29. Năm văn bia chùa Phúc Hưng hiện còn tại xã Thiệu Dương huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa (TBHNH 2009)
NĂM VĂN BIA CHÙA PHÚC HƯNG HIỆN CÒN
TẠI XÃ THIỆU DƯƠNG HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HÓA
NGUYỄN VĂN HẢI
Thư viện tỉnh Thanh Hóa
Từ trước tới nay, việc tìm hiểu khảo sát các ngôi chùa cổ xuất hiện ở Thanh Hóa vẫn là một đề tài được nhiều người quan tâm. Việc tìm hiểu lai lịch của các ngôi chùa chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu bia ký hiện còn tại địa phương và lưu trữ tại các kho tư liệu trung ương. Hầu hết các ngôi chùa ở Thanh Hóa có niên đại cổ xuất hiện trong giai đoạn Lý - Trần như: chùa Minh Tịnh ở xã Hoằng Phúc huyện Hoằng Hóa, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ở xã Văn Lộc huyện Hậu Lộc, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn xã Hà Sơn huyện Hà Trung, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni ở xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hóa, chùa Báo Ân núi An Hoạch ở xã Đông Tân và Đông Hưng huyện Đông Sơn..
Một ngôi chùa, có niên đại khá sớm xuất hiện ở Thanh Hóa mà chúng tôi phát hiện thông qua nội dung ghi chép trong các bia ký hiện còn đấy là chùa Phúc Hưng. Chùa nằm trong khuôn viên đền thờ Dương Đình Nghệ xã Thiệu Dương huyện Thiệu Hóa. Trong đền thờ hiện còn lưu giữ được 5 văn bia ghi chép về lai lịch tiểu sử Dương Đình Nghệ cũng như việc trùng tu tôn tạo chùa Phúc Hưng qua các thời kỳ. Đọc nội dung văn bia, được biết chùa Phúc Hưng ít nhất có từ khi Dương Đình Nghệ có mưu đồ phục quốc, ông đã dựng nhà và nuôi hơn 3000 nghĩa tử tại chùa này. Xin giới thiệu bản dịch nghĩa 5 văn bia dưới đây.
Bia thứ 1: PHÚC HƯNG TỰ CHUNG LÂU BI KÍ
Bài ký ghi chép trên bia về việc xây dựng lầu chuông chùa Phúc Hưng
Chùa Phúc Hưng ở xã Dương Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Tương truyền Dương Chính Công(1) xưa kia mưu tính và dựng nhà ở chùa. Chùa dựng lên hai dãy, dãy bên trong ba gian, gian giữa và gian bên trái thờ Phật, gian phải thờ ngài và con gái Hoàng hậu triều Ngô họ Dương(2), cùng phụ thờ con trai là Bình Vương(3). Chùa không biết dựng từ đời nào? tu sửa bao nhiêu lần không thấy truyền ghi, chỉ biết thời rằng triều nhà Lê niên hiệu Vĩnh Trị (1676-1679) đời Lê Hy Tông có trùng tu ghi chép trong bia tại chùa.
Năm tháng đã lâu chùa bị hư hỏng, nên năm Kỉ Dậu đời Tự Đức (1849) nhân dân trong xã tu sửa lại như cũ, đến năm Bính Thìn (1856) xã dân kê khai công trạng của Dương Chính Công (Dương Đình Nghệ) trước đây đề đạt triều đình được phong là bậc thần Tuấn Lương. Liền năm đó dựng một ngôi miếu ở trước chùa. Mùa hạ năm sau miếu được hoàn thành làm nơi phụng thờ ông cùng con gái là Hoàng hậu triều Ngô, và phụ thờ Bình Vương. Từ đó đến nay quy mô của chùa, miếu tất cả đã được hoàn thành, chỉnh tề.
Chùa trước kia có một quả chuông nhưng chưa có lầu treo, Những năm trước đây chưa có điều kiện để tu tập xây dựng. Cuối mùa thu năm trước nhân dân trong xã chọn được gỗ tốt, mời thợ giỏi dựng nên lầu. Tháng 10 bắt đầu khởi tạo, cùng năm tháng 6 chùa miếu được dựng xong, cùng với lầu nhà nằm sát đê sông Mã, mặt ngoảnh ra hướng Tây Nam, đấy là noi theo lối cũ, tường gạch, lợp ngói. Cho nên trong thôn tất có nơi kiên cố, mưu tính sự lâu bền mãi mãi vậy. Có người vội đến học viện nhờ ta bài văn ghi chép để lưu truyền công việc mãi mãi. Học sinh của (Ta) có người xin hỏi rằng: “Phật tức là dị đoan, Tiên Sinh hà cớ gì lại ghi chép lại việc đó”. Ta cười trả lời rằng: “Dị đoan cố nhiên là điều không rõ ràng, đạo Phật thịnh ở thời Lý - Trần nhưng gần đây đã suy rồi, vậy dị đoan đã suy thì cái dị đoan đó là tà lệch. Thuyết cho là dị đoan kia lại gây bạo hành gấp trăm lần, vị Tăng tu nào có thể chấn hưng sự suy vi đó để mở đường giác, tỉnh duyên trần thì có khác chi đã làm cho mối dị đoan kia không bị thiên lệch ?”. Con người ta luôn dựa vào pháp lực(4)để đoạn tuyệt cái bạo hành của tà thuyết kia, huống chi đã có ngôi lầu, ngôi chùa này? Để ngôi chùa này tồn tại ắt phải có những dấu vết từ xưa.
Xét Dương công tên tự là Đình Nghệ, người xã Dương Xá, quận Ái Châu, trước là danh tướng của Khúc Hạo trước nguy cơ nước ta bị quân Nam Hán xâm lược, ông đã chiêu tập anh hùng hào kiệt trong châu, nuôi 3000 con nuôi, mưu đồ khôi phục. Niên hiệu Trường Hưng thời Đường, ông phát binh vây hãm Thứ sử Lý Tiến, phá thành, nhà Hán lại sai Thừa chỉ Trần Bảo đem quân sang cứu, Lý Tiến bỏ trốn về nước, Trần Bảo bị thua và chết trận. Từ đó Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ(4) coi việc trong châu. Tháng 3 năm Đinh Dậu (937) ông bị nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn giết hại để thay chức, con rể của ông - Ngô Quyền khởi binh trị tội Kiều Công Tiễn và đánh đại bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Ngô Quyền xưng Vương và lập bà họ Dương làm Hoàng hậu, ban tên thụy cho Đình Nghệ là Chính Công.
Con của ông là Dương Tam Kha(5) sau được nhà Ngô ban ơn phong cho thực ấp hết đời ở Chương Dương. Như vậy đó là nhờ vào phúc trạch báo đền của ngài mà từ trước tới nay chưa có. Ôi chùa ấy là nhà, người đời sau có thể nhớ về ông mà cầu xin sự độ lượng ở Phật. Như thế thì có thể nhìn thấy ông như lúc sống, sự hiển vinh trước đây ở đời. Hai mươi năm thì mất, gửi thân ở cõi thiền môn, trải qua bao năm lại được hiển thần, trong cái sắc không.
Khí lớn trường tồn cũng như ông trời tạo dựng. Lớn lao thay, Ôi! Dương Chính Công - anh hùng của đất nước ta thời xưa, tinh anh linh ứng vẫn chưa hết, khó mà theo kịp. Nay vì lấy sự tái thế để trừ cái hại của mối dị đoan kia. Ôi! ngôi lầu này đã được dựng mà chốn thờ phật xưa có một tân miếu cao ngật đứng vững ở vườn muôn thuở như được mới. Xã dân có sắm trai bàn cầu phúc nhờ vào sự sùng báo lớn lao của ngài mà càng khó chịu với Tiễn (Công Tiễn) vậy. Ta sở dĩ ghi chép ấy là những điều nghe thấy nên không thể thoái thác, bèn cầm bút ghi chép bài ký.
Lầu cao 22 thước, rộng 16 thước, tầng trên cao 5 thước, tầng dưới cao 12 thước, tổng số tiền chi phí hết 1000 quan, còn chiếc chuông thân cao 4 thước, miệng rộng 2 thước 2 tấc, nó được đúc từ năm Quý Dậu niên hiệu Gia Long (1813) đến nay đã tròn một giáp, trên chuông có ghi bài minh rằng:
Lớn lao thay! Gia trạch họ Dương ở nơi dấu tích xưa ngôi chùa rõ ràng.hề; Chính Công (Dương Đình Nghệ) đã ở chùa nơi thờ Phật đến nay lại có miếu thờ thần hề; Tiếng chuông vang khắp mà lầu đẹp đổi mới. Một ấp sắm biện trai bàn lòng thành thác âm để danh tiếng cơ nghiệp ngày càng vang xa. Chuông lớn mãi còn để thức tỉnh luân hồi mở cõi từ tâm.
Bản xã hưng công, Phó tổng Lê Văn Thành, Hội chủ Lê Xuân Phức, Dương Khắc Nại, Nguyễn Văn Cư, Dương Trọng Thực, Dương Đình Hòa, Dương Công , Chánh Lí trưởng Dương Đình Viên, Dương Văn Văn, Trịnh Văn Quý, Phó Lí Dương Phú?, Lê Văn Đỉnh, Lê Văn Hoan, Dương Đình Thư.
Hương lão chức sắc trùm trưởng nhân dân trên đưới 8 giáp đồng tâm cáo ghi việc công hoàn tất:
Giáp Thượng, các bậc tuổi cao trong giáp là Lê Đăng Cẩn, Dương Văn Đào, Lê Văn Hữu, Dương Đình Nhượng, Giáp chùm Dương Văn Văn, Dương Đình?, Dương Đình Trang, Dương Đình Lễ, Dương Đình Can, Phan Văn Bằng, Dương Đình Bá, Nguyễn Văn Tiềm.
Giáp Hạ, các bậc tuổi cao trong giáp là Dương Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Văn Cư, Dương Quốc Năm, Nguyễn Văn Kiêm, Dương Văn Thuý…, Nguyễn Văn Cẩm, Nguyễn Văn Dũng, Giáp trùm Nguyễn Văn Trần, Dương Văn Kiểm, Đào Thế Thái, Nguyễn Văn Quang.
Giáp Thượng, các bậc tuổi cao trong giáp là Đào Ngọc Tộ, Dương Đình Nhàn,… Trịnh Văn Lục, Giáp trùm Nguyễn Viết Mục, Đào Thế Sử, Nguyễn Viết Khang Nguyễn Viết Xuân, Trịnh Văn Quý, Trịnh Văn Bằng, Nguyễn Viết Tường, Dương Đình Vọng.
Giáp Trung, các bậc tuổi cao trong giáp là Dương Đình Dao, Dương Đình Hiến, Dương Đình Hòa, Dương Đình Long, Dương Quang Vinh, Nguyễn Phú Quý. Giáp trùm Dương Văn Mặc, Dương Đình Soạn, Dương Đình Viên, Dương Đình Hà, Dương Văn Bào, Dương Đình Tiệm.
Giáp (Kim ?) Thượng, các bậc tuổi cao trong giáp là Lê Xuân Cửu, Dương Văn Hiến… Giáp trùm Dương Đình Hai, Nguyễn Phú Cư, Dương Đình Thông, Ngô Công Sổ, Dương Trọng Kí, Lê Xuân Sĩ, Lê Xuân Thu, Lê Xuân Thứ, Dương Văn Lỗi.
Giáp (Kim?) Hạ, các bậc tuổi cao trong giáp là Dương Đình Khải, Dương Đình Sự, Lê Văn Nẫm, Dương Đình Hậu, Dương Đình Đình, Lê Văn Lượng, Dương Đình Uông. Giáp trùm Lê Văn Hà, Trịnh Bá Trinh, Nguyễn Văn Tiệm, Lê Văn Đỉnh, Dương Bách Văn.
Giáp Lỗi Thượng, các bậc tuổi cao trong giáp là Dương Khắc Tấu, Dương Khắc Đình, Dương Khắc Lộ, Đỗ Kiêm, Dương Công Cư, Dương Công Tiếp, Lê Văn Tiệm, Nguyễn Văn Bạc, Giáp trùm Dương Khắc Hòa, Dương Khắc Tiệm, Dương Khắc Mông, Dương Công Kiệm.
Giáp Lỗi Đông, các bậc tuổi cao trong giáp là Lê Xuân Phức, Dương Trọng Thực, Dương Bá Tuấn, Dương Văn Tuân, Lê Văn Hào. Giáp trùm Dương Văn Tân, Dương Trọng Châu, Dương Phú Nhiễu, Lê Xuân Tể, Dương Văn An, Dương Phú Hạo.
Mùa thu năm Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức (1862)
Lãnh Thanh Hóa tỉnh Đốc học Cổ Hoan Phan Văn Nhã, hiệu là Bảo Chính, tắm gội sạch sẽ vâng soạn.
Tú tài khoa Tân Dậu là Dương Bá Nghĩa viết chữ.
Vị tăng trong chùa là Lê Văn Tiệm. Thợ đá thôn Nhồi xã An Hoạch là Lê Đình Hộ vâng khắc.
Các văn bia còn lại đều nhắc đến lai lịch tiểu sử chùa Phúc Hưng và công trạng của Dương Đình Nghệ, do giới hạn của bài viết chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt như sau:
Bia số 2: TRÙNG TU PHÚC HƯNG TỰ
Bia được làm bằng một tấm đá nguyên khối, dựng trên bệ hình chữ nhật, bia cao 1,50m, rộng 1m, dày 0,25m, bệ cao 30cm, rộng 1,2m, có chạm hoa văn cánh sen, trán tạo hình vòng cung khắc lưỡng long chầu nguyệt. Bia dựng vào mùa hạ năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị thứ 2 (1677); người soạn là Lê Vinh, người Thượng An Đông Thiệu (thôn Thượng xã An Họach huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên), đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656) đời Lê Thần Tông, chức Chân lộc đại phu, Bội tụng, Ngự sử đài Đô ngự sử, tước Thọ Kiêm nam. Người viết chữ là Nguyễn Thế Hiển, tên tự Đạo Lục, pháp hiệu Viên Minh, Sư trụ trì chính chùa Phúc Hưng quê ở làng Từ Minh huyện Hoằng Hóa. Bia còn rất đẹp, toàn văn chữ Hán, viết theo kiểu Khải chân, có một số chữ bị mờ.
Nội dung ghi: Quan viên hương lão trên dưới xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên tạo tác bi văn ghi chép về chùa Phúc Hưng, là nơi (Vương chính) lập nghiệp, lúc bấy giờ vẫn còn bia văn khắc ghi công đức lưu truyền mãi mãi. Chùa ở đất đẹp thuộc vương phủ của xã Dương Xá huyện Đông Sơn. Chùa lớn bao la nước tụ phía trước, sông Mã uốn khúc ở sau, ngũ nhạc chầu về, phía nam có tứ sơn trấn thủ, phía bắc có quần long tụ hội, vạn mã tiến chầu, thật là một vùng trấn đệ danh thắng đệ nhất Thanh Hoá. Đời trước các bậc quan lớn đã từng làm, mà mở rộng đức sáng khởi sự công việc, mở mang đại điện. Nay có bậc quan viên Quản Thị hầu, Uy trung đội, Chánh đội trưởng, Đô chỉ huy sứ, Tả hiệu điểm, tước Quản Khê hầu tên là Lê Văn Quản và các ông Quản Thị hầu kiêm Tả đội, Chánh đội trưởng, Chỉ huy sứ ty, Chỉ huy sứ, Hữu hiệu điểm, tước Điều Dương hầu Dương Đình Khoa cùng các ông Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy kiêm sự Lĩnh Dương hầu Dương Cảnh Thọ, Chánh đội trưởng Khánh Dương hầu Dương Đình Thái, Đặng Lộc hầu Nguyễn Duy Vinh, Đội trưởng Dương Nghĩa bá Dương Đình Khôi, Hoàng Nghĩa bá Hoàng Ngọc Ba cùng nhiều các bậc quan viên, hương lão toàn xã trên dưới bỏ của nhà lo chi phí, người bỏ tiền, người bỏ châu báu, người bỏ thóc gạo… hậu cho thôn vào ngày tốt năm Bính Thìn khởi công, đến năm Đinh Tị hoàn thành, đẹp đẽ nguy nga, qui mô tráng lệ, mười hai lâu đài tựa như ngọc. Hoa cỏ bốn mùa đều tốt tươi, mà thắng cảnh ngày thêm lạ kỳ… Cuối bia có bài minh ca ngợi.
Bia số 3: PHÚC HƯNG TỰ BI KÝ
Bia cao 2m, rộng 1,04m, dày 0,22m dựng trên một bệ đá chôn sâu dưới lòng đất, trán chạm nổi một con hổ phù, viền chạm hoa cúc leo. Bia dựng vào niên hiệu Tự Đức thứ 23 (1870). Bia hai mặt, mặt sau ghi công đức.
Nội dung: Ghi các ông Hội chủ, Cai tổng ở xã Dương Xá tổng Đại Bối huyện Đông Sơn phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa là: Lê Văn Thành, hưng công Dương Đình , Dương Phú Nhiễu, Lê Văn Quyền, Dương Khắc Thứ hợp cùng bản xã kỳ lão, Chánh đội trưởng Soái đội Dương Văn Tường, Thi Sái Soái Đội Đội trưởng Nguyễn Văn Tiềm, Cử nhân Dương Văn Nhã, Tú tài Dương Văn Nghi cùng cả xã chức sắc văn hội, Trùm trưởng binh viên lý dịch 8 giáp trên dưới đồng tâm tu tạo, công việc hoàn thành ghi chép để lưu truyền. Xã ta chùa cổ Phúc Hưng tương truyền ở triều trước do Dương Chính Công (Dương Đình Nghệ) để lại, xã dân vì thế mà có chùa. Đất chùa là nơi sơn kỳ thủy tú, phảng phất cảnh bồng lai… Từ triều Lê Vĩnh Trị đến Thánh triều Thiệu Trị năm thứ 6 (1845) trong xã đã trùng tu hai lần nhà thờ lầu chuông hiên hạt kim bích, rực ánh hào quang, thật danh thắng một châu ghi chép vào bia đáng để biểu trưng. Đến nay vua cai trị đất nước đạo sáng trị vì, tốt đẹp lớn lao, lòng người vui vẻ thích làm việc thiện. Xã ta có bậc kỳ thọ họ Dương là hậu duệ dòng phái Dương Tướng công. Trông lên âm công tổ tiên làm nền móng nhớ về người trước, mở lòng bồ đề có thiện ý mưu bàn cùng quan viên chức sắc trong xã tình nguyện quyên góp bỏ của nhà hưng công hiện đã thành một tòa chính tẩm kiên cố bằng gạch đá lợp ngói qui mô hơn trước, chế độ nhất tân, cho nên hiển rõ đời trước biểu trưng đời sau, lòng thiện là như vậy. Bèn khắc vào đá ghi chép công việc và lời minh.
Nay chùa Phúc Hưng
Xưa đất Dương công
Núi chầu đột ngột
Nước chảy vòng quanh
Nhất thiên Tây Lạc
Thắng địa phiên xương
Một lòng tu chỉnh
Vạn đời lưu phương.
Phần cuối ghi tên các địa phương và người cung tiến.
Bia số 4:PHÚC HƯNG TỰ BI MINH
Bia cao 2m, rộng 1,04m, dày 0,22m dựng trên một bệ đá chôn sâu dưới lòng đất. Trán chạm nổi một con hổ phù, viền chạm hoa cúc leo. Bia dựng vào ngày 7 tháng 7 niên hiệu Thành Thái thứ 4 (1892). Người soạn là Dương Văn Nhã đỗ Cử nhân Ân khoa Mậu Thìn. Người viết chữ là Dương Văn Phấn đỗ Tú tài hai khoa Canh Ngọ và Quí Dậu. Bia hai mặt, mặt sau ghi cung tiến.
Nội dung: Nước ta Phật giáo thịnh vào triều Lý mà phát triển mạnh mẽ vào triều Trần, đất Dương Xá huyện Đông Sơn có chùa Phúc Hưng, trước là dấu tích của ông họ Dương thu phục được Giao Châu.
Xưa kia nhà ông ở đấy, khi ông mất các con nuôi cùng người trong ấp phụng thờ Phật ở đấy. Cho nên con ông tin như có phật, đạo vua quảng đại từ bi vì thế mà ca ngợi tôn sùng. Bia có ghi các giáp trong làng bỏ tiền tu sửa chùa.
Bia số 5: PHÚC HƯNG TỰ BI KÝ
Bia cao 1,90m, rộng 0,90m, dày 0,22m dựng trên một bệ đá cao 0,50m, dài 1,2m, rộng 0,7m. Trán chạm nổi một con hổ phù, viền chạm hoa cúc leo. Bia dựng vào niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849). Bia hai mặt, mặt sau ghi việc cung tiến.
Nội dung: ghi về đất tỉnh Thanh có xã Dương Xá, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa là nơi nhân khang vật thịnh, phong tục tinh túy, thuần hậu, nổi rõ của đất Đông Sơn, có 5 đỉnh núi cao vót tựa năm bông hoa từ phía nam chiếu về và là nơi hợp lưu của sông Mã và sông Lương từ phía sau. Xưa kia gia tộc họ Dương ở đấy, thật tốt đẹp thay.
Chùa Phúc Hưng tương truyền là nơi khai mở họ Dương, người trong xã nhân đó mà có chùa. Vào triều Lê Vĩnh Trị bia cổ vẫn còn ở đấy. Công sức người xưa đã làm như vậy mà đạo của vua thì rõ ràng, mọi người đều vui vẻ. Văn chỉ nghiêm trang, đền thờ vững chãi nên muốn tu sửa thêm cho chùa. Vào niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1845) các vị quan viên chức sắc trong làng xây mới tòa chính một tiền đường, một lầu chuông bên tả, một nhà bia. Năm Tự Đức thứ 2 (1849) mùa hạ hoàn thành bèn ghi chép vào bia dựng ở chùa. Ghi bài minh và tên tuổi những người cung tiến.
Chú thích:
(1) Dương Chính công: tức là Dương Đình Nghệ, sau khi Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn ban cho ông là Dương Chính công.
(2) Ngô Hậu họ Dương tức là Dương Thị Như Ngọc, con gái của Dương Đình Nghệ được gả cho Ngô Quyền, sau khi Ngô Quyền lên làm vua lập bà làm Hoàng hậu.
(3) Bình Vương: tức Dương Bình Vương, con trai của Dương Đình Nghệ, là anh vợ của Ngô Quyền, sau khi Ngô Quyền mất, ông không theo di chiếu đưa con trai Ngô Quyền lên làm vua mà tự cướp ngôi xưng là Dương Bình Vương từ năm 945 đến 950.
(4) Tiết độ sứ: chức quan đời xưa ở Trung Quốc thống lĩnh binh quyền trong cả nước .
(5) Dương Tam Kha: người làng Dương Xá, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, con của Dương Đình Nghệ./.
(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr.370-380)