31. Về bài văn bia Thủy lập ngoại đồng bi ở Hải Phòng
VỀ BÀI VĂN BIA THỦY LẬP NGOẠI ĐỒNG BI Ở HẢI PHÒNG
NGUYỄN THỊ KIM HOA
Đại học Hải Phòng
Bia Thủy lập ngoại đồng bi ở đền xã Lương Sâm huyện Hải An, Hải Phòng. Hiện nay còn thác bản mang ký hiệu NO.11299-11300 trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bia gồm hai mặt, kích thước 1,12 x 0,64m có hoa văn mặt trời, rồng, phượng và hoa lá. Bia có 34 dòng, mỗi dòng có từ 1 đến 43 chữ. Bia chữ khá đẹp nhưng có một số bị mờ. Trên bia không có chữ kỵ húy. Niên đại khắc trên bia là Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), đầu thế kỷ thứ XVIII. Tác giả là Giám sinh họ Vũ người xã Lương Khê, huyện Hải An giữ chức Thị nội văn chức Vương phủ soạn và do Nguyễn Hữu Đức người xã Trung Hành viết chữ.
Trong bài văn bia có câu: “Phàm vi dân dã tằng quan phù bản giả nông, xứ xứ hàm xu lạc nghiệp, nhân nhân cộng suất quy nông. Nông giả quý hồ điền liên thiên mạch; quý điền liên tất tu quảng địa; dục quảng địa tất tu tịch điền” có nghĩa là: “Phàm là dân được coi trọng nhất là người làm ruộng, vậy nên chốn chốn đều được lạc nghiệp, người người đều được cấy cày. Nhà nông quý ở ruộng bờ liền bờ, coi trọng ruộng liền bờ thì phải mở rộng ruộng đồng, muốn mở rộng ruộng đồng thì phải khai khẩn đất đai”. Câu này khẳng định vai trò quan trọng của người nông dân trong xã hội, đồng thời cũng phản ánh một vấn đề rất đáng quan tâm của cư dân trồng lúa nước vùng ven biển Hải Phòng xưa đó là việc khai khẩn đất hoang ngập mặn. Từ ngàn xưa, ngay từ thuở khai thiên lập địa, vấn đề hạn hán, úng thuỷ, thau chua rửa mặn, xâm thực, xói mòn luôn là khó khăn lớn cho việc trồng trọt nhất là trồng lúa nước của cư dân nông nghiệp nước ta, cho nên trong lịch sử sản xuất nông nghiệp của nước ta việc trị thuỷ trong nội đồng cũng như quai đê lấn biển là việc quan trọng bậc nhất trong suốt bao thế kỷ nay. Hải Phòng là vùng đất ven biển nhưng những tấm bia nói về việc khai đất lấn biển không nhiều cho nên đây là một tấm bia có giá trị nói về việc khai khẩn đất hoang ngập mặn của người dân nơi đây.
Bài văn bia cho ta thấy việc phân chia ruộng đất mới lập của một làng ven biển Hải Phòng vào thời kỳ đầu thế kỷ 18. Trong bài văn bia có câu: "Điền dã tịch tắc nhân dân cấp..." chỉ rõ người dân chính là người khai khẩn đất hoang ngập mặn thế nhưng họ chấp nhận sử dụng đất khai khẩn thông qua sự điều tiết của chính quyền. Bộ máy chính quyền cấp xã đã tham gia vào việc điều tiết ruộng đất khai khẩn, điều đó cho ta thấy phần nào quyền lực của bộ máy này trong vấn đề kinh tế làng xã xưa. Chữ ký của quan viên hương lão và mọi người trong làng đã hợp pháp hoá chủ nhân của những mảnh ruộng hoang một cách lâu dài, từ đời này sang đời khác. Đây đồng thời cũng là lo lắng trước, giải quyết trước cho sự tranh chấp có thể xảy ra sau này của hậu thế.
Qua địa danh trên văn bia ta có thể thấy được phần đất lấn biển trong những thế kỷ trước của một làng ven biển, góp phần làm sáng rõ mốc giới các vùng đất của làng nói riêng và Hải Phòng nói chung qua các thời kỳ trong lịch sử địa phương.
Qua tìm hiểu tấm văn bia Thủy lập ngoại đồng bi chúng ta còn thấy xu hướng phát triển kinh tế của cộng đồng dân cư vùng ven biển đó là xu hướng kinh tế hướng ra biển. Một mặt cư dân ven biển tích cực khai thác hải sản, mặt khác họ phát triển nghề nông truyền thống bằng cách lấn những vùng đất ngập mặn. Phát triển kinh tế ven biển đồng nghĩa với bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải cho nên xưa và nay chính quyền và cư dân ven biển đều rất quan tâm đến vấn đề này.
Sau đây xin giới thiệu toàn bộ tấm văn bia:
Phiên âm:
THỦY LẬP NGOẠI ĐỒNG BI
Vĩnh Thịnh tam niên mạnh hạ nguyệt cốc nhật Lương Khê xã Vương phủ Thị nội Văn chức Giám sinh Vũ [] [] soạn ký.
Kim: Thánh truyền sinh thánh, vương kế vi vương. Thừa tổ tông tự thủ chi cơ, nhậm xã tắc sinh linh chi kí. Lập quy mô, chỉnh pháp độ, thứ chính chiêu nhiên; thi hiệu lệnh, định chương trình, vạn cơ trật nhĩ. Thái hoà tượng đổ, thế hồi Thuấn nhật chi thuần phong; viễn quốc trân tham, trùng tiếp Hạ triều nhi nhập cống. Thiên hạ xa thư cộng hỗn, quốc gia niên tộ cửu trường. Thằng thằng bồi bất bạt chi cơ, thế như bàn thạch; vĩnh vĩnh diễn vô cương chi phúc, tường ứng thuỵ trăn. Phàm vi dân dã tằng quan phù bản giả nông, xứ xứ hàm xu lạc nghiệp, nhân nhân cộng suất quy nông. Nông giả quý hồ điền liên thiên mạch; quý điền liên tất tu quảng địa; dục quảng địa tất tu tịch điền. Điền dã tịch tắc nhân dân cấp, cố Lương Sâm xã nguyên hữu địa phận lâm tẩu thập thế [] tự giáp Sâm Bồ xã giới hạ chí giáp Lương Khê xã giới, hàm thủy thông lưu, hải mộc thành lâm. Nãi ư Canh Thìn niên cửu nguyệt sơ nhị nhật, bản xã tự Lê Thế Tô chí Đinh Văn Tạo đẳng thí tài trúc lập đê lộ dĩ đồng, chí Ất Dậu niên thuỷ sảo thành điền. Kỳ bản xã phân vi trục phận đẳng, phân điền bát cao bán các nhiệm canh chủng truyền tử nhược tôn vĩnh vi kỷ [] [] vô bi nội tính danh bất đắc vọng hành tranh chiếm. Nhân thử tu tạo lập bi dĩ di vạn đại dĩ miễn hậu ngôn, kỳ bản xã thượng hạ đẳng công luận lập bi khai trần vu hậu.
Kê:
Kinh Môn phủ An Dương huyện Lương Sâm xã xã trưởng, hương trưởng, nhân dân thượng hạ đẳng vi trúc lập đê lộ... vi ngoại đồng cộng luận...
Xã chính kiêm Tổng chính đồng Hoành Bồ huyện Cai huyện An Đốc bá tịnh bản xã ưng bảo Khoán thủ tổng... Bùi Thế Tô.
Xã chính kiêm bản huyện Thư kí sư đạo đồng Tổng chính tịnh Thủ ước bản giáp Đinh Nhiệm Học.
Xã trưởng Phùng Hưng Nhượng, hương ấp Nguyễn Quang Minh, Phùng Văn Chiêm, sinh đồ Phùng Quế.
Xã trưởng kiêm Trinh thám bản huyện Lương Nghĩa bá Đinh Danh Sĩ, xã trưởng kiêm phó Chánh đội Lộc Triều hầu Lê Thế Huân, Cai chích ninh hựu mãnh Tuyển Trung bá Lê Thế Hiển.
Xã trưởng kiêm thư kí bản tổng - Đăng Doanh, cai chích ninh hựu mãnh- Dũng bá Phùng Đức Dung.
Thủ ước bản xã Nguyễn Kim Sơn tự Phúc Lệnh. Thủ ước bản xã tịnh bản giáp Lê Đăng Cao tự Phúc Viên, thủ ước bản xã Lê Đức Vọng tự Phúc Trung.
Sinh đồ bản xã ưng bảo đẳng danh Lương Quý Đức... (kê tên 6 vị) đẳng.
Thủ ước bản giáp đẳng danh Nguyễn Hữu Minh... (kê tên 9 vị ) đẳng.
Lão nhiêu Đinh Công Tôn... (kê tên 10 vị) đẳng.
Dân đinh, đinh tráng Lâm... (kê tên 154 người).
Tuế thứ Đinh Hợi niên tứ nguyệt nhị thập tứ nhật vi biên nhân số cộng bách bát thập lục nhân. Trung Hành xã Nguyễn Hữu Đức tự Trung Yên phụng tả.
Dịch nghĩa:
Bia ghi việc mới lập đồng Ngoại
Giám sinh hàng văn chức trong Thị nội Vương phủ họ Vũ người xã Lương Khê soạn bài ký vào ngày tốt tháng 4 niên đại Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707).
Đến nay: Bậc thánh truyền sinh thánh, kế nghiệp làm vua. Kế thừa cơ nghiệp của tổ tông, nhận sự giao phó sinh linh của xã tắc. Đặt ra quy mô, xác định pháp độ, các loại chính sách rõ ràng; ban hành hiệu lệnh, định ra chương trình, muôn việc đều được ngăn nắp. Nhìn thấy cảnh tượng thái bình, trong đời có phong tục như thời vua Thuấn; các nước xa xôi tìm đến, theo bước chân nhà Hạ vào triều cống. Thiên hạ thống nhất về một mối, vận nước được phúc lộc lâu dài. Luôn luôn xây dựng nền móng không đổ, thế vững như bàn thạch, mãi mãi kéo dài phúc tộ vô cương, điềm lành luôn báo. Phàm là dân được coi trọng nhất là người làm ruộng, vậy nên chốn chốn đều được lạc nghiệp, người người đều được cấy cày. Nhà nông quý ở ruộng bờ liền bờ, coi trọng ruộng liền bờ thì phải mở rộng ruộng đồng, muốn mở rộng ruộng đồng thì phải khai khẩn đất đai. Đồng ruộng khai khẩn ắt là dân cấp cho, vậy nên xã Lương Thâm có vùng đất ao đầm giáp với xã Sâm Bồ, dưới giáp xã Lương Khê nước mặn chảy vào, cây biển mọc thành rừng. Thế là ngày mùng 2 tháng 9 năm Canh Thìn tất cả bản xã từ Lê Thế Tô đến Đinh Văn Tạo góp tiền xây dựng đê để mở mang ruộng đồng, đến năm Ất Dậu thì mới hơi thành ruộng. Bản xã chia thành các phần đều nhau, mỗi phần là 8 sào rưỡi ai nấy mang về cày cấy, truyền cho con cháu mãi mãi về sau làm của riêng, tên tuổi phần ruộng đã ghi ở trong bia không được tranh chiếm. Vì thế sửa sang dựng bia để truyền cho muôn đời và tránh lời nói về sau. Nay tất cả mọi người trên dưới trong bản xã cùng bàn dựng bia kê rõ ở sau.
Kê:
Xã trưởng, hương trưởng cùng toàn thể nhân dân trên dưới trong xã Lương Thâm huyện An Dương phủ Kinh Môn xây dựng đê đường.... lập ngoại đồng cùng bàn...
Xã chính kiêm Tổng chính cùng Cai huyện huyện Hoành Bồ An Đốc bá và Khoán thủ tổng do bản xã bầu..... Bùi Thế Tô.
Xã chính kiêm thư kí sư đạo bản huyện cùng Tổng chính và Thủ ước bản giáp Đinh Nhiệm Học.
Xã trưởng Phùng Hưng Nhượng, Hương ấp Nguyễn Quang Minh, Phùng Văn Chiêm, Sinh đồ Phùng Quế.
Xã trưởng kiêm Trinh thám bản huyện Lương Nghĩa bá Đinh Danh Sĩ, Xã trưởng kiêm Phó chính đội Lộc Triều hầu Lê Thế Huân, cai chích ninh hựu mãnh Tuyển Trung bá Lê Thế Hiển.
Xã trưởng kiêm Thư kí bản tổng - Đăng Doanh, cai chích ninh hựu mãnh - Dũng bá Phùng Đức Dung.
Thủ ước bản xã Nguyễn Kim Sơn tự Phúc Lệnh, Thủ ước bản xã cùng bản giáp Lê Đăng Cao tự Phúc Viên, Thủ ước bản xã Lê Đức Vọng tự Phúc Trung.
Sinh đồ bản xã ưng bảo các tên gồm Lương Quý Đức... (kê tên 6 vị) .
Thủ ước bản giáp các tên gồm Nguyễn Hữu Minh... (kê tên 9 vị) .
Lão nhiêu gồm Đinh Công Tôn ... ( kê tên 10 vị ) .
Dân đinh, đinh tráng Lâm... (kê tên 154 người ).
Ngày 24 tháng 4 năm Đinh Hợi ghi số người bao gồm 186 vị. Nguyễn Hữu Đức tự Trung Yên người xã Trung Hành vâng lệnh viết.
Nguyên văn chữ Hán:
始立外同碑
永盛三年孟夏月穀日良溪社王府侍文職監生武 [] [ ] 選記 .
今: 聖傳生聖 , 王繼為王 . 乘祖宗緒守之基 , 任社稄生靈之寄 . 立規摸 , 整法度 , 庶政昭然 ; 施號令 , 定章程 , 萬幾秩尔 . 泰和象睹 , 世回舜日之淳風 ; 遠國珍探 , 踵接夏朝而入貢 . 天下車書共混 , 國家年祚久長 . 繩繩培不拔之基 , 勢如盤石 ; 永永衍無彊之福 , 祥應瑞 [ ]. 凡為民也曾關夫本者農 , 處處咸趨樂業 , 人人共率歸農 . 農者貴田連阡陌 , 貴田連必須廣地 , 欲廣地必須闢田 , 田野闢則人民給 . 故良琛社原有地分林藪十世 [ ] 自夾琛補社界下至夾良溪社界 , 鹹水通流 , 海木成林 . 迺於庚辰年九月初二日本社自黎世蘇至丁文造等施財築立堤路以同 . 至乙酉年始稍成田 . 其本社分為逐分等 , 分田捌高半各任耕種傳子若孫永為己 [ ] [ ] 無碑內姓名不得妄行爭占 . 因此修造立碑以貽萬代以為免后言 , 其本社上下等共論立碑開陳于后.
計
荊門府安陽縣琅琛社社長鄉長民人上下等為築立堤路 ... 為外同共論 ...
社正兼總正同橫浦縣該縣安篤伯并本社應保券守總 ... 裴世蘇 ...
社正兼本縣書記師道同總正并守約本甲丁任學 .
社長馮興讓鄉邑阮光明馮文占生徒馮桂 .
社正兼偵探本縣琅義伯丁名士 . 社長兼副正隊祿朝侯黎世薰該隻寧右艋選中伯黎世顯 .
社長兼書記本總 [] 登嬴該隻寧右艋 -勇伯馮德容.
守約本社阮金山字福令.守約本社并本甲黎登高字福圓. 守約本社黎德望字福忠.
生徒本社應保等名梁贵德 ... ( kª tªn ) ...等。
守约本甲等名阮有明 ... ( kª tªn ) ...等.
老饒丁公孫... ( kª tªn ) ... 等.
民丁 , 丁壮林... ( kª tªn ) ... 等.
歲次丁亥年肆月貳拾肆日為編人數共百八十六人. 中行社阮有德字忠煙奉選.
* Bài viết này hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí qua đây chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Địa chí Hải Phòng. tập 1, Hội đồng Sử học Tp. Hải Phòng. Nxb. Sở Văn hóa - Thông tin, HP. 1990.
2.Thư mục văn bia Việt Nam. 31 tập (đánh máy), VNCHN, 1986,
3.Cơ sở văn hóa Việt Nam. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Nxb. Giáo dục, H. 1997.
4.Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng. Hội đồng lịch sử thành phố Hải Phòng, Nxb. Hải Phòng, 1998.
5.Văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Nxb. KHXH, H. 1993./.