VI | EN
29. Thêm một bài Chinh phụ ngâm.
tb2006

THÊM MỘT BÀI CHINH PHỤ NGÂM

TRẦN THỊ GIÁNG HOA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong lịch sử văn học, khúc là một hình thức thơ ca cổ, gắn liền với âm nhạc, mang nội dung trữ tình, được ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim và phát triển mạnh mẽ ở đời Nguyên.

Ở Việt Nam, những tác phẩm thuộc thể loại ngâm khúc là những bài thơ dài, viết theo thể song thất lục bát, có nội dung trữ tình. Thể loại văn học này đạt được thành tựu cao ở thế kỷ 18 bên cạnh thể Hát nói, và truyện Nôm, tiêu biểu là tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Những tác phẩm này thường được viết bằng chữ Hán, mỗi câu gồm hai vế, phần lớn là đối nhau, thỉnh thoảng có chen những vế lẻ. Trong mỗi vế không quy định số chữ, có câu ba bốn chữ, cũng có câu chín mười chữ, thông thường là bảy chữ. Tuy nhiên cũng có tác phẩm được viết bằng chữ Nôm, và những quy tắc về vần, về đối không được tuân thủ một cách chặt chẽ.

Gần đây, chúng tôi phát hiện có bài Chinh phụ ngâm được chép trong sách Hương Tích thi ký, kí hiệu A.2533 lưu tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, do quan Án sát sứ Hà Nội là Đặng đại nhân hiệu Thanh Giang Lương Hiên soạn (tức Đặng Văn Tá), và Ninh Khê Tú tài Trần Quang Luyện chép, từ trang 62b đến trang 64b. Sách gồm những bài thơ đối họa, ghi lại phong cảnh trên đường vào thăm chùa Hương của Đặng Văn Tá và các bạn đồng liêu, cùng một số thơ văn khác, được những người có uy tín phê duyệt và phẩm bình. Ngoài ra, bài thơ này còn được ghi chép trong một số sách khác như Thi văn đối liên tạp lục, kí hiệu VHv.2477, Hương Tích động ký tịnh tạp văn sao tập, kí hiệu A.2174. Về tác giả bài Chinh phụ ngâm, sách ghi là Thám hoa Nguyễn Khắc Cẩn. Nhưng tra cứu tài liệu liên quan, trong lịch sử khoa cử Việt Nam, không thấy vị nào đỗ Thám hoa có tên như vậy. Có lẽ đây là sự nhầm lẫn trong quá trình sao chép, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi có điều kiện.

Về nội dung, Chinh phụ ngâm là lời thơ kể về người phụ nữ ở nhà nhớ nhung, trông ngóng chồng đi quân dịch đồn thú nơi xa xôi đã bao năm đợi tháng chờ, xót thương chồng phải chịu cảnh ăn gió nằm mưa mà đêm đêm trằn trọc rồi lại hận mình vì ham muốn quyền tước mới nên nông nỗi này. Bài thơ là tiếng lòng của người vợ hết nhớ thương, sầu muộn, lẻ loi rồi đến mong ngóng và hy vọng đến ngày chồng chiến thắng, thỏa chí nam nhi trở về sum họp.

Không giống như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, bài thơ này có những điểm khác biệt, thỉnh thoảng dùng câu thơ thất ngôn, khi thì xen lẫn câu thơ bát ngôn, pha trộn giữa văn chữ Hán và văn chữ Nôm, phần lớn là văn Nôm, đôi khi là diễn Nôm phần Hán văn trước đó. Trong bài sử dụng rất nhiều những điển tích văn học Trung Quốc, tiêu biểu như Kinh Thi, Đường thi,... thể hiện tài năng, sự khéo léo của tác giả.

Nhận thấy đây là tư liệu quý, chúng tôi phiên âm, giới thiệu toàn bộ văn bản nhằm cung cấp, bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu thể loại văn học đã có nhiều thành tựu trong dòng lịch sử văn học trung đại Việt Nam.

CHINH PHỤ NGÂM

Quân tử vu dịch,

Bất tri kì kỳ(1).

