VI | EN
29.Về bài văn mục lục của một làng quê thuộc tỉnh Thanh Hóa (TBHNH 2003)
TBHNH2003

VỀ BÀI VĂN MỤC LỤC CỦA MỘT LÀNG QUÊ

THUỘC TỈNH THANH HÓA

TRẦN THỊ GIÁNG HOA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Văn mục lục là một thể loại văn học dùng để tán dương công đức thành hoàng làng trong dịp dân làng mở hội và để ca ngợi phong cảnh, dân tục địa phương. Mục lục là loại văn biền ngẫu viết theo thể phú, có vần, có đối, có theo luật bằng trắc. Đây là lối phú thông dụng, tuân theo quy luật nhất định, bao giờ hai câu cũng đối nhau, vần được gieo ở cuối vế dưới, và trong một bài có thể gieo một hoặc nhiều vần. Bố cục một bài phú rất mạch lạc, các đoạn kết nối với nhau chặt chẽ. Nó gồm phần lung (phần mở bài), biện nguyên (nói rõ nguồn gốc đầu bài), thích thực (giải thích rõ đầu bài), phu diễn (bày tỏ rộng ý đầu bài), nghị luận (bàn bạc về ý nghĩa đầu bài), kết (thắt lại ý đầu bài).

Thể văn mục lục thường được viết bằng chữ Nôm, một thứ văn tự rất gần gũi với người dân Việt Nam. Tuy nhiên vẫn có những bài viết bằng chữ Hán, như bài Nguyệt Viên xã mục lục văn, trong sách Khoán văn bi văn tế văn tạp biên (hiệu VNv 256, kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm), bài Giai Phạm xã mục lục văn tương truyền do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sáng tác. Thể văn này có đặc điểm chung là dùng nhiều điển cố trong văn học cổ, văn chương hàm súc, ý tứ sâu xa, lời lẽ bình dị nên dùng tiếng mẹ đẻ có khả năng biểu đạt tâm tư, tình cảm cao hơn so với việc sử dụng chữ Hán.

Bài văn mục lục của xã Thiết Cương được viết bằng chữ Nôm chép trong sách Khoán văn, bi văn, tế văn tạp biên kí hiệu VNv. 256 thuộc kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Về hình thức, bài văn Nôm này tuân thủ khá nghiêm túc quy luật của một bài phú. Toàn bài chỉ dùng duy nhất có một vận là hạ, cả, lạ v.v…, có thể sắp xếp vào loại phú văn độc vận. Tất cả gồm 66 câu với 33 cặp, toàn dùng vần hạ. Sách không ghi rõ tên tác giả và niên đại biên soạn, song căn cứ vào chữ Nôm và các từ ngữ sử dụng trong bài, chúng tôi đoán định bài này được biên soạn khoảng thời Lê Trung Hưng. Nội dung chứa đựng rất nhiều thông tin về một làng quê nhỏ thuộc tỉnh Thanh Hoa. Thiết Cương trước đây thuộc tổng Đô Xá, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa. ở vào vị trí trung tâm của phủ Tĩnh Gia, địa thế thuận lợi, được trời đất chung đúc nên những anh tài, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu. Ngoài nghề nông là chủ yếu, người dân nơi đây còn có đủ cả sĩ, công, thương. Vì lẽ đó mà mảnh đất này như một trung tâm thu nhỏ, giàu truyền thống văn hóa, họ không chỉ sung túc, dư thừa vật chất mà nhân nghĩa, lễ tục cũng rất phồn hậu.

Bài văn mục lục Nôm, Thiết Cương xã mục lục văn còn lưu giữ khá nhiều âm Việt cổ. Từ đây chúng ta có thể tìm ra được những bằng chứng xác đáng cho lịch sử ngữ âm tiếng Việt.

Để có thể hiểu thêm về thể loại văn mục lục và đời sống văn hóa của một làng quê vùng trung du Thanh Hóa, trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm năm 2003 này, chúng tôi xin phiên âm, chú thích và giới thiệu toàn văn bài Thiết Cương xã mục lục văn. Trong quá trình làm việc tuy đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự gợi ý, chỉ bảo của những nhà nghiên cứu và của toàn thể hội nghị.

THIẾT CƯƠNG XÃ MỤC LỤC VĂN

Thời vừa đời gặp trị bình vận mở, thùy củng(1) nghiêm thánh ngự cửu trùng(2);

Nước mừng vũ thuận phong điều(3), âu ca(4) khắp dân hòa(5) thiên hạ.

Tiệc vũ hoàng mở rộng vang vang;

Bảng văn ước treo rỡ rỡ(6).

Đám(7) ta nay:

Phủ Tĩnh(8) danh thơm;

Cảnh nông tiếng cả.

Cảnh hữu tình thu một cuộc màu(9);

Bầu thế giới đúc mười phân lạ.

Phương trên có lâu đài tích cũ, điềm(10) trình bạch hổ(11) hướng đoài;

Bề dưới theo khoa mục ngôi cao, phù(12) ứng thanh long(13)tả.

Huyền Vũ(14) sau Giang thủy(15) nhiễu oanh(16);

Chu Tước(17) trước Nưa sơn(18) chấn trợ.

Chợ xuân mãi mãi sum vầy;

Làng tử(19) dập dìu quán .

Đời đời khí cấu anh linh(20);

Dẫy dẫy lúa theo tài lạ.

Nhân nghĩa nho đao bút hẹp, ngôi khanh tướng nghiệp gồm Y Chu(21),

Công phụ khí kinh luân tài, trọng tước(22) quyền cao hơn Đặng Giả(23).

Vũ nhiều tài đột pháo xung tên;

Văn những đấng bắn dương xuyên (24).

Trai hăm hở biều cao(25) khoa mục, đài gác chen chồng chập(26) cân đai;

Gái chân chuyên(27) việc cả tảo tần(28), cung cấm rợp ỷ la võng dạ(29).

Quan hai đường mừng được sang yêu(30);

Dân tứ nghiệp(31) mới càng thong thả.

Sĩ thời luyện công đèn sách, chí khí lăm(32) đích Đổng đích Khuông(33);

Người thời gặp hội phong mây, phú quý gồm họ Đào họ Tạ(34).

Đường sĩ tử một bước một cao;

Việc nông giá mỗi người mỗi thỏa.

Chiêm mùa phải thuở, cày cấy đua đọi Vũ(35) lao xao;

Đồn sạn(36) quải hàng(37), cũ mới để lúa văn chan chứa.

Nông đã nên nối nghiệp phú ân(38);

Công lại biết mọi tài thủ xả(39).

Tay cầm mực gảy, quyết lương tạc vững chống nhà vàng(40);

Gác vẽ tượng hình(41), công danh để chẳng mòn bia đá.

Thương thì đủng đỉnh giữa chiền(42);

Sẵn có thừa lưa(43) tài hóa.

Giàu sang lừng lẫy nghiệp toại sinh, dõi dõi lòng vui;

Khăn áo sum vầy lệ cầu phúc, hây hây tiệc mở.

Thờ thần linh lễ lấy kính thành;

Phép hương đảng ngôi bày thượng hạ.

Già già trẻ trẻ, trà mai rượu cúc khuyên mời;

Chú chú anh anh, tai thánh mặt hiền hòa nhã.

Dân tục đào nhân nhượng sum vầy;

Ty quan phủ xướng ca rân .

Trước vào an thần cổ vũ, thôi cử cổ(44) ba hồi;

Sau chúc thánh sớ(45) ngâm, mừng hoàng triều cao ngự.

Đào(46) phen múa ả tố diệu sơ(47);

Kép dẫn truyện chàng Sô lăng giá(48).

Nay dầu có kỷ trường cách vật(49), lành nết lành nghề;

Quan khảo đình giáp bảng tên bày(50), phê càng phê khá.

Vầy mừng làng ký thọ thả khang(51);

Chúc khong(52) nước an bích xí hỏa(53).

Nhạc há rằng chung cổ(54), nhẽ đã răn thị xướng(55) làm nơi;

Lễ đâu dám huyên hoa(56), lời lại dặn bàng quan(57) mọi cả.

Người chưa từng anh hiển anh triều(58);

Người mựa cải nuôi hai nuôi (59).

Đến đây đứng ngồi có chốn, chẳng khá hâm nga(60);

Giữ trong lễ nghĩa làm nơi, mựa hề(61) lạn đá(62).

Chí hãy lăm bền phượng bền long(63);

Nết đừng lấy thăm nhàn thăm .

Mặc nghiêm tịch(64) chủ khách ngõ(65) hiền;

Mặc bui đám tàng yêm(66) canh hạ(67).

Lành thay:

Mừng đời bình trị, vầy một đoàn dãy dãy y quan(68);

Cùng hưởng thọ khang, dõi năm phúc đời đời thịnh sự.

Bằng kim thang(69) vang cõi ái châu;

So Thiết Cương trong đời mấy .

Nay ước.

Chú thích:

(1) Thùy củng: buông rủ tay áo. Kinh Dịch có chép: "Hoàng đế Nghiêu Thuấn thùy y thường nhi thiên hạ trị" (nghĩa là Hoàng đế Nghiêu Thuấn rủ áo xiêm mà thiên hạ thịnh trị). ở đây ý chỉ người làm vua trị dân hợp theo đạo trời thì thiên hạ sẽ được thái bình.

(2) Cửu trùng: Người xưa cho rằng trời có chín tầng, các tầng thấp là nơi ở của trăng sao, còn tầng chín cao nhất, yên tĩnh nhất là nơi ở của thượng đế. Sau, từ này được dùng chỉ nơi ở của nhà vua, chỉ ngôi vua.

(3) Vũ thuận phong điều: mưa thuận gió hòa.

(4) Âu ca: hát ca, ca tụng, ca ngợi.

(5) Hòa: từ cổ có ý nghĩa tương đương với từ và.

(6) Câu này có sáu chữ, có lẽ bị viết thiếu mất một chữ, vì phải bảy chữ mới đối được với vế trên.

(7) Đám: hội, nơi đông người.

(8) Phủ Tĩnh: phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

(9) Màu: từ cổ nghĩa là màu nhiệm, tốt lành.

(10) Điềm: những sự vật hiện tượng xảy ra mang tính dự báo.

(11) Bạch hổ: Tên một chòm sao ở về phương Tây, có bảy ngôi, gồm: sao Khuê, sao Lâu, sao Vị, sao Ngang, sao Tất, sao Chủy và sao Tham. Sách Thập tam kinh chú sớ có viết: "tiền Nam hậu Bắc tả đông hữu tây; Chu tước, Huyền vũ, Thanh long, Bạch hổ" (có nghĩa là: Hướng Nam ở phía trước, hướng Bắc ở phía sau, hướng Đông ở bên trái, hướng Tây ở bên phải; ứng với Chu tước, Huyền vũ, Thanh Long, Bạch Hổ). Về sau dùng từ này để chỉ phương Tây.

(12) Phù: dấu hiệu, nghĩa giống như điềm.

(13) Thanh Long: tên chòm sao ở về phương Đông, sau được dùng với nghĩa chỉ phương Đông.

(14) Huyền Vũ: tên chòm sao ở về phương Bắc, sau được dùng để chỉ phương Bắc.

(15) Giang thủy: tên sông Mã Giang ở Thanh Hóa.

(16) Nhiễu oanh: quanh co, uốn lượn.

(17) Chu tước: tên chòm sao ở về phương Nam, sau được dùng để chỉ phương Nam.

(18) Nưa sơn: tức Na sơn, tên một ngọn núi ở tỉnh Thanh Hóa.

(19) Làng tử: làng xóm, quê hương.

(20) Khí cấu anh linh: khí thiêng của đất trời chung đúc nên những điều tinh túy.

(21) Y Chu: tức Y Doãn và Chu Công. Y Doãn là một công thần đời nhà Thương từng giúp vua Thang dựng nên cơ nghiệp nhà Thương.

Chu Công tức Chu Công Đán, em của vua Văn Vương và là chú của vua Thành Vương nhà Chu. Thành Vương lúc lên ngôi còn nhỏ, Chu Công nhiếp chính. Ông rất trung thành với vua, được sử sách thời phong kiến ca ngợi.

(22) Nguyên bản chép là trọng tước nhưng ở đây phải là tước trọng mới hợp với ý sau là quyền cao.

(23) Đặng Giả: Đặng tức Đặng Vũ, người đời Đông Hán, tự Trọng Hoa, ông là người thâm trầm, đại độ, từng giúp vua Quang Vũ dựng nghiệp. Quang Vũ lên ngôi phong cho ông làm Đại tư đồ, tên đứng đầu 28 tướng ở Vân Đài.

Giả tức Giả Nghị, người đời Hán, từ nhỏ đã thông kinh sử. Hán Văn đế vời làm Bác sĩ, Thái trung đại phu. Ông nhiều lần dâng sớ điều trần chính sự, chấn hưng lễ nghĩa.

(24) Bắn dương xuyên lá: Theo Sử ký, Dưỡng Do Cơ người nước Sở (đời Xuân Thu) bắn rất giỏi, đứng xa trăm bước mà bắn vào lá cây dương liễu lá rất nhỏ nhưng trăm phát trúng cả trăm. ở đây ngoài ý chỉ tài bắn trúng, mà nghĩa rộng còn chỉ sự thi cử đỗ đạt.

(25) Biều cao: mức độ cao.

(26) Chồng chập: chất đống, ý chỉ nhiều lần.

(27) Chân chuyên: chuyên nhất, đoan trang.

(28) Tảo tần: tên hai loại rau mọc ở dưới nước. Bài Thái tần trong Kinh Thi có câu: Vu dĩ thái tần, Nam giản vu chi tân. Vu dĩ thái tảo, Vu bỉ hàng lạo (có nghĩa: Đi hái rau tần, bên bờ suối phía Nam. Đi hái rau tảo, bên lạch nước kia). Theo các lời chú thích truyền thống, câu thơ trên ca ngợi người vợ hiền dâu thảo, chăm hái rau tảo rau tần. Mở rộng ra, nó chỉ đức tính đảm đang việc nhà của người phụ nữ.

(29) ỷ la võng dạ: gấm vóc lụa là.

(30) Sang yêu: ý chỉ sự giàu sang và được nhà vua trọng dụng.

(31) Tứ nghiệp: chỉ bốn nghề trong xã hội phong kiến trước đây gồm: sĩ (những người theo học rồi ra làm quan), nông (người làm nông), công (người làm nghề thủ công), thương (người buôn bán).

(32) Lăm: nhằm vào, toan tính làm chuyện gì đó.

(33) Đổng - Khuông: Đổng tức Đổng Trọng Thư, người đời Hán, từ nhỏ đã chăm học, nghiên cứu kinh Xuân thu. Thời Hán Vũ đế thi Hiền lương được phong làm Giang Đô tướng, rồi làm Giao Tây vương tướng, sau cáo bệnh về hưu. Ông là bậc đại nho đời Hán.

Khuông tức Khuông Hành đời Hán, tự Trĩ Khuê, thuở nhỏ nhà nghèo, từng làm thuê. Ông giỏi Kinh Thi. Thời Hán Nguyên đế trải thăng đến Thừa tướng, sau vì có chuyện bị bãi quan.

(34) Đào - Tạ: là hai dòng họ lớn dưới triều đại nhà Tấn, có nhiều công lao với đất nước.

(35) Đọi Vũ: cánh đồng của vua Đại Vũ nhà Hạ, ở đây ý chỉ cánh đồng khi được mùa.

(36) Đồn sạn: kho chứa hàng hóa.

(37) Quải hàng: hàng hóa được bày la liệt.

(38) Phú ân: chỉ sự giàu có sung túc.

(39) Thủ xả: thủ là tiến, nắm bắt; xả là dừng. ở đây có nghĩa là thủ đoạn làm ăn buôn bán.

(40) Nhà vàng: nhà đúc bằng vàng. Theo Hán Vũ đế cố sự, lúc Hán Vũ đế còn làm thái tử, bà trưởng công chúa muốn gả con gái cho mới ướm hỏi: "Lấy được A Kiều thì có thích không?". Vũ Đế đáp: "Nếu lấy được A Kiều thì phải đúc nhà vàng cho nàng ở". Văn học cổ dùng từ này ngụ ý quý trọng người đẹp.

(41) Gác vẽ tượng hình: còn gọi là gác Lân. Kỳ Lân các là tòa gác do vua Hán cho xây dựng nên, ở trong có vẽ tranh những công thần của triều đại. Từ này chỉ sự vinh dự của kẻ công thần ngày xưa.

(42) Chiền: nơi chợ búa, đông người.

(43) Thừa lưa: từ cổ chỉ sự tràn trề, phong phú về của cải vật chất.

(44) Thôi cử cổ: đánh trống.

(45) Sớ: tấu sớ.

(46) Đào - kép: Đào chỉ nữ diễn viên trong những vở hát ngày xưa; kép là nam diễn viên.

(47) ả tố diệu sơ: nữ nhân vật trong vở kịch, có lẽ chỉ Hằng Nga múa hát ở cung trăng.

(48) Chàng Sô lăng giá: người cắt cỏ, một nhân vật trong vở kịch.

(49) Kỷ trường cách vật: học hỏi sách vở, kinh nghiệm nâng cao tri thức về tự nhiên xã hội để có thể hiểu được cái lý của mọi sự vật, hiện tượng.

(50) Giáp bảng tên bày: Trước kia, những người đỗ đạt sau các kỳ thi đều được ghi tên tuổi, quê quán treo ở những chỗ trang trọng như trước ngọ môn,.... ở đây chỉ những người học hành đỗ đạt.

(51) Ký thọ thả khang: thọ và khang là hai trong số năm phúc mà người xưa thường quan niệm. Theo Kinh Thư, ngũ phúc (năm phúc) có thọ (sống lâu), phú (giàu có), khang ninh (mạnh khỏe, yên vui), du hảo đức (được những điều tốt lành), khảo chung mệnh (già trọn đời mới chết, không gặp tai nạn gì).

(52) Khong: từ cổ là khen ngợi.

(53) An bích xí hỏa: có nghĩa là quốc gia vững bền, đất nước hưng vượng.

(54) Chung cổ: chuông - trống.

(55) Thị xướng: đứng hầu khi nghe hát.

(56) Huyên hoa: vui vẻ, náo nhiệt.

(57) Bàng quan: đứng bên cạnh nhìn xem.

(58) Anh hiển anh triều: Ngày xưa, những người đựng đứng nơi triều đình, bàn việc chính sự đã làm rạng rỡ bản thân và cả dòng họ, quê hương. Từ này dùng để chỉ những người thành đạt, có vị trí quan trọng trong triều đình.

(59) Nuôi: từ cổ là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai. Nuôi hai nuôi ả: có thể hiểu là anh đứng thứ nhất, thứ nhì.

(60) Hâm nga: từ Việt cổ có nghĩa là bừa bãi.

(61) Mựa hề: từ Việt cổ có nghĩa chớ, chớ hề.

(62) Lạn đá: lạn nghĩa là mục nát, thối rữa. ở đây lạn đá được dùng với nghĩa là chùn bước, thoái chí.

(63) Bền phượng bền long: giữ vững chí khí tiết tháo.

(64) Nghiêm tịch: tổ chức lễ hội vào đám nghiêm túc.

(65) Ngõ: có thể, trông đợi.

(66) Tàng yêm: trò chơi khi tổ chức vào đám.

(67) Canh hạ: hát nối nhau mãi không dứt.

(68) Y quan: áo, mũ. Những người được vua ban áo mũ phải là những người đỗ đạt, có công lớn với quốc gia.

(69) Kim thang: cùng nghĩa với từ kim âu, ý chỉ sự bền vững, kiên cố của quốc gia./.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.247-256

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm