VI | EN
30. Nghề thủ công truyền thống qua một số văn bia lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG QUA

MỘT SỐ VĂN BIA LƯU TRỮ TẠI VIỆN HÁN NÔM

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Văn bia là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đặc thù và là một trong những hình thức truyền tải thông tin thời cổ đại và trung đại. Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, văn bia phản ánh những khía cạnh khác nhau trong đời sống xã hội theo những phong cách riêng về thể loại. Ngoài những văn bia mang giá trị về tư liệu lịch sử, về tôn giáo, tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng làng xã, đời sống kinh tế... nghề thủ công truyền thống cũng được phản ánh không ít trong các thác bản văn bia.

Kho thác bản bia, chuông, khánh hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là kho tư liệu khá phong phú và có giá trị nghiên cứu về nhiều mặt, trong đó có nhiều văn bia ghi về nghề thủ công truyền thống. Qua khảo sát bước đầu, chúng tôi xin giới thiệu gần 30 văn bia điển hình đề cập đến các nghề cổ truyền. Thông qua nội dung của văn bia, chúng tôi muốn cung cấp thêm một số tư liệu về nghề thủ công truyền thống của người Việt.

1. Những nghề được đề cập trong văn bia

Nước Việt Nam từ thời cổ trung đại vốn là một nước nông nghiệp trồng lúa nước lấy đơn vị làng làm cơ sở. Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, làng lúc nào cũng nổi lên với vị trí hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Mặc dù mỗi làng ở một vùng khác nhau, có hoàn cảnh tự nhiên và xã hội khác nhau nhưng trong quá trình phát triển họ đã sớm chọn cho mình nghề nghiệp phù hợp để sinh nhai ngoài nguồn lợi từ ruộng đất và làm thêm nghề thủ công là một giải pháp. Dần dần hình thành những làng nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đất đó:

§Nghề sơn: ở xã Định Lăng, huyện Gia Bình, phủ Thuận An ( N04469-70)

§Nghề gò đồng: ở xã Đại Bái, huyện Gia Bình, Bắc Ninh (N04644-45)

§Nghề đóng thuyền: ở xã Hoàng Lao, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An (N010686-89)

§Nghề dệt: La Khê, Hà Đông, Hà Tây (N0890-91); Xã Ỷ La, tổng La Nội, huyện Hoài Đức, Hà Tây (N0930-31); Xã Ngọc Trì, tổng Ngọc Trì, huyện Lương Tài, Bắc Ninh (N06350-53).

§Nghề tằm tơ: thôn Đoàn, xã Đoàn Lâm, huyện Thanh Miện, Hải Hưng. (N019760)

§Nghề nhuộm: xã Đan Loan, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Hưng (N015746; 15749; 15747)

§Nghề khắc đá: Kính Chủ, xã Dương Nham, phủ Kinh Môn, Hải Dương (N012005).

§Nghề làm bát: xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, Hưng Yên (N03529-32)

§Nghề y: Xã Định Công, Thanh Trì, Hà Nội (N018094); xã Lương Cụ, huyện Quỳnh Côi, Thái Bình (N04137-40); xã Đa Sĩ, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây (N01865-66)

§Nghề đánh cá: Xã Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình (N04674- 75)

§Nghề mổ lợn: xã Hồng Mai (nay là Bạch Mai) Hà Nội (N0450-51)

§Nghề thuộc da và đóng giầy: làng Chắm tức Trúc Lâm, Phong Lâm, Văn Lâm (N016978)

2. Niên đại bia

Những tư liệu lịch sử và những di chỉ khảo cổ học đã cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ ích và chính xác về quá trình hình thành và phát triển của các nghề thủ công cổ truyền. Qua niên đại được khắc trên văn bia chúng tôi muốn cung cấp, bổ sung thêm thông tin về quá trình hình thành các làng nghề. Thông tin trong các văn bia không đề cập đến năm xuất hiện nghề đó, nhưng chúng ta có thể chắc chắn là nghề đó phải hình thành sớm hơn khi người dân dựng bia thờ tổ nghề:

§Bia về nghề gò Đồng ở Đại Bái khắc năm Chính Hòa 6 (1685)

§Bia về nghề đóng thuyền ở Hoàng Lao khắc Chính Hòa 17 (1698)

§Bia về nghề dệt tơ tằm ở Ngọc Trì, Lương Tài, Bắc Ninh khắc năm Vĩnh Thịnh 14 (1718)

§Bia về nghề khắc đá ở Kính Chủ Kinh Môn, Hải Dương khắc năm Thịnh Đức 1 (1653)

§Bia về nghề tằm tơ ở Đoàn Lâm, Thanh Miện, Hải Dương khắc năm Cảnh Trị 7 (1669)

§Bia về nghề thịt lợn ở Hồng Mai, Thanh Trì, Hà Nội khắc năm Cảnh Trị 7 (1669)

§Bia về nghề đánh cá ở Vạn Đồn, Thụy Anh, Thái Bình khắc năm Vĩnh Thịnh 3 (1707)

3. Nội dung bia

a. Uống nước nhớ nguồn, người dân trong thôn xã lập bia, dựng đình để tưởng nhớ đến công ơn của Tổ nghề

Tổ nghề là người có công đem nghề, mở nghề, dạy nghề, cải tiến nghề cho dân làng làm theo. Nhìn chung tổ nghề là người có tài có đức, hầu hết là con người thực nhưng đôi khi lại được suy tôn từ một truyền thuyết, giai thoại. Ở một số địa phương tổ nghề còn được suy tôn là thành hoàng làng. Tổ nghề không phải là người đứng ra khởi xướng nghề nghiệp cho cả nước mà thường chỉ là người có công cải tiến công nghệ với một phường thờ một vùng nghề. Vì vậy cũng cùng một nghề ở những nơi khác nhau lại tôn thờ ông tổ nghề khác nhau:

Phấn Lực tướng quân Quảng Vũ Thuật hiệu Thắng hậu sở chánh võ uý Nguyễn Công Tuyền ông tổ nghề gò Đồng ở Đại Bái. Nhờ có nghề, dân được cơm no áo ấm, uống nước nhớ nguồn dân xã cùng nhau đóng góp làm hương án bằng đá để thờ tổ nghề.

Đô hiệu điểm Triệu Nghĩa hầu Nguyễn Sĩ Trung - ông tổ của nghề đóng thuyền quan ở Nghệ An;

Thị nội thư tả Binh phiên chỉ huy sứ Lý Đình Bá, Đặng Đình Nghĩa ông tổ nghề dệt ở Ỷ La - La Nội, Hoài Đức, Hà Tây

Quỳ quận công Nguyễn Thành Châu ông tổ nghề bát ở Xuân Quan, Văn Giang, Hải Hưng. Người dân lập đền thờ ông trên thửa đất 2 sào 6 thước 5 tấc tại xứ Đường Châu.

Người dân xã Hồng Mai Thanh Trì (nay là Bạch Mai) dựng đền khi còn sống đối với hương lão Thành Mậu Cường và vợ là Hoàng Thị Liên ông tổ của nghề mổ thịt cổ truyền.

b. Nghề truyền thống đem lại ấm no cho người dân làm nghề

Với đặc điểm là nước nông nghiệp trồng lúa nước, công việc đồng áng không phải loại công việc có thể rải ra suốt cả năm làm bất cứ lúc nào mà phụ thuộc vào thời vụ. Lao động nông nghiệp không sử dụng hết thời gian và khả năng lao động của người nông dân. Hơn nữa nguồn lợi do nông nghiệp mang lại rất ít ỏi. Người nông dân vốn cần cù chịu khó, đã tận dụng thời gian rảnh rỗi của mình để làm thêm nghề phụ, chính nghề đó đã đem lại cuộc sống ấm no cho người dân làm nghề:

Nhờ nghề thợ sơn mà dân xã Định Lăng phủ Gia Định phủ Thuận An được ấm no. Người dân ở đây không phải nộp thuế ruộng, thuế thân, đắp đê, làm đường, binh dịch... để chuyên tâm làm nghề.

Người dân ở Đại Bái, Gia Bình nhờ tinh thông nghề gò đồng luyện kim loại, chế tạo thành quốc khí mà được cơm no áo ấm.

Nhờ có nghề đóng thuyền mà dân xã Hoàng Lao, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An được sung túc, thịnh vượng, làng có đình, có giếng nước.

Từ xa xưa những người phương Bắc đến trú ngụ tại xã La Khê, Hà Đông và dậy cho người dân nghề dệt the sa. Nghề nghiệp ngày một phát triển, đời sống dân chúng được no ấm.

Nghề tằm tơ ở thôn Đoàn, xã Đoàn Lâm, Thanh Miện, Hải Dương ngày một phát triển nhờ đó đời sống nhân dân được ấm no.

Ngoài một số nghề thủ công làm ra các sản phẩm phục vụ đời sống dân sinh, một số làng chuyên làm ra những sản phẩm phục vụ cho cung đình, quốc gia:

Nghề gò đồng ở Đại Bái chuyên luyện kim loại, chế tạo thành quốc khí; Người dân ở xã Kính Chủ chuyên tạc tượng đá, voi đá, ngựa đá, dùng vào việc phụng thờ nơi tôn miếu. Sau này họ tạc bia đá ghi tên các vị Tiến sĩ đỗ đạt trong các khoa thi thờ nơi tôn miếu; Nghề nuôi và giết trâu bò ở xã Hồng Mai, Bạch Mai, Hà nội được triều đình phong kiến trao nhiệm vụ hầu như đặc quyền làm thịt và thui trâu bò dùng trong các cuộc tế lễ hàng năm.

c. Điều lệ, quy định của dân làm nghề

Làng nghề là nơi giữ nghề thủ công lâu đời, nơi đó thu hút hầu hết lao động chính ở vùng đó tham gia và tạo ra những giá trị kinh tế cho khu vực. Vì vậy làng nghề được coi là một tổ chức xã hội có những quy định riêng: Người dân xã Hoàng Lao có quy định: trong xã ai đóng được thuyền đem bán thì mỗi quan đóng 3 đồng để tế tổ sư. Ai mới vào phường phải nộp 3 đồng và chai rượu để biện lễ cúng tế. Người nào bán được nhiều mà nói ít thì bị phạt để làm gương cho kẻ khác.

Người dân làm nghề dệt the sa xã La Khê, Hà Đông quy định điều lệ: ai được làm trùm trưởng phải khao làng nếu không thì nộp 6 quan tiền, ai được làm trưởng phường nghề thì nộp 3 mạch, làm Câu đương nộp 3 mạch, ai khinh mạn trùm trưởng, phường trưởng, câu đương thì nộp phạt 1 quan. Ai làm trùm trưởng làm cỗ khao làng: mỗi bàn 5 người hoặc nộp 6 quan tiền.

Dân xã Hoàng Lao, Hưng Nguyên, Nghệ An có lệ hàng năm tế thần 2 lần, có lễ xướng ca vui vẻ. Mỗi kỳ tế dân đinh từ 18 tuổi trở lên góp ra 15 xu để biện thịt, xôi bánh dày. Những ngày lễ cầu phúc hàng năm, khi nghe thấy 3 hồi 9 tiếng trống mọi người phải tề tựu ở đình để làm lễ, ai vắng mặt hoặc tỏ ra vô lễ sẽ bị phạt.

d. Đóng góp của người dân làm nghề trong việc lập bia, xây đình thờ tổ nghề

Bên cạnh công việc đồng áng, nghề thủ công truyền thống đã đem lại đời sống ấm no cho người dân, đem lại đổi thay cho xóm làng và không ít gia đình với lòng hảo tâm đã đóng góp tiền của tài sản của mình để xây dựng vào việc chung của làng xóm:

Ông Quỳ Quận công Nguyễn Thành Châu ông tổ nghề bát cúng cho dân 150 quan tiền và 3 mẫu ruộng để chi vào việc chung, 8 mẫu ruộng để chi vào việc cúng giỗ ông.

Vợ chồng ông Vũ lệnh công ở phường Thọ Sách, xã Ngọc Trì hiến cho bản xã 2 mẫu 5 sào ruộng để thu lợi hoa mầu thờ phụng tiên sư nghề tơ tằm.

Người dân làng Đan Loan xưa nay nhiều người tản đi buôn bán ở các tỉnh, nhưng số ngụ cư ở Hà Thành nhiều hơn, sống về nghề buôn bán và nổi tiếng về nghề nhuộm. Khoảng năm Vĩnh Thịnh đời Lê các cụ tổ tiên của làng sẵn lòng sẵn của họp những người ngụ cư ở đây quyên góp của nhà mua một khu đất tư, ở phố Hàng Đào, phường Đại Lợi dựng ngôi đình thờ vọng vị thần làng ở đây và vị tiên Sư nghề nhuộm, cùng các vị tiên hiền tiên tổ của 7 họ.

Nhận xét chung

- Nghề thủ công truyền thống chủ yếu tập trung ở Đồng bằng Bắc Bộ (đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng) vùng kinh tế, chính trị, xã hội trọng yếu của đất nước thời cổ trung đại.

- Sự hình thành nghề truyền thống là yêu cầu tất yếu. Bởi vùng đồng bằng Bắc Bộ đất chật người đông, bản thân sản xuất nông nghiệp không sử dụng hết thời gian và khả năng lao động, không thể tạo ra đủ lương thực phục vụ đời sống, vì vậy làm nghề thủ công là giải pháp của người dân ở đây.

- Sự hình thành của phố nghề ở Thăng Long bắt nguồn từ những làng nghề truyền thống. Người dân làm nghề thủ công kết hợp buôn bán để tăng thêm thu nhập, nhưng việc buôn bán của họ lấy sản phẩm của làng nghề làm mặt hàng buôn bán chính. Những tấm bia ở đình Hoa Lộc thờ ông tổ nghề nhuộm, đình Xuân Phiến ở phố Hàng Quạt thờ tổ sư nghề làm quạt, định Chợ Thêu, Tạm Thương của dân làng Quất Động, đình Thợ Tiện ở Hàng Hành thờ tổ sư nghề tiện của dân làng Nhị Khê thể hiện sức hút mạnh mẽ của đất kinh kỳ đối với các trấn trong cả nước.

Tài liệu tham khảo:

1. Trịnh Khắc Mạnh: Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm số 4/93.

2. Đinh Khắc Thuân: Đá, thợ khắc và đặc trưng bia thế kỷ XVI, Tạp chí Hán Nôm số 2/88.

3. Nghề cổ nước Việt. Vũ Từ Trang. Nxb. Văn hóa dân tộc.

4. Đỗ Thị Hảo: Làng Vó và nghề đúc đồng truyền thống, Nxb. KHXH.1991.

5. Vũ Ngọc Khánh: Lược truyện thần tổ các ngành nghề,. KHXH, H.1991.

6. Nguyễn Quang Ngọc: Về một số làng buôn ở Đồng bằng Bắc Bộ, Hội Sử học Việt Nam, H. 1993./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.301-308)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm