VI | EN
29. Về bài KHÁN SƠN ÐÌNH KÝ của tác giả Lê Hữu Thanh (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

VỀ BÀI KHÁN SƠN ĐÌNH KÝ CỦA TÁC GIẢ LÊ HỮU THANH

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

TÁC GIẢ

Lê Hữu Thanh (1815 - ?) hiệu Tĩnh Trai và Tầm Giang, người xã Thượng Tầm, huyện Thanh Quan, tỉnh Nam Định (nay thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), sinh năm Ất Hợi 1815 (niên hiệu Gia Long 14) mất năm nào không rõ. Ông dự thi Hương khoa Canh Tuất niên hiệu Tự Đức 3 (1850) tại trường Nam Định, đậu Hoàng giáp khoa Tân Hợi Tự Đức 4 (1851) năm ông 37 tuổi. Là một Văn thần thời Tự Đức, Lê Hữu Thanh nổi tiếng với tài Văn học và chính trị, là người có tính cách khẳng khái và liêm khiết. Sau khi thi đỗ Cử nhân, ông được Tổng đốc Hoàng Diệu tiến cử, Tự Đức rất trọng vọng, giao giữ các chức Tuần phủ Ninh Bình, Tri phủ Thọ Xương, Bố chính sứ Hà Nội. Khi làm Tri huyện Thọ Xương Lê Hữu Thanh xử đoán rất công minh, nhân nhân rất kính phục, gọi ông là Quan huyện Thọ(1).

Nói đến Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh là nhắc đến người có công lớn trong việc bảo tồn các di tích lịch sử Văn hóa ở Hà Nội. Sau khi đến nhậm chức tại đất cố đô, thấy cảnh tượng nhiều di tích hoang phế, ông đã bàn với các quan đầu tỉnh Hà Nội lúc đó là Tổng đốc Tôn Thất Hàn và Án sát sứ Đặng Tá cùng quyên góp tiền trùng tu nhiều di tích trong đó có Văn miếu Quốc tử giám, ông cho làm lại nhà bia và cho dựng lại các tấm bia đổ, khắc lại những chỗ bị mờ mòn(2). Lê Hữu Thanh còn khuyên mọi người bỏ tiền nạo vét, sửa sang, xây dựng đình Văn hồ tạo cảnh quan đẹp cho di tích Văn miếu – Quốc tử giám(3). Ông và các quan Chế đài cùng nhau góp tiền xây dựng đình Khán Sơn. Công việc hoàn thành ông có bài ký ghi lại sự việc. Chúng tôi xin được giới thiệu nguyên Văn phần phiên âm và dịch nghĩa bài ký này:

西 , ,囂 ,歸謀 ; ,屋。亭 , 白雲 ,樹,

, 西西,聚,蔓 ; 許,外,憂。士業。當辰,內調 ,

。浹 , 織。西西茫,蓮宮月 , 外,!非

使

Khán Sơn đình thi văn tập VHv.2824

Phiên âm:

KHÁN SƠN ĐÌNH KÝ

Quý Hợi xuân tam nguyệt công hạ đắc khán sơn ư thành nội chi tây. Ngung cao dữ kỳ đài, bình nhi tiêu, hiêu nhi tịch, dư đê hồi bất năng khứ. Quy mưu chư Chế đài các xuất gia tài kiến đình vu sơn chi đỉnh. Tường dĩ chuyên, ốc dĩ ngoã. Đình thành, Chế đài dữ chúng tân phát yên tửu chước bạch vân, cầm đàn bích thụ, thành trung nhi hữu lâm tuyền chi thú, kim thủy đắc chi dị tai !

Tỉnh hạt tần niên thuỷ lạo, binh khuyết ngũ, dân nan thực. Khứ niên, tây bắc tặc khởi Nhĩ hà chi tả, Hát giang chi tây, phong đồn nghị tụ, mạn quá Từ Liêm giả tam đạo; khứ tỉnh thành sàm sổ lý hứa, phụ thành ngoại, sổ vạn sinh linh ngập ngập hồ, hữu phong đích chi ưu, sĩ nông công thương giai bất năng an kỳ nghiệp. Đương kỳ thời nội điều hầu, ngoại giới nhung mã, tuy dục ưu du sơn thủy khả hồ.

Thánh đức phương long, nhân tâm khả đắc. Giáp tuần chi gian, sơn hà như cố. Nãi kim thủy hữu sơn đình, thuỷ hữu sơn đình chi du. Nam vọng Văn miếu, cổ mộc thương uất, khái tưởng thiên dư niên lễ lạc chi phong. Bắc vọng Ái Mộ chi tân, tặc lũy san vi bình lộ, canh phu mục đồng Văng lai như chức. Tây vọng Tây Hồ, thiên thuỷ thương mang, liên cung nguyệt đài, di tích vô phục tồn giả. Duy cố Lê tiết nghĩa từ đình, đình nhiên. Đông vọng Ổ môn Nhĩ hà chi ngoại, ốc vũ lân thứ, chu xa bức tấu, hi hi hữu sinh dân chi lạc, tráng tai! Phi triều đình chi uy đức, hà dĩ cập thử. Tư sơn tư đình cái diệc hội phùng kỳ thích giả hĩ. Nhân danh kỳ đình viết: Khán Sơn đình.

Tự Đức thập lục niên tứ nguyệt nhị thập nhất nhật

Lãnh Hà Nội Bố chính sứ đệ nhị giáp Tiến sĩ Lê Hữu Thanh soạn

Hà Ninh Tổng đốc tam giáp Tiến sĩ Hoàng Thu duyệt chính.

Dịch nghĩa:

BÀI KÝ ĐÌNH KHÁN SƠN

Tháng Ba mùa Xuân năm Quý Hợi, nhân lúc việc công rảnh rỗi tôi đi thăm núi ở phía Tây thành nội. Gò cao bằng đài cờ, bằng phẳng mà dựng cao, ồn ào mà tĩnh lặng, tôi bồi hồi không thể bỏ đi được.

Trở về, tôi bàn tính với các vị quan Chế đài, mọi người xuất gia tài ra để xây đình trên đỉnh núi; tường xây bằng gạch, nhà lợp mái ngói. Đình xây xong, các vị Chế đài cùng tân khách nhận thấy (nơi đây) có thể ngồi uống rượu dưới mây trắng, đánh đàn trong rừng xanh, giữa chốn thành thị mà có thú vui lâm tuyền, thế mà nay mới phát hiện ra thì lạ thật!

Các tỉnh hạt nhiều năm bị lũ lụt, lính thiếu quân số, dân lành đói ăn. Năm trước giặc Tây Bắc dấy lên ở bờ tả sông Hồng, phía tây sông Hát, đồn giặc đông như o­ng như kiến, chúng tràn qua đến Từ Liêm từ ba đường; cách tỉnh thành chỉ vài dặm, gần với ngoại thành, vài vạn sinh linh sống trong cảnh lo sợ, sĩ nông công thương đều không thể yên tâm với nghề. Vào thời đó trong thì điều lương thực, ngoài thì cắt bỏ binh khí ngựa xe, tuy (tôi) muốn vui thú vui sông núi, há được sao !

Thánh đức vừa thịnh vượng, lòng dân đã có thể cậy trông. Trong khoảng đầy tuần, núi sông như cũ. Nay mới có đình trên núi, mới dạo chơi trên núi. Phía Nam trông ra Văn miếu, cây cổ thụ xanh tốt, lòng xúc động nghĩ đến phong tục lễ nhạc của hơn nghìn năm trước. Phía Bắc trông ra bờ Ái Mộ, luỹ thành của giặc (nay đã) san thành đường bằng, canh phu mục đồng qua lại như mắc cửi. Phía Tây trông ra Tây Hồ, trời nước mênh mông, cung sen đài nguyệt, di tích đổ nát, còn lại chỉ có đền thờ các vị tiết nghĩa thời Lê, đình sừng sững ở đó. Phía Đông trông ra ngoài Ổ môn sông Hồng, nhà cửa san sát, thuyền xe tấp nập, dân sinh an lạc trong cảnh thái bình thịnh trị, lớn lao thay! Nếu không có uy đức của triều đình thì sao được như vậy. Núi đấy đình đấy há chẳng phải là nơi [tao nhân mặc khách] hội ngộ, gặp gỡ đó sao. Vì thế đặt tên cho đình đó là đình Khán Sơn.

Ngày 21 tháng 4 năm Tự Đức thứ 16 (1863)

Bố chánh sứ Hà Nội, Đệ nhị giáp Tiến sĩ Lê Hữu Thanh soạn

Tổng đốc Hà Ninh, Đệ tam giáp Tiến sĩ Hoàng Thu đọc sửa.

Bài ký trên đã đề cập đến vị trí địa danh Khán Sơn. Vị trí của Khán Sơn đã được nhiều sử sách ghi chép:

Theo Hoàng Việt địa dư chí (A.1074. Q1, tr.19a) và Lịch triều tạp kỷ (A.15/1) Khán Sơn là tên ngọn núi phía Tây bắc hoàng thành Thăng Long thời Lê. Khoảng niên hiệu Quang Thuận (1460- 1469), Hồng Đức (1470- 1479) vua Lê Thánh Tông thường lên núi này xem tuyển duyệt võ nghệ, do đó đặt tên núi là Khán Sơn. Sau khi vua Lê Thánh Tông mất, đài duyệt võ trở thành nơi thờ vua, sau sửa làm chùa, đặt tên là Khán Sơn tự. Vua Lê Gia Tông sai quan trùng tu, đắp tượng Lê Thánh Tông đặt vào thờ trong chùa.

Tháng 10 năm Cảnh Hưng 43 (tháng 11 năm 1782), một số quân sĩ tụ họp bí mật ở chùa Khán Sơn, bàn việc phế bỏ Trịnh Cán, phò lập Trịnh Tông làm chúa. Trong các vụ lộn xộn do kiêu binh gây ra tiếp đó, chùa bị hư hại, vị trụ trì chùa dời tượng vua Lê Thánh Tông về thờ ở chùa Dục Khánh (ngõ Huy Văn, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội). Kể từ đó, chùa bị bỏ hoang, đổ nát, nay chỉ còn phế tích(4).

Theo Thăng Long cổ tích khảo A.1820, tr 18a ghi:

:

(Khán sơn thổ sơn tại thành nội hoàng cung chi bắc. Cổ hữu phật tự nhất tòa tại thổ sơn thượng. Tự hữu nhất khánh, phủ chi kỳ thanh như chung. Vi Lê Thánh tôn du hạnh chi sở). Khán Sơn là tên ngọn núi đất ở phía bắc Hoàng cung Thành nội. Thời xưa có ngôi chùa thờ Phật, trong chùa có một chiếc khánh, gõ vào tiếng của nó như tiếng chuông. Là nơi vua Lê Thánh Tôn từng ngự chơi.

Theo Hà Nội Sơn xuyên phong vực A.541, tr 13b:

: 西 ,

(Khán Sơn: tại thành tây bắc, Sơn thượng hữu phật tự. Lê thống Hoàng đế hạnh thử Sơn quan võ cử, cố danh. Dương Đức gian tập tự, thượng phụng tố Thuần hoàng đế tượng tự chi. Cập Cảnh Hưng Kỷ Dậu(5) loạn, tăng nhân dữ tượng an vu thành ngoại Dục Khánh tự phụng yên). Khán Sơn: ở phía Tây bắc thành, trên núi có chùa thờ Phật. Lê Thống hoàng đế (Lê Thánh Tông) thường đến núi này xem võ nghệ, do đó đặt tên [là Khán Sơn]. Khoảng niên hiệu Dương Đức (1672- 1673) sửa chùa, đắp tượng vua Lê Thánh Tông, đặt thờ ở đó. Đến năm Kỷ Dậu niên hiệu Cảnh Hưng có loạn Tây Sơn, tăng nhân chuyển tượng về chùa Dục Khánh ở ngoại thành, phụng thờ tại đó.

Theo Hà Nội địa dý, A.1154, tr.16a:

西,皆也。奉縣。在 , , ,修,西寺,僧 .

(Thành chi tây thổ sơn tầng tầng tủng khởi, hữu danh Sư sơn, Tam sơn, Khán sơn, Nùng sơn giả, giai kỳ chi tiết dã. Phụng hòa cung, kim thuộc Vĩnh Thuận huyện. Tại sơn đôi tối cao xứ, tương truyền Lê triều sở kiến, hạ hữu nhất đái thủy hiệu Ngọc Hà, tự cung chỉ đặt vu thành chi Tam sơn (thế truyền Thuần Hoàng đế thường tức thử quan võ cử giảo nghệ, sơn thượng hữu tự. Hồng Đức gian trùng tu mệnh đồ Thuần Hoàng đế tượng, tự chi. Lê mạt Tây binh hoại kỳ tự, tăng nhân phụng kỳ tượng vu Dục Khánh tự, tự chi). Phía tây thành có núi đất cao vút, có tên là Sư sơn, Tam sơn, Khán sơn, Nùng sơn, đều chỉ các núi đó; trước thuộc cung Phụng Hòa nay thuộc huyện Vĩnh Thuận. Nơi cao nhất của núi tương truyền triều Lê có xây dựng (chùa) ở đó, phía dưới có dòng sông tên là Ngọc Hà, chảy từ nền móng của cung đến núi Tam sơn trong thành. Tương truyền Thuần Hoàng đế thường tới đó xem thi đấu võ nghệ, trên núi có chùa. Khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) trùng tu lại chùa, đắp tượng Thuần Hoàng đế thờ ở đó. Cuối đời Lê loạn Tây binh, phá hủy chùa, trụ trì chùa đem tượng Hoàng đế về chùa Dục Khánh thờ ở đó.

Nguyễn Văn Tân, tác giả cuốn Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội 1998 (tr.595) cho rằng: hiện nay có hai ý kiến khác nhau: Khán Sơn thuộc đất trại Đại Yên, nơi có chùa Khán Sơn xuất hiện trong bản đồ Thăng Long đời Hồng Đức và Khán Sơn trong thành Hà Nội thời Nguyễn, bị san bằng cuối thế kỉ XIX. Vị trí núi ở phía Bắc quảng trường Ba Đình, đối diện với ngôi nhà số 5 đường Hùng Vương.

Doãn Kế Thiện trong cuốn Cổ tích và danh thắng Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 2004, tr.32 ghi: “… Khu hoàng thành bên ngoài, về phía Đông, đằng trước có Thái miếu, thờ các tổ tiên nhà vua; đằng sau có Đông Cung, là nơi cho Hoàng thái tử ra nghe các quan sư phó giảng học; về phía Đông có Khán Sơn (tức quả núi đất trong vườn Bách thảo ngày nay); quá Khán Sơn có trường Giảng Võ, quá phía Tây nữa là điện Linh Quang (đền Voi phục) và trường thi Hội”.

Tìm lại dấu vết thành Thăng Long trang 78- 79 tác giả Phạm Hân cho biết: giới hạn phía Tây của cấm thành còn được chứng minh bằng núi Khán Sơn. Khán Sơn là một quả đồi nằm trong thành Hà Nội lệch về góc Tây bắc. Nhưng đối với thành Thăng Long thì Khán Sơn lại nằm phía ngoài góc Tây bắc thành. Tất cả các bản đồ kinh thành Thăng Long mà ta có đều vẽ núi Khán Sơn nằm ở bên ngoài góc Tây Bắc thành Thăng Long. Các sử gia đời Nguyễn đều chép Lê Thánh thông thường ngự trên núi này duyệt võ nghệ. Là nơi duyệt võ nghệ, duyệt quân sĩ thì không thể nằm trong cấm thành. Sách Thượng kinh phong vật chí nói rõ Khán Sơn “nằm ở góc Tây bắc thượng kinh tức thành Thăng Long (trên bản đồ quân đội Pháp vẽ cuối thế kỷ XIX ( A1.4 Viện Triết) quả đồi xưa có tên là Khán Sơn cao chừng 15m, chu vi chừng 170m, vào chỗ cách cửa Tây thành Hà Nội độ 160m về phía Bắc Đông bắc, nay là bãi cỏ phía Bắc quảng trường Ba Đình. Đó chính là giới hạn tối đa về phía Tây của cấm thành.

Trong các thư tịch cổ khảo về Hà Nội, di tích trên núi Khán vào thời Lê được gắn liền với ngôi chùa thờ Phật và thờ Lê Thánh Tông hoàng đế. Trong bài viết này chúng tôi xin cung cấp thêm tư liệu về một ngôi đình trên núi Khán thuộc đời Nguyễn. Âu cũng là một tư liệu để bạn đọc tham khảo.

Chú thích:

(1) Nguyễn Quang Thắng: Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.342

(2) Xin xem Nguyễn Thúy Nga: Về việc khắc lại 12 bia Tiến sĩ ở Văn miếu- Hà Nội, Tạp chí Hán Nôm số 2/ 2002.

(3) Xin xem: Văn hồ đình bi ký, No 11863- 64.

(4) Ngô Đức Thọ: Di tích lịch sử Văn hóa Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1991, tr.359.

(5) Năm Kỷ Dậu không thuộc niên hiệu Cảnh Hưng mà thuộc niên hiệu Cảnh Lịch 2 tức năm 1549.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr. 253-261)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm