31. Thơ Nôm Lê Thánh Tông trong Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập (TBHN 2008)
THƠ NÔM LÊ THÁNH TÔNG TRONG
LĨNH NAM QUẦN HIỀN VĂN THI DIỄN ÂM TẬP
TRẦN THỊ GIÁNG HOA
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Lê Thánh Tông là vị hoàng đế tài ba, đưa đất nước Đại Việt bước vào thời kỳ thịnh trị, hùng cường trên mọi lĩnh vực, và ông là tác gia tiêu biểu, có nhiều đóng góp lớn cho lịch sử văn học dân tộc giai đoạn nửa sau thế kỷ XV. Di sản văn học ông để lại khá đồ sộ, được biên chép trong nhiều văn bản như Toàn Việt thi lục, Thiên Nam dư hạ, Hoàng Việt thi tuyển, Lê Thánh Tông thi tập, Minh lương cẩm tú, Cổ tâm bách vịnh…Bên cạnh những tác phẩm viết bằng chữ Hán, Lê Thánh Tông còn sáng tác nhiều thơ văn chữ Nôm, tiêu biểu như thơ Nôm chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, và những bài thơ chép trong nhiều văn bản, khắc trên bia đá.
Trên thực tế, hiện nay kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm có hơn mười văn bản có chép thơ Nôm của ông như Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, Nam âm thảo, Quốc văn tùng ký, Thi từ ca đối tạp sao,… Những văn bản này chủ yếu do người đời sau biên soạn. Hơn nữa, Lê Thánh Tông là nhân vật lịch sử nhưng đã được dân gian hóa, được người đời gán cho nhiều giai thoại. Vì vậy, trong quá trình biên soạn, sao chép thơ Nôm của ông đã có nhiều sự nhầm lẫn.
Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, kí hiệu AB. 398, khổ 16,5x29cm, hiện được lưu giữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là văn bản viết tay với nhiều thể chữ khác nhau, nội dung chép thơ, ca, phú, của Lê Thánh Tông, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Tảo, Nguyễn Khắc Hiếu,… Trong đó, từ trang 30 đến trang 33 chép 10 bài thơ Nôm ghi tên tác giả là Lê Thánh Tông - Lê Thánh Tôn soạn thập thủ.
Qua khảo sát, chúng tôi thấy ở đây có sự nhầm lẫn đáng kể nên phiên âm toàn bộ mười bài thơ trên và đối chiếu với thơ của một số tác giả khác.
LÊ THÁNH TÔN SOẠN (thập thủ)
VỊNH HƯƠNG TÍCH TỰ
Trời đất sinh ra có một chòm,
Sinh ra một lỗ hỏm hòm hom.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con sào vô nghĩa chống lom khom.
Xuân Hương thi tập:
CHÙA HƯƠNG TÍCH
Bày đặt vì ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cửa Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu Tiên ghé mắt nom.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến trở tăm.
VỊNH CỬA LỤC(1)
Đồn rằng Cửa Lục có Thầy Tiêu,
Ngồi tựa câu lan nghe muỗi kêu.
Cửa gác phó cho thằng nhện đóng,
Đèn tàn để mặc cánh dơi khêu.
VỊNH CÁI NHÂN(2)
Ba gian nhà trống sáng trăng suông,
Rét phải nằm co chẳng phải cuồng.
Một vạn anh hùng chen dưới gối,
Cửu trùng thiên tử đắp trên lưng.
VỊNH CON VOI
Vòi voi bốn bể bẻ chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc,
Sức này sao quản búa rìu lay.
VỊNH CON CUA
Đã có mai xanh lại yếm vàng,
Tám quân nghênh kéo, kéo nghênh ngang.
Xin theo ông Khổng về nước Lỗ,
Học thói Bàn Canh nấu chín thang.
Xuân Hương thi tập, trong phần THI PHỤ có chép:
CON CUA
Đã có mai xanh lại yếm vàng,
Ba quân khênh kiệu kiệu nghênh ngang.
Xin theo ông Khổng về nước Lỗ,
Học thói Bàn Canh nấu chín thang.
VỊNH TRÚC BẠCH HỒ
Một chiếc thuyền nan một mái chèo,
Đáy hồ lãng đãng nước trong veo.
Quanh co thành cỏ đường lai láng.
Chen chúc nhà thôn vẻ gấm thêu.
Ngũ Xã cầu dài đường khách thẳng,
Châu Long thềm rộng nóc chùa cao.
Đồn rằng Trúc Bạch vui từ trước,
Nay mới hay rằng lắm thú yêu.
Văn đàn bảo giám, mục tác giả Quan Hiệp Đào có chép:
HỒ TRÚC BẠCH
Một chiếc thuyền nan một mái chèo,
Đáy hồ lặng sóng nước trong veo.
Quanh co thành cỏ đường lai láng,
Chen chúc nhà thôn cảnh gấm thêu.
Ngũ Xã kiều dài đường khách thẳng,
Châu Long thềm rộng nóc chùa cao.
Đồn rằng Trúc Bạch vui từ trước,
Nay mới hay rằng lắm cảnh yêu.
VỊNH BÁT NGUYỆT KÍ VỌNG
Đứng chéo trông xem cảnh rậm rèo,
Đường đi xiên xéo quán liêu xiêu.
Dập dìu mái cỏ mành xơ xác,
Đoạn lỗ kèo tre đốt khẳng khiu.
Ba trạc thế cây hình uốn éo,
Một vùng giếng nước cỏ liu hiu.
Nhìn xem phong nguyệt vui là thế,
Kìa cái thuyền ai thả chập lèo.
Xuân Hương thi tập:
HÀNG Ở THANH
Đứng chéo trông ra cảnh hắt hiu,
Đường đi xiên xéo quấn cheo leo.
Dập dìu mái cỏ tranh xơ xác,
Đầu ghé kèo tre đốt khẳng khiu.
Ba trạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc cỏ leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai gió lộn lèo.
THĂNG LONG HOÀI CỔ
Chất ngất từng mây một dải cờ,
Kinh thành ngày trước tiếng bây giờ.
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn lác,
Bia đá hoa văn chữ chửa lờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Duềnh Tô lai láng bóng trăng thưa.
Gặp ai cố lão ra đây hỏi,
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa.
Xuân Hương thi phụ tạp sao:
THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
Chất ngất tầng mây một dải cờ,
Kinh thành ngày trước tiếng bây giờ.
Tượng đồng Trấn Vũ hương còn ngát,
Bia đá hoa văn chữ chửa mờ.
Bảo tháp lơ thơ chòm cỏ mới,
Sông Tô lai láng bóng trăng xưa.
Gặp ai cố lão ra nay hỏi,
Chốn cũ phồn hoa đã phải chưa.
ĐĂNG ĐÀI TỨC SỰ
Êm ái chiều hôm tới Khán Đài,
Lâng lâng chẳng bận mới trần ai.
Bốn mùa triêu mộ chuông ầm sóng,
Một luống tang thương nước lọn trời.
Bể Sở ngàn trùng khôn bụi bặm,
Nguồn ơn trăm trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.
Quốc văn tùng ký, mục thơ Bà Huyện Thanh Quan chép:
CHƠI KHÁN ĐÀI
Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bận chút trần ai.
Bốn mùa triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lọn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi.
Nào là cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây chín rõ mười.
TỨC SỰ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Vả nay đà trải mấy thu sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt mới tang thương.
Danh là gương để soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Quốc văn tùng ký, mục tác giả Bà Huyện Thanh Quan có chép:
THĂNG LONG HOÀI CỔ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy phong sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt mới tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
Dựa vào những khảo sát trên đây cho thấy, thơ Nôm đề tên tác giả Lê Thánh Tông trong văn bản Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập phần nhiều là thơ của các tác giả khác tuy có đôi chỗ sai khác nhất định. Dưới đây chúng tôi thống kê lại và đối chiếu với Hồng Đức quốc âm thi tập làm cơ sở tìm hiểu thêm thực trạng thơ Nôm của ông.
Stt | LNQHVTDÂT | Trong sách khác | HĐQÂTT | |
| | Tên bài | Tên sách | Tên bài | Tác giả | | |
| 1 | Vịnh Hương tích tự | XHTT | Chùa Hương Tích | Hồ Xuân Hương | Không có |
| 2 | Vịnh Cửa Lục | | | | Không có |
| 3 | Vịnh Cái nhân | | | | Không có |
| 4 | Vịnh con voi | | | | Không có |
| 5 | Vịnh con cua | XHTT | Vịnh Cua | Hồ Xuân Hương | Không có |
| 6 | Vịnh Trúc Bạch hồ | VĐBG | Hồ Trúc Bạch | Quan Hiệp Đào | Không có |
| 7 | Vịnh bát nguyệt ký vọng | XHTT | Hàng ở Thanh | Hồ Xuân Hương | Không có |
| 8 | Thăng Long hoài cổ | XHTPTS | Thăng Long thành hoài cổ | Hồ Xuân Hương | Không có |
| 9 | Đăng đài tức sự | QVTK | Chơi Khán đài | Bà Huyện Thanh Quan | Không có |
| 10 | Tức sự | QVTK | Thăng Long hoài cổ | Bà Huyện Thanh Quan | Không có |
| | | | | | | | | | | | | | | | | |
(tên viết tắt: HĐQÂTT = Hồng Đức quốc âm thi tập, LNQHVTDÂT = Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, XHTT = Xuân Hương thi tập, XHTPTS = Xuân Hương thi phụ tạp sao, QVTK = Quốc văn tùng ký, VĐBG = Văn đàn bảo giám)
Như vậy, trong số mười bài thơ đề tên Lê Thánh Tông có thể chia thành hai nhóm. Một là, thơ của tác giả khác gồm 7 bài. Hai là, thơ chưa rõ tác giả đích thực gồm 3 bài Vịnh Cửa Lục, Vịnh cái nhân (vịnh người ăn mày), Vịnh con voi. Đối chiếu với thơ Nôm thời Hồng Đức trong Hồng Đức quốc âm thi tập có bài Ỷ thực (vịnh người ăn mày), Vịnh voi nhưng nội dung hoàn toàn khác với hai bài thơ trên, có thể người đời sau chỉ dựa vào đề tài có sẵn trong Hồng Đức quốc âm thi tập để biên chép. Hơn nữa, xét về mặt câu chữ ba bài thơ trên đều chưa trọn vẹn.
Lời kết
Thơ Nôm Lê Thánh Tông chủ yếu được biên chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Ngoài ra, còn được chép rải rác trong nhiều thi tập khác như Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, Nam âm thảo, Quốc văn tùng ký,.... Sự xuất nhập về số lượng bài thơ, câu thơ trong những thi tập này so với Hồng Đức quốc âm thi tập là đáng kể, có thể xem đó là cơ sở tìm hiểu thơ Nôm Lê Thánh Tông nói riêng và thơ Nôm thời Hồng Đức nói chung. Tuy nhiên, thơ Nôm của Lê Thánh Tông đều được người đời sau sưu tập nên không tránh khỏi tình trạng tam sao thất bản, mai một, chắp vá, thậm chí là lẫn lộn. Vì vậy trong nghiên cứu, việc xá định chính xác thơ Nôm của tác giả Lê Thánh Tông là không đơn giản. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra một trường hợp tiêu biểu về sự nhầm lẫn giữa thơ Nôm của ông với những tác giả khác.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồng Đức quốc âm thi tập, lưu tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AB.292.
2. Quốc văn tùng ký, lưu tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AB.383
3. Xuân Hương thi sao phụ tạp sao, lưu tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AB.620.
4. Xuân Hương thi tập, lưu tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu VNv.21.
5. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, PGS. Trần Nghĩa -François Gros đồng chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1998.
6. Thơ văn Lê Thánh Tông, Mai Xuân Hải chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1986.
7. Tổng tập văn học Nôm Việt Nam, tập I, Nguyễn Tá Nhí chủ biên, Nxb. KHXH, H. 2008.
8. Văn đàn bảo giám, Trần Trung Viên sưu tập, Nxb. Văn học, H. 1998./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.380-389