ”(4) hẳn nhận ra đây vừa là lời than thở của Nhan Uyên (Nhan Hồi học trò yêu của Khổng Tử, một trong tứ phối được thờ cùng với thày), vừa ngụ ý ca ngợi đạo đức học vấn tinh thâm, cao rộng của thày.

Nguyên văn như sau:

Phiên âm: “Nhan Uyên vị nhiên viết: ngưỡng chi di cao toản chi di kiên: chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phụ tử tuân tuân nhiên thiện dụ nhân, bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ. Dục bãi bất năng. Ký kiệt ngô tài như hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ”.

Tạm dịch nghĩa: Nhan Uyên than rằng: “Đạo của Khổng Phu tử thật cao thâm, ta ngẩng đầu ngưỡng vọng nhưng càng nhìn càng cảm thấy cao xa; càng cố gắng nghiên cứu càng thấy sâu sắc, tựa hồ nhìn thấy (nó) ở đằng trước, bỗng nhiên lại thấy (nó) ở đằng sau. Người giỏi dẫn dắt ta tuần tự từng bước một. Đầu tiên dùng các loại văn hiến điển tịch dạy cho ta trở thành kẻ học rộng; sau đó lấy lễ tiết để ước thúc hành vi của ta khiến ta muốn đừng việc học tập cũng không được.

Ta đã dùng hết khả năng của mình mà đạo của người vẫn sừng sững ở trước mặt. Ta muốn theo đạo đó mà không biết làm thế nào”.

Các nhà Nho Việt Nam đã cân nhắc, chọn những từ hàm súc nhất trong câu đầu vốn đã quá cô đọng rồi khéo léo sắp xếp chúng ẩn mình, hài hòa trong hoa gỗ khắc trạm Việt Nam thể hiện rất thành công dụng ý ca tụng đạo đức học vấn cao thâm, vi diệu, không dễ dàng thấy được của Khổng Tử.

Hương án thờ Khổng Tử ở Văn miếu Thăng Long được tôn vinh, hoành tráng, thâm nghiêm, giàu ý nghĩa như vậy, rõ ràng không chỉ nhờ vào bản thân nội hàm của mấy dòng chữ trong Luận ngữ.

Chú thích:

(1) Sách đã dẫn tr.953

(2) Sách đã dẫn tr.578

(3) Nhận định của ông Trần Lâm Biền.

(4) Luận ngữ - chương 18 - Tử Hãn - câu 10.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.296-300)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm