32. Tục bầu hậu Thần, hậu Phật qua một số tấm bia ở một làng quê Thái Bình (TBHNH 2003)
TỤC BẦU HẬU THẦN, HẬU PHẬT QUA MỘT SỐ TẤM BIA Ở
MỘT LÀNG QUÊ THÁI BÌNH
MAI HỒNG
Tiến sĩ. Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
Từ rất sớm người dân Việt Nam đã thấy rõ giá trị bền lâu của văn bia, cho nên bất kể những chuyện công ích trọng đại gì của cộng đồng làng xã thì họ cũng ghi tạc vào đá cứng để lưu giữ bền lâu. Với quan niệm của người xưa, chẳng có gì bền vững bằng tượng đồng bia đá. Vậy cho nên việc dựng cây cầu đá qua sông, việc mở chợ làm nơi trao đổi hàng hóa của dân thôn một xứ, khởi tạo hoặc tu bổ sửa ngôi đình làng, ngôi miếu ngôi đền thời thần, ngôi chùa thờ Phật, dựng gác chuông chùa, xây nhà thờ tổ của các dòng họ... nhất nhất người ta đều dựng bia để ghi nhớ (kỷ sự). Ngay như lịch sử một dòng họ, sự tích về các vị thần linh, bản khế ước, tục lệ, xã chí... cũng có thể được chép vào bia đá. Văn tạc vào đá là loại văn cực kỳ nghiêm cẩn (vì nó là lịch sử đá). Cho nên trong dân gian có câu: “Khôn văn tế dại văn bia”. Cho nên, tới bất cứ một làng quê nào trên đất nước Việt Nam người ta cũng được thấy những bài văn bia khắc đá này. Ngoài những văn bia kỷ sự, ta còn thấy một loại văn bia khá đặc biệt nữa đó là bia Hậu Thần (ở đình miếu) gọi là Hậu Thần bi ký; Hậu Phật ở chùa, có tên gọi là Hậu Phật bi ký). Hậu Thần, Hậu Phật là những người có công có đức sau khi được sự bầu chọn của toàn thể công đồng, hoặc đại biểu cho công đông làng xã: như Hội đồng sắc mục, Hội đồng tộc biểu thương lượng biểu quyết và thông qua, thì những người ấy được bầu làm Hậu Thần, Hậu Phật của làng được phối thờ với thần làng trong đền miếu phối thờ với Phật ở trong chùa. Việc làm như thế gọi là bầu hậu. Dân làng còn bàn bạc và quyết định thần hiệu cho Hậu Thần và piáp hiệu cho Hậu Phật, các nghi thức, các điều lệ và vật phẩm tế lễ Hậu Thần, Hậu Phật lâu dài về sau cũng đều được bàn bạc và quyết định qua ở hội nghị này. Tất thảy những thủ tục bầu hậu ấy đều được viết thành văn bản chép vào hương ước và ghi tạc lên bia đá để lưu truyền lâu dài mãi về sau, nên có tên chung là “Hậu Thần hoặc Hậu Phật bi ký”.
Chúng ta sẽ được hiểu rõ hơn về bia Hậu Thần, Hậu Phật trong sinh hoạt văn hóa tại các cộng đồng làng xã của người Việt cổ xưa qua một số tấm bia còn lưu giữ tại một ngôi đền của một làng quê Thái Bình như sau:
Gần đây, chúng tôi có dịp đi sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại một ngôi đền có tên là Đền Sảnh (ơÙ¯ă ), ở thôn Kim Ngọc, xã Liên Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (thời cổ xưa Kim Ngọc có tên Nôm là làng Vọc, thuộc xã An Lạc, tổng An Lạc, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam Hạ. (Tổng An Lạc, huyện Thần khê, phủ Tiên Hưng trước thế kỷ X là đất Đằng Châu - căn cứ địa của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch Hổ) - một trong 12 Sứ quân cho tới ngày nay chúng ta còn thấy hậu duệ của Phạm Bạch Hổ khá đông đúc. Tới cuối thế kỷ XIX nổi lên một vị võ tướng lừng danh đánh Pháp là Phạm Trọng Điển - Đốc Điển mà dân gian gọi tên là Đốc Đen, hiện có đền thờ ở thôn Quai, xã Đông Sơn. Đền Sảnh thờ Tản Viên Sơn thánh với câu: Phù Hùng chí thánh; bình Thục cao công (Bậc chí thánh giúp vua Hùng, Có công cao đánh giặc Thục). Và thờ Nam Hải Đại vương, Tam Kỳ Đại vương, Kim Trương Đại La, Thiên Quan Đông sứ với 18 đạo sắc thuộc triều Nguyễn tặng cho các vị thờ ở đây suốt từ thời Thiệu Trị 6 (1846) cho tới năm Khải Định thứ 9 (1925).
Số bia hiện diện ở đền Sảnh là trên một chục tấm trong đó có 6 tấm bia đều có tên là Hậu Thần bi ký và một quả chuông đúc năm Minh Mệnh 17 (1836) chép về việc đúc chuông và cũng nói về việc bầu hậu của địa phương. Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu theo lịch đại 9 tấm bia đó như sau:
Bia số 1: Hậu thần bi ký 後神碑記
Bia không ghi soạn giả, dựng ngày quý thu tháng 9 năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị 2 (1677) đời vua Lê Hy Tông. Bia 2 mặt.
Kích cỡ mặt tiền và mặt hậu 1,20x0,70m, có 15 hàng chữ viết theo hàng dọc từ trên xuống, mỗi hàng 22 chữ.
Nội dung: Các vị hương lão sắc mục thôn Kim Ngọc, xã An Lạc, huyện Thần Khê họp tại đình để xét bầu Hậu Thần. Chả là cuối vụ năm xưa vì thiếu tiền nộp quan trên. Quan đã cho người về tróc nã, nhưng vẫn không có tiền nộp. Bấy giờ tình hình rất gay gắt, may có ông Trùm trưởng người bản thôn tên là Nguyễn Phúc Hữu và vợ Nguyễn Thị Đài mang số tiền cần nộp hoàn nợ quan trên, tiền còn dư gán số hương hỏa cho ông bà. Nên số ruộng hương hỏa chỉ còn lại có một mẫu. Quan trọng là tránh được sự tróc nã của quan trên nếu không thì sẽ có một số người phải tù tội. Bởi thế dân làng trên dưới hồ hởi bầu ông bà làm Hậu Thần của làng và cùng dựng bia ghi việc.
Bia số 2: Hậu thần bi ký 後神碑記
Không ghi tên soạn giả, dựng ngày 11 tháng 3 năm Vĩnh Thịnh 5 (1709).
Bia 2 mặt, kích cỡ 1,10x0,65m, 15 hàng chữ, mỗi hàng trung bình 19 chữ.
Nội dung: Chép về cuộc họp giữa các quan viên và toàn dân thôn bàn bạc bầu vợ chồng ông Khúc Đình Tín và bà Nguyễn Thị Oanh hiệu là Diệu Ý làm Hậu Thần, vì ông bà đã xuất tiền nhà là 150 quan tiền cùng số ruộng, ao, vườn cộng là 1 mẫu 2 sào để làm hương hỏa cung phụng thần làng và ông bà trăm năm về sau đã được các quan viên và dân thôn quyết nghị dựng bia ghi nhận, kèm theo có lời chú ước: “Nghinh thần vị của Hậu thần về đình thờ tự”, nếu ngày sau có ai làm trái điều ước thì người trong bản tộc họ Khúc sẽ chiểu theo văn mà thi hành.
Xã trưởng Nguyễn Gia Xuân ký.
Bia số 3: Hậu thần bi ký 後神碑記
Không ghi tên người soạn giả. Bia dựng ngày 28 tháng 11 năm Gia Long thứ 8 (1809). Bia 2 mặt, khổ 1,30x0,70m, 16 hàng chữ, mỗi hàng 28 chữ.
Nội dung: Các vị Hương lão, Sắc mục thôn Kim Ngọc, xã An Lạc, tổng An Lạc, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng họp thương lượng công nhận và dựng bia kỷ niệm vị Hậu thần Nguyễn Trọng Hòa, thụy là Chất Trực cùng vợ cả Nguyễn thị cung tiến số tiền cổ 120 quan để tu bổ đền miếu thờ thành hoàng làng.
Các vị chức sắc tham hội nghị bầu Hậu Thần ký tên và tạc vào bia.
Cựu Hương mục Khúc Thời Lý, Hương lão Khúc Đăng Cung, Khán thủ Nguyễn Gia Đính, Hương trưởng Nguyễn Danh Thắng, Thôn trưởng Phạm Quý Giám. Xã trưởng Nguyễn Thời Kiêm. Thôn hạng Nguyễn Ngọc Tích cùng thượng hạ đồng thôn ký.
Bia số 4: Hậu thần bi ký 後神碑記
Bia dựng ngày 13 tháng 4 năm Gia Long 13 (1814). Bia 2 mặt khổ 1,20x0,65m, 8 hàng chữ, mỗi hàng 36 chữ.
Nội dung: Các Hương mục hào lý họp bàn và công nhận Hậu thần Nguyễn quý công, tự là Nhân Khương và Huyền Thông là một lãnh binh mãn khóa đóng công đức cho quỹ công ích là 70 quan tiền cổ. Hội nghị quyết định ghi ngày giỗ của Hậu Thần vào Hương ước. (Giỗ ngày 24 tháng 7 hàng năm) và cho con cháu trong gia tộc mang 100 miếng trầu cau ra đình để cúng tế rồi đưa bia về đình mà thờ phụng.
Họ tên những người cuộc họp bầu Hậu Thần.
Hương lão Nguyễn Khuê | Nguyễn Gia Đính |
Nguyễn Thời Xuân | Nguyễn Xuân Vi |
Nguyễn Danh Thắng | Ngô Doãn Giản |
Ngô Doãn Bát | Nguyễn Gia Bích |
Nguyễn Gia Si | Nguyễn Gia Yến |
Khúc Đình Trọng | Nguyễn Gia Kỳ |
Phạm Danh Vân | Nguyễn Quý Đoán |
Nguyễn Trọng Chiên | Nguyễn Gia Trường |
Hương trưởng Phạm Quý Gián | Nguyễn Duy Bồi |
Ngô Doãn Chất | Thôn trưởng Nguyễn Hòe |
Nguyễn Ngọc Quyền | Nguyễn Ngọc Khánh |
Ngô Thời Liêm | Nguyễn Ngọc Cường |
Nguyễn Trọng Tuyển | Nguyễn Trọng Tương |
Khán thủ Phạm Quý Uyên. Cựu xã trưởng Ngô Công Hằng ký.
Bia số 5: Hậu thần bi ký 後神碑記
Bia dựng tháng 12 năm Minh Mệnh thứ nhất (1820). Bia 2 mặt chính, khổ 1,20x0,62m, 14 hàng chữ, mỗi hàng 35 chữ.
Nội dung: Các vị quan viên chức sắc cùng đại biểu dân thôn họp tại đình chứng kiến việc mua Hậu Thần của ông bà Phạm Quý Giám và Khúc Thị Tý đã có hằng tâm lại có hằng sản tự xuất số tiền bạc của mình để cung ứng cho việc sửa sang miếu vũ là 150 quan tiền. Do công đức ấy toàn dân thôn trên dưới đều đồng lòng suy tôn ông bà họ Khúc làm Hậu thần của làng với bài vị Kỳ lão Thập Lý hầu (Lý trưởng) kiêm Trùm trưởng, Hậu thần Phạm quý công, tự là Trung Thể phủ quân và Kỳ lão Thập Lý hầu kiêm Trùm trưởng Hậu thần Phạm quý công Chính thất (vợ cả), hiệu là Minh Cần nhụ nhân. Danh sách họ tên tham gia Hội nghị bầu Hậu như sau: Hương lão Nguyễn Quý Đoán, Nguyễn Trọng Hiền, Nguyễn Danh Bao, Nguