32. Giới thiệu một số bài thơ trong tập Sơn cư bách vịnh mới được sưu tầm tại (TBHNH 2009)Thừa Thiên - Huế (TBHNH 2009)
GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI THƠ TRONG TẬP SƠN CƯ BÁCH VỊNH MỚI ĐƯỢC SƯU TẦM TẠI THỪA THIÊN - HUẾ
VŨ XUÂN HIỂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong chuyến đi sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2009 chúng tôi sưu tầm được cuốn sách 持名妙行論附居山百詠Trì danh diệu h¹nh luận phụ sơn cư bách vịnh. Chúng tôi xin được giới thiệu ở đây.
I.VỀ HÌNH THỨC VĂN BẢN
Sách có tên Trì danh diệu h¹nh luận phụ sơn cư bách vịnh với kích thước 15x20 cm, toàn văn chữ Hán, gồm 38 trang. Trong đó, phần Trì danh diệu h¹nh luận 14 trang, phần Sơn cư bách vịnh 24 trang với 100 bài vịnh thể thất ngôn tứ tuyệt. Câu đầu của các bài đều lấy chữ sơn cư (ở núi).
II.NIÊN ĐẠI VÀ TÁC GIẢ
Niên đại của văn bản được ghi là trùng san (khắc lại) vào năm Bảo Đại thứ 9 (1934), tàng bản tại Tam Tĩnh Cách, phường Vĩnh An, Kinh thành nội (Kinh thành nội, Vĩnh An phường, Tam Tĩnh Cách đường, tàng bản).
Tác giả của Sơn cư bách vịnh là Tăng Đặng Tín Khanh (鄧信卿) ở thảo đường Tam Tĩnh soạn; Giai nam Đặng Ngọc Chương (鄧玉樟) phụng khắc. Về tiểu sử của vị Tăng cũng như vị Giai nam này hiện chưa rõ, xin đề cập vào một dịp khác.
III.NỘI DUNG TÁC PHẨM
Sơn c bách vịnh (một trăm bài vịnh về việc ở trên núi) đề cập đến việc tu đạo ở trên núi với cuộc sống rất thanh đạm, tự do tự tại, lấy đó làm quý, khuyên răn mọi người chớ có coi thường, v.v...:
"Sơn c thanh khổ bất xa hoa,
Khách đáo hao thang tiện đương trà...
Sơn cư lệ lạc nhậm ngâm nga,
Phạn hậu trà lai khiển thụy ma.
Thế thượng hoàng kim hà túc quý,
Nhất thân an lạc trị tiền đa.
Sơn cư học đạo chỉ cầu tâm,
Hà tất khu khu hướng ngoại tầm.
Cử bộ tiện ưng đăng bảo sở,
Mạc tướng hoàng diệp đương chân kim".
Tạm dịch:
Ở núi, thanh bần vất vả chẳng xa hoa,
Khách đến canh rau thay làm trà...
Ở núi, tắm gội, ngâm thơ thỏa sức,
Cơm xong, trà uống, giấc mơ tiên.
Ở đời vàng bạc sao đủ quý,
Một mình an lạc, quý hơn tiền.
Ở núi, học đạo cốt ở tâm,
Hà tất khư khư ra ngoài tìm,
Bước chân lên đến tòa bảo tháp,
Chớ coi l¸ vàng làm hoàng kim.
Trên đây mới chỉ là vài dòng giới thiệu sơ lược về tác phẩm. Để tiện cho việc theo dõi, dưới đây chúng tôi xin trích dịch 8 bài vịnh như sau:
1. 山居葉落悉歸根
獨露真常顯法身
此事不明多費力
百城煙水渺無根
Tạm dịch:
Ở núi, lá rụng ắt về cội,
Sương móc luôn luôn làm ướt thân ta.
Việc ấy không rõ phí bao nhiêu sức?
Khói nước trăm thành mênh mang tỏa xa.
2. 山居清苦不奢華
客到蒿湯便當茶
具眼舌頭知味好
通身灑落早歸家
Tạm dịch:
Ở núi, thanh bần vất vả chẳng xa hoa,
Khách đến canh rau thay làm trà.
Mắt nhìn lưỡi nếm biết là ngọt,
LÖ trµn muèn sớm trë về nhà.
3. 山居客到問工夫
寂照雙忘一字無
莫怪老僧無法說
從來懶得起規模
Tạm dịch:
Ở núi, khách đến hỏi nhiều điều,
Lặng lẽ soi đèn, hai ta chữ quên nhiều.
Chớ trách sư già này không thuyết pháp,
Xưa nay lười nhác l¹i lµ khëi ®Çu cña chiªm nghiÖm.
4. 山居平地有深坑
只貴當人具眼明
伏虎降龍皆末事
法身不動悟無生
Tạm dịch:
Ở núi, chỗ đất bằng có hang thẳm,
Chỉ quý người đời có đôi mắt tinh.
Phục hổ hàng long là chuyện nhá,
Thân phép này không động, tỉnh ngộ vô sinh.
5. 山居高隱白雲中
多少盲迷不見蹤
向外尋真真轉遠
刻舟求劍枉施功
Tạm dịch:
Ở núi, ẩn mình trong mây trắng cao,
Mênh mang mờ mịt chẳng thấy nào.
Ra ngoài tìm thùc, thùc lïi xa m·i,
Khắc thuyền làm dấu tìm được sao).
6. 山居風物自天然
大道昭昭在目前
不識祖宗親密旨
徒勞念佛與參禪
Tạm dịch:
Ở núi, cảnh vật thật tự nhiên,
Đường lớn ngời ngời trước nhãn tiền.
Không ®îc tổ tông đích thân chỉ bảo,
Lµm sao nhọc lòng niệm Phật với tham thiền.
7. 山居灑落任吟哦
飯後茶來遣睡魔
世上黃金何足貴
一身安樂值錢多
Tạm dịch:
Ở núi, tắm gội, ngâm thơ thỏa sức,
Cơm xong, trà uống, giấc mơ tiên.
Ở đời vàng bạc sao đủ quý,
Một mình an lạc, quý hơn tiền.
8. 山居學道只求心
何必區區向外尋
舉步便應登寶所
莫將黃葉當真金
Tạm dịch:
Ở núi, học đạo cốt ở tâm,
Hà tất khư khư ra ngoài tìm,
Bước chân lên đến tòa bảo tháp,
Chớ coi l¸ óa vàng nh hoàng kim.
Tám bài thơ Sơn cư được trích ở trên, phần nào phản ánh được tâm thức của người tu hành lánh xa sự đời về cõi mơ tiên. Tu nhân dường như đã dần chuyển mình thành bộ phận không tách rời khỏi thiên nhiên, và họ muốn gửi nỗi niềm của mình vào cảnh vật nơi “sơn cư”, hòa trộn yếu tố vật chất thiên nhiên ấy với tư tưởng lánh thế của một bộ phận tu hành trong thời phong kiến, như một sự chối bỏ thực tế mà họ thấy nhàm chán và thừa thãi.
Mặc dù vậy, ở trong mỗi bài thơ Sơn cư vẫn hé lộ những nỗi niềm đau đáu của người đi ở ẩn hướng về đời thường, vẫn ít nhiều khó dứt khỏi cái duyên trần thế. Phải chăng đó là mâu thuẫn của những tác giả của những bài thơ Sơn cư trong việc lựa chọn môi trường sống, tu luyện và hành đạo?
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.406-411)