31. Bia nhà thờ họ Nguyễn làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội (TBHNH 2003)
BIA NHÀ THỜ HỌ NGUYỄN LÀNG KIM LŨ,
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN XUÂN HÒA
Hội Ngôn ngữ học Hà Nội
Nguyễn Văn Siêu (1796 - 1872) tên tự là Tốn Ban, hiệu Phương Đình người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (cũ) nay thuộc thành phố Hà Nội. Ông đỗ Phó bảng năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), và tuy ông làm quan đến chức Án sát, có thời còn là sứ giả sang Trung Hoa, nhưng trước sau ông được biết đến như một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của đất Thăng Long - Hà Nội. Trái tim ông hướng đến những điều cao đẹp của cuộc sống, hướng đến chân - thiện - mỹ, nên sau một thời gian làm quan ông lui về dạy học trò, giúp ích cho đời. Ông và Cao Bá Quát là hai người bạn học mà tên tuổi luôn sóng đôi bên nhau, là hai nhà văn lỗi lạc của nước ta nửa đầu thế kỷ XIX, nên thời bấy giờ mới có câu Thần Siêu thánh Quát và câu Văn như Siêu Quát vô tiền Hán (Văn như Siêu Quát thì đến văn đời tiền Hán cũng không là gì).
Nguyễn Văn Siêu là nhà thơ gắn bó mật thiết với người và cảnh của đất nước Việt Nam và của Thăng Long - Hà Nội. Tác phẩm của ông có nhiều, tác phẩm chính có thể kể đến là Phương Đình thi loại, Phương Đình thi tập, Phương Đình văn loại, Phương Đình văn tập, Phương Đình địa chí, Phương Đình địa dư toàn biên,…
Trong Phương Đình thi tập Nguyễn Văn Siêu đắm say với cảnh trời, thả hồn với sông nước của đất Thăng Long - Hà Nội như trong các bài thơ Du Tây Hồ (Chơi Hồ Tây), Nhị Hà đối nguyệt (Ngắm cảnh trăng trên sông Nhị Hà), hay suy ngẫm với thời cuộc với ý thức của một nhà thơ - công dân khi ông phê phán hành động đáng hổ thẹn của ông vua đớn hèn Lê Chiêu Thống “Dựa vào sức người khác thì khó lòng làm nên việc nước” trong bài thơ Điếu thành Tây Loa Sơn cổ chiến trường xứ (Viếng Loa Sơn, tục gọi là Đống Đa, nơi chiến trường thời xưa, phía Tây thành Hà Nội).
Sinh thời, ông rời đến thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương của Thăng Long xưa, nàa là vùng có các phố Nguyễn Siêu, Mã Mây sinh sống. Ông đã có công đóng góp, tôn tạo các di tích văn hóa của Thủ đô như di tích Đài Nghiên, Tháp Bút, đình Trấn Ba. Ông cũng là người có công lớn với dòng họ Nguyễn làng Kim Lũ (Kẻ Lủ), huyện Thanh Trì: xây được nhà thờ họ Nguyễn là di tích văn hóa được xếp hạng. Nhà thờ này vốn là hai nhà thờ gộp lại: Nhà thờ ở phố Nguyễn Siêu, nơi cụ thân sinh ra ông và ông sinh sống và nhà thờ do chính Nguyễn Văn Siêu xây ở làng Kim Lũ. Tất cả những đồ thờ ở phố Nguyễn Siêu ông đều chuyển hết về nhà thờ dòng họ Nguyễn ở làng Kim Lũ. Hiện có nhiều tư liệu Hán Nôm, câu đối, bảng gỗ, bia đá, đặc biệt có bộ ván khắc Phương Đình địa chí để trong nhà thờ dòng họ này. Dưới đây, nhóm khảo sát chúng tôi giới thiệu tấm bia do Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp soạn nói về lai lịch nhà thờ này.
Phiên âm:
Duy Tự Đức nhị thập tam niên, tuế tại Canh Ngọ, thu cửu nguyệt, thứ thứ huyền tôn Ất Sửu khoa đồng Tiến sĩ, sung Nội Các Thị độc Trọng Hợp tự Bích Nhân cẩn huân mộc bái thủ viết:
Nhân bản hồ tổ, phàm sinh giai nhiên. Sùng đức báo công mạc tiên hồ thủy. Tống, Trần Tường Đạo “Lễ ký giải” vân: Thủy Tổ chi miếu dĩ nghĩa lập, bách thế bất thiên. Cái diệc dĩ thủy cơ vi trọng nhi lễ do sinh yên.
Ngã Nguyễn tính xuất cổ Sơn Nam, kim vi Hà Nội tỉnh, Thường Tín phủ, Thanh Trì huyện, Kim Lũ xã, Trung thôn tương thập thế hỹ.
Cung duy Thủy tổ Nguyễn công Phúc Tâm sinh Phúc Nghiêm công. Phúc Nghiêm công sinh Phúc Canh công, Phúc Chân công nhi Đại tông, Tiểu tông dĩ biệt, kỳ trung các tự chi phân phái dẫn, kí thứ thả phồn. Tự phi bản cố, nguyên thâm hạt khắc trăn thử ?
Cố sùng báo chi lễ thượng khuyết như giả. Tiểu tông chi hậu tam thế nhi hữu Thuần Chính công tiên phát dĩ Tiền Lê tiến sĩ, Thượng thư, Quận công, công thần, tử tôn tương kế trâm anh. Nhiên lễ chí Thứ bất đắc tế. Đại tông chi hậu, duyệt ngũ thế vị hữu hiển giả, vô dĩ liên tộc nhi chiêu sự, cố trì chi hựu cửu giã. Kim giả, chính đích Phương Đình công thủy dĩ Minh Mệnh thập cửu niên, Mậu Tuất khoa Phó bảng xuất sĩ, tự do Nội Các Thị giảng học sĩ, phụng sứ Bắc quy, sung Kinh Diên Khởi cư chú, lịch Hà Tĩnh Hưng Yên Án sát sứ. Nhân sự dẫn bệnh quy lý, giới niên lệ trí sĩ. Vĩnh niệm phần du, duật hoài Tổ đức, sái tức Thuần Chính công từ chi tiền tả, tiên tổ di lai Đình Điếm thổ viên, kiến Thủy Tổ từ tam gian, nam hướng, đông, tây vũ các tam gian, ốc dĩ ngõa, liêu dĩ chu viên, tiền chính trung xế tinh môn. Dĩ Quý Hợi đông cưu công, Giáp Tý thu thành. Từ chi trung gian vi thần khám, chính trung tự Thủy tổ Phúc Tâm công tổ khảo, tổ tỷ bài vị, hữu tự Phúc Nghiêm công tổ khảo, tổ tỷ bài vị, tả tự Phúc Canh công tổ khảo, tổ tỷ bài vị.
Dĩ thị niên Đông chí cáo thủy sự. Tộc đảng, hương lý thiếu trưởng hàm tập, vô bất hân duyệt. Công viết: Thị từ tuy công sở vi vĩnh dữ đồng tính cộng hữu, kỳ tế điền tức tộc trung khoa hoạn, thực lộc giả lượng lực dĩ xuất, Giáp, Ất luân thủ hành chi. Tộc nhân hàm dĩ vi nhiên.
Phù ! Đạo mạc đại ư báo bản, lễ mạc nan ư truy viễn. “Thị phất kiến, thính phất văn” nhi hà dĩ “như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu”? Thử khởi tề minh thịnh phục đản cầu chi tế tự gian tai? “Thi” vân: Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ. “Dịch” viết: Hoán hữu khâu, phi di sở tư. Tích thành giả hữu tố giã, hưởng miếu giả hữu nhân giã. Phương Đình công tự Tiên công gia Thọ Xương kỳ từ đường tại yên, kim nãi thủy lập Tổ từ, hợp tộc dữ cộng tế. Kì dụng tâm giã công, kỳ vi mưu giã viễn. Yếu chi diệc ngã tiền nhân chi đức hậu lưu quang giã.
Kỳ công lập điều ước như tả:
- Lễ vật: Đông chí dụng: sinh, tư, bính, quả. Thanh Minh lễ, Nguyên Đán lễ: hàn âm, tư thình tùy nghi. Duy Đông chí lễ, tộc đảng cập hương kỳ, cụ soạn tửu thực, yếu đắc đồng hiệp tế tắc thụ phúc. Duy tôn tử dữ quý hữu khoa hoạn giả nghi chí tộ, luân chủ kỳ sự. Giáp dĩ hữu Phương Đình công tại, Ất tắc hữu khoa hoạn, Tiến sĩ tử Trọng Hợp, Cử nhân Phác đồng biện. Tự hậu đại lược phỏng thử.
- Tế điền: Thị độc Trọng Hợp cung trí lục sào, cử nhân Phác tam sào thập xích, tri Nam Xương huyện Văn Kế tam sào. Đồng niên tô đinh nhập biện lễ, nhược hữu phạp đương sự phụ chi, sĩ hậu cung điền đa giả chước biện.
Dịch nghĩa:
Tháng 9 mùa thu năm Canh Ngọ, niên hiệu Tự Đức năm thứ 23 (1870), chút thứ ngành Tiểu tông là Trọng Hợp, tên tự là Bích Nhân, đỗ đồng Tiến sĩ khoa Ất Sửu, sung chức Thị độc trong Nội Các, sửa mình kính vái rằng:
Người gốc ở tổ tiên, ai ai chẳng thế. Theo lễ trọng đức đền công, chẳng gì hơn nhớ về Thủy tổ. Sách Lễ ký của Trần Tường Đạo đời Tống viết: “Nhà thờ Thủy Tổ theo lễ nghĩa dựng lên, điều đó trăm đời không thay đổi”. Đó cũng vì coi trọng nền móng Thủy tổ đã gây dựng mà lễ nghĩa sinh ra vậy.
Họ Nguyễn ta xuất xứ ở đất Sơn Nam xưa, nay là thôn Trung, xã Kim Lũ(1), huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội, đã sắp được mười đời.
Kính nhớ Thủy tổ Nguyễn Phúc Tâm sinh cụ Phúc Nghiêm. Cụ Phúc Nghiêm sinh hai ông Phúc Canh và Phúc Chân. Từ đây chia ra hai ngành Đại tông và Tiểu tông, rồi từ hai ngành này nảy sinh các chi phái đông đúc thịnh vượng. Đó chẳng phải nhờ gốc chắc nguồn sâu mà được như thế sao?
Xét lại xưa nay, theo lễ sự trọng đức đền công vẫn còn thiếu sót , lý do vì ngành Tiểu tông đến đời thứ ba đã có ông Thuần Chính đỗ đạt mở đầu, ông đậu Tiến sĩ triều Lê, rồi các đời sau người thì giữ chức Thượng thư, người thì nhận tước Quận công, người thì được phong làm công thần, con cháu kế nghiệp trâm anh, nhưng theo lễ thì ngành Thứ không được tế (Thủy tổ).
Ngành Đại tông trải năm đời vẫn chưa có người vinh hiển, không có điều kiện họp họ để tế ThủyTổ, nên mới để chậm lâu như thế. Nay ông Phương Đình đậu Phó bảng khoa Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 19 (1838), lần lượt sung các chức: Thị giảng học sĩ trong Nội các, đi sứ phương Bắc về làm Khởi cư chú(2) ở điện Kinh Diên, làm Án sát tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Hưng Yên. Nhân có việc (không vừa ý), ông cáo ốm về quê, được một năm theo lệ về hưu trí.
Ông hằng nhớ quê hương, thường nghĩ đến công đức của Tổ, nên mới lấy miếng đất vườn trong xóm Đình Điếm vốn của tổ tiên để lại nằm đằng trước bên trái nhà thờ cụ Thuần Chính, để xây ba gian nhà thờ Thủy tổ. Nhà thờ hướng nam, hai bên đông, tây (nhà thờ), mỗi bên xây ba gian nhà nhỏ. Khu nhà thờ lợp ngói, có tường xây bọc quanh, chính giữa đằng trước xây cổng vòm (tinh môn). Mùa đông năm Quý Hợi khởi công, đến mùa thu năm Giáp Tý thì hoàn thành.
Gian giữa nhà thờ là khám thần, chính giữa khám thờ bài vị cụ ông, cụ bà Thủy tổ Phúc Tâm, bên phải thờ bài vị cụ ông, cụ bà Phúc Nghiêm, bên trái thờ cụ ông cụ bà Phúc Canh.(3)
Ngày Đông chí năm đó (Giáp Tý), khởi đầu việc tế lễ. Tất cả già trẻ trong họ, người làng đều đến, ai cũng vui mừng. Ông (Phương Đình) nói: “Ngôi nhà thờ này tuy vì dòng họ mà ta xây nên, để mãi mãi dòng họ có nơi thờ tự chung, nhưng còn ruộng tế thì những người đỗ đạt làm quan ăn lộc nước, tùy sức mình mà cúng. Các ngành Giáp và Ất luân phiên nhau giữ ruộng mà lo việc cúng tế”. Cả họ đều cho là phải.
Ôi ! Đạo không có gì lớn bằng báo đền tiên tổ, lễ không có gì khó hơn nhớ đến cội nguồn. Tổ tiên “mắt chẳng được thấy (dung nhan), tai chẳng được nghe (tiếng nói)”, thì lấy gì để biết “(tổ tiên) như ở trên mình, như ở bên trái, bên phải thân mình”? Bởi vậy (việc dựng ngôi nhà thờ này) bày biện trang hoàng, mũ áo rực rỡ há đâu có phải chỉ cốt ở chuyện cúng tế ? Kinh Thi nói: “Ngay cây dâu, cây thị (do cha mẹ trồng) cũng phải cung kính”. Kinh Dịch nói: “Nước chảy cuồn cuộn tới tận gò, người bình thường không thể nghĩ tới”.(4)
Luôn giữ lòng thành thực thì sẽ trong sạch, thờ cúng tổ tiên là gây mầm phúc đức. Từ khi cha ông Phương Đình dời nhà ra huyện Thọ Xương, ông Phương Đình đã có dựng nhà thờ riêng ở đó. Nay ông mới xây nhà thờ Tổ, để cùng họ hàng tế lễ. Tấm lòng của ông thực là vô tư, lo tính của ông thực là lâu dài. Điều quan trọng là để ơn đức cao dày của tiền nhân luôn rạng rỡ.
Cả họ đặt quy ước như sau:
- Về đồ lễ: tiết Đông chí thịt các loại (lợn, bò, gà…), xôi, bánh, quả. Tiết Thanh minh, tết Nguyên Đán: xôi gà tùy nghi. Riêng trong lễ Đông chí, họ hàng và các cụ phụ lão trong làng đều tập họp, sửa soạn cơm rượu, cốt sao chu đáo hòa thuận, thì tế lễ sẽ được hưởng phúc. Riêng trưởng tộc và những người đỗ đạt, có chức tước thì phải tới từ hôm trước luân phiên nhau chủ trì công việc. Hiện ngành Đại tông đã có ông Phương Đình, ngành Tiểu tông có quan Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp và Cử nhân Phác cùng lo liệu. Từ sau đại lược theo thế mà làm.
- Về ruộng tế: Thị độc Trọng Hợp cúng sáu sào, Cử nhân Phác ba sào mười thước, Tri huyện Nam Xương Văn Kế ba sào. Tiền thu theo suất đinh cả năm cộng vào mua đồ lễ, nếu thiếu thì người đương sự phụ thêm. Đợi sau có nhiều ruộng tế sẽ lo liệu cho thỏa đáng.
(Bản dịch từ Hán Nôm ra tiếng Việt do Nguyễn Hữu Tưởng thực hiện).
Chú thích:
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.262-269