Đau lòng thay kẻ ở người đi,

Ngọn binh hoả lỗi mau chi lắm tá.

Tưởng những lúc:

Phụ mẫu sinh ngã,

Nhật dạ súc ngã tàng.

Giá nữ hữu sở quy,

Kê cẩu diệc đắc tương(2).

Việc chinh phu mà lại đến chàng,

Thà đem bỏ đạo bàng(3)cho xong quách.

Điều điều lộ viễn quan sơn cách(4),

Gái phòng khuê mới khách sa trường.

Du du bỉ thương,

Hạt kỳ hữu cực(5).

Tưởng những lúc cùng nhau tri thức,

Đem phấn hương mà nhan sắc cùng chồng.

Tự bá chi đông,

Thủ như phi bồng.

Khải vô cao mộc,

Thuỳ thích vi dung(6).

Trăm năm chút nghĩa đèo bòng,

Xa xôi ai có thấu tình chăng hử.

Chân chân quân tử,

Quy tai quy tai(7).

Tuân bỉ nhữ phần,

Phạt kì điều mai.

Vị kiến quân tử,

Nghễ như điều cơ(8).

Quản bao tháng đợi năm chờ,

Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm.

Cao sơn lưu thủy thục tri âm(9),

Đau đớn nỗi quân tâm thiếp ý.

Dương chi thủy,

Bất lưu thúc tân.

Bỉ kỳ chi tử,

Bất dữ ngã thú Thân.

Hoài tai hoài tai,

Hạt nguyệt dư hoàn quy tai(10).

Mảnh gối sầu mà nhớ đến ai,

Trực hận nối đêm dài sao vắn giấc.

Hồi thủ mạch đầu dương liễu sắc,

Hối giao phu tế mịch phong hầu(11).

Đem áo chăn mà sum buộc lấy nhau,

Chi đến nỗi hàm sầu yểm lệ.

Trăng đầu non mà mây mặt bể,

Tương tâm hà thác cánh phùng quân(12).

Ta ngã hoài nhân,

Trí bỉ chu hàng.

Thái thái quyển nhĩ,

Bất doanh khuynh khuông(13).

Chàng trông thiếp, thiếp trông chàng,

Nỗi ân ái đôi đường khôn xiết kể.

Bá hề kiệthề,

Bang chi kiệt hề.

Bá dã chấp ngải,

Vi vương tiền khu(14).

Ngại ngùng khi bước lên cầu,

Gánh tình sẻ nửa mối sầu chia đôi.

Ẩn kỳ lôi tại Nam sơn chi trắc,

Hà tư vi tư,

Mạc cảm hoàng tức(15).

Trận gió xuân mơ màng một giấc,

Thấy cảnh đâu như ngả tấm lòng.

Yêu yêu thảo trùng,

Thích thích phụ chung,

Vị kiến quân tử,

Ưu tâm sung sung(16).

Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng nước mắt nỉ non.

Thử thời tống biệt mỗi kinh hồn,

Nhất dạ bất kiến tâm đoạn tuyệt(17).

Tâm đoạn tuyệt hề,

Kỷ thiên lý(18).

Sàm sàm chi thạch,

Duy kỳ cao hĩ.

Vũ phu đông chinh,

Bất hoàng triêu hĩ(19).

Nợ tang bồng nghĩ đâu đến thế,

Bước chân ra còn để cái tương tư.

Nhật cư nguyệt chư,

Hồ điệt nhi vi.

Tâm chi ưu hĩ,

Như phỉ hoãn y.

Tịnh ngôn tư chi,

Bất năng phấn phi(20).

Trăng già độc địa làm chi,

Trách con tạo trêu ngươi chi đã não.

Diễn quan hoàng điểu,

Tải hảo kỳ âm.

Khải phong tự nam,

Xuy bỉ cức tâm(21).

Một trời lửa lựu vừa dâm,

Một trời thu sắc xót thầm cho ai.

Kiêm gia thê thê,

Bạch lộ vị hi(22).

Hà thảo bất huyền,

Hà nhân bất qui.

Hà nhật bất hành,

Hà nhân bất tương(23).

Bông lau đà sát sát hơi sương,

Màu lê đã điểm trang cho sắc.

Hữu trượng chi đỗ,

Hữu hoản kỳ thực(24).

Bắc phong kỳ giai,

Vũ tuyết kỳ phi(25).

Ngậm ngùi cho cảnh mới kỳ,

Xuân đi đã lại, người đi chửa về.

Bạch mao gian hề,

Bạch thư thúc hề.

Chi tử vân viễn,

Sử ngã độc hề(26).

Tưởng có khi lửa hương ai lỡ,

Đâu đến điệu phong hỏa cháy can tràng.

Kích cổ kỳ thang,

Dũng dược dụng binh(27).

Ai lên phố Lạng cùng anh,

Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.

Hoàng điểu vu phi,

Thượng hạ kỳ âm.

Đạo chi vân viễn,

Hạt vân năng lai(28).

Nghĩa áo chăn gối điểm ngợi nghì,

Lúc li biệt thì ai cũng thế.

Thái vi thái vi,

Vi diệc tác chỉ.

Viết quy viết quy,

Tuế diệc mộ chỉ.

Mỹ thất mỹ gia,

Hiểm doãn chi cố(29).

Tấm tình riêng xin chàng dành đó,

Đứng đất trời thì cho có công danh.

Lục tam hàm chương khả trinh,

Hoặc tòng vương sự vô thành hữu chung(30).

Biết ra khăng khít một lòng,

Làm sao cho thấu phu công như nguyền.

Nhất nguyệt tam tiệp(31),

Chốn bể sâu tăm đã đẹp,

Nước thanh bình thu dẹp lại như xưa.

Phấn vua đã tỏ mặt bây giờ,

Thắng kim mã ngọc đường về cố lý.

Cát phủ yến hỉ,

Ký đa thụ chỉ.

Lai quy vĩnh cửu,

Ẩm ngự chư hữu(32).

Đường thanh vân thênh thênh nhẹ bước,

Hội công danh mới thỏa xoa xoa.

Kỳ tân khổng gia,

Kỳ cựu như chi hà(33).

Đấng phong trần mà hứng lấy vinh hoa,

Cành trung hiếu đã ra người nam tử.

Duy dư dữ nhữ,

Thức yến thả ca(34).

Ư hoàng thiên tử,

Ư vạn tư niên(35).

Chú thích:

(1) Trích từ bài Quân tử vu dịch, Vương phong, Kinh Thi. Nguyên văn: “quân tử vu dịch, bất tri kỳ kỳ” (chàng đi quân dịch, không biết ngày trở về).

(2) Lấy ý từ bài thơ Tân hôn biệt, của Đỗ Phủ. Nguyên văn: “Phụ mẫu dưỡng ngã thì, nhật dạ lệnh ngã tàng, sinh nữ hữu sở quy, kê cẩu diệc đắc tương.” (nghĩa là: Khi cha mẹ nuôi ta, ngày đêm bảo ta lánh đi, nay con gái đã có nơi có chốn, chó gà cũng được đi theo).

(3) Đạo bàng: bên đường.

(4) Lấy tứ bài Nghĩ chức cẩm hồi văn thi, Đường, Hầu thị nữ. “Điều điều lộ viễn quan sơn cách, hận quân tái ngoại trường vi khách.” (Đường xa cách trở quan san; hận chàng làm khách ngoài quan lầu về).

(5) Lấy ý từ bài Bảo vũ, Kinh Thi. Nguyên văn: “du du thương thiên, hạt kỳ hữu cực” (có nghĩa là trời xanh xa vời ôi, lúc nào mới khiến ta dứt được hồi lao khổ ấy).

(6) Lấy ý từ bài Bá hề, Kinh Thi, nghĩa là: Từ khi anh đi sang đông, Đầu em tóc rối như hoa hồng bay. Há rằng em không có xoa đầu và gội tắm hay sao, vì vắng chàng, em trang sức làm duyên dáng cho ai.

(7) Trích từ bài Ẩn kỳ lôi, Thiệu nam, Kinh Thi, có nghĩa là: Chàng là người trung tín thuần hậu, về thay! Về thay! (em mong công việc sớm hoàn tất để chàng trở về)

(8) Trích từ bài Nhữ phần, Kinh Thi, có nghĩa là: thuận theo bờ đê sông Nhữ kia, em chặt nhánh và thân cây. Khi chưa gặp được chồng, thì lòng em xót xa như bị cơn đói nặng nề.

(9) Non cao nước chảy ai người tri âm. Lấy tích Bá Nha và Chung Tử Kỳ.

(10) Trích từ bài Dương chi thủy, Vương phong, Kinh Thi, có nghĩa là: dòng nước chảy lờ đờ, không cuốn trôi được bó củi. Nàng kia ơi, không cùng với ta đóng đồn trấn giữ nước Thân. Nhớ nhung thay! Nhớ nhung thay! Tháng nào ta mới trở về được vậy.

(11) Lấy ý từ bài thơ Khuê oán của Vương Xương Linh đời Đường. Nguyên văn: “Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu”.

(12) Nhớ chàng nhưng biết đến khi nào mới gặp được đây.

(13) Trích từ bài Quyển nhĩ, Chu Nam, Kinh Thi. Nguyên văn: “Thái thái quyển nhĩ, bất doanh khuynh khuông. Ta ngã hoài nhân, trí bỉ chu hàng” (Rau quyển hái lại hái, không đầy giỏ nghiêng. Ta nhớ người đi xa, bỏ quên cái giỏ ở bên con đường lớn kia).

(14) Trích từ bài Bá hề, Vệ phong, Kinh Thi. Nguyên văn: “Bá hề khiết hề, bang chi kiệt hề. Bá dã chấp thù, vi vương tiền khu” (Anh ơi, anh dũng mãnh quá! Anh là người tài năng trội hơn hết trong nước. Anh đang cầm cây côn, làm quân tiền khu xung phong cho nhà vua).

(15) Trích từ bài Ẩn kỳ lôi, Thiệu nam, Kinh Thi, có nghĩa là: Tiếng sấm ầm ầm, ở một bên núi nam. Sao chàng một mình rời khỏi chốn này, mà không dám được tí gì rảnh rang dừng nghỉ.

(16) Trích trong bài Xuất xa, Tiểu nhã, Kinh Thi, có nghĩa là: con châu chấu kêu yêu yêu, con cào cào nhảy nhảy. Khi chưa thấy được chồng, thì lòng buồn rũ rượi.

(17) Lúc đưa tiễn thật đáng sợ, một đêm không gặp chàng lòng như đứt từng khúc.

(18) Đứt từng khúc ruột, đường xa ngàn dặm.

(19) Lấy ý từ bài Sàm sàm chi thạch, Tiểu nhã, Kinh Thi. Nguyên văn: “sàm sàm chi thạch, duy kỳ cao hỹ. Sơn xuyên du viễn, duy kỳ lao hỹ. Vũ nhân đông chinh, bất hoàng triêu hĩ” (Núi đá vòi vọi, chỉ thấy cao nhọn lên. Núi sông xa xôi, chỉ phải lao khổ mà thôi. Chàng đi chinh phạt phương đông, chỉ biết thâm nhập vào, mà không rảnh rang lo thoát ra khỏi).

(20) Trích trong bài Bách chu, Bội phong, Kinh Thi, có nghĩa là: Mặt trời, mặt trăng, luân phiên nhau mờ khuyết. Lòng ưu sầu, như mặc cái áo dơ không giặt. Lúc thanh tịnh trong ban đêm tưởng nhớ lại, thì hận lòng không thể phấn chấn lên mà bay thoát đi nơi khác.

(21) Trích trong bài Khải phong, Bội phong, Kinh Thi, có nghĩa là Chim hoàng ly hót trong trẻo hòa dịu và uyển chuyển, còn lảnh lót tiếng hót (để đẹp tai người). Ngọn gió nam doanh dưỡng vạn vật, thổi đến bụi gai đã lớn (chặt làm củi được).

(22) Trích từ bài Kiêm gia, Tần phong, Kinh Thi, có nghĩa là: lau lách rườm rà xanh tốt, móc trắng chưa khô. Ý nói khó đến đích được.

(23) Lấy ý từ bài Hà thảo bất huyền, Tiểu nhã, Kinh Thi. Nguyên văn: “Hà thảo bất huyền, hà nhật bất hành. Hà nhân bất tương, kinh doanh tứ phương” (Cây cỏ nào mà không vàng úa ? Ngày nào mà chẳng đi chinh chiến. Có người nào không trở về ? Người nào mà chẳng ra đi, để kinh doanh làm ăn ở bốn phương).

(24) Trích trong bài Đệ đỗ, Tiểu nhã, Kinh Thi, có nghĩa là: Có cây đỗ mọc lẻ loi một mình, đã đơm kết trái.

(25) Trích trong bài Bắc phong, Bội phong, Kinh Thi, có nghĩa là: Tiếng gió bấc rít mau gấp, mưa tuyết tơi bời. Chỉ những khó khăn, khắc nghiệt của thời tiết.

(26) Lấy ý trong bài Bạch hoa, Tiểu nhã, Kinh Thi. Nguyên văn: “Bạch hoa gian hề, bạch mao thúc hề. Chi tử chi viễn, Tý ngã độc hề” (Cỏ lau đã ngâm nước xong, lấy cỏ tranh mà buộc lại. Nhà vua xa lánh ta, khiến ta cô đơn). Ý nói cỏ lau đã ngâm nước xong, thì lấy cỏ tranh mà bó lại, cỏ lau và cỏ tranh là hai vật nhỏ mọn còn phải nhờ lẫn nhau để làm chổi, vợ chồng cũng phải nương tựa lẫn nhau.

(27) Trích trong bài Kích cổ, Bội phong, Kinh Thi, có nghĩa là: Đánh trống nghe thùng thùng, phấn khởi đứng lên mà cầm binh khí.

(28) Trích trong bài Hùng trĩ, Bội phong, Kinh Thi, có nghĩa là: Chim hoàng điểu bay, đã bổng trầm tiếng hót. Đường đi nói là xa tít, làm sao ta có thể đi đến được.

(29) Trích trong bài Thái vi, Tiểu nhã, Kinh Thi, có nghĩa là: Hái rau vi, hái rau vi, Rau vi cũng đã mọc lên rồi. Nói trở về, nói trở về, thì năm đã muộn sắp dứt. Không nhà không cửa, vì cớ quân rợ địch (hay sang xâm lăng). Đây là bài thơ kể về người lính đóng quân giữ biên giới, đi hái rau vi để ăn mà nhớ ngày trở về quá xa xăm. Người lính sở dĩ phải bỏ gia đình vì cớ quân địch phương Bắc đến xâm lăng.

(30) Câu này trích từ quẻ Khôn, Kinh Dịch, có nghĩa là: được hào lục tam thì mọi sự sẽ rất tốt lành, nếu như làm việc vua thì không việc gì không hoàn tất.

(31) Lấy từ bài Thái vi, Tiểu nhã, Kinh Thi, có nghĩa là: mong rằng trong một tháng phải ba lần thắng trận. Ý chỉ tâm nguyện của người lính thú, mau chóng thắng giặc để trở về.

(32) Lấy ý từ bài Lục nguyệt, Tiểu nhã, Kinh Thi, có nghĩa là: Đại tướng Cát Phủ hân hoan yến ẩm vui vẻ, đã nhận được nhiều phúc lộc. Ta đi lâu ngày (mà trở về đây), cho nên ta thết đãi các bạn bè.

(33) Trích từ bài Đông sơn, Bân phong, Kinh Thi, có nghĩa là: Những quân sĩ trở về mới lập gia đình thì rất vui thích, còn những quân sĩ trước đã có gia đình rồi, nay vợ chồng cũ gặp nhau thì vui thích biết nhường nào.

(34) Tạm dịch là: chỉ có ta với chàng, hãy yến ẩm và cùng ca hát.

(35) Tạm dịch là: cầu chúc cho hoàng thiên tử, thọ khảo ngàn vạn năm.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.302-313)

Trần Thị Giáng Hoa
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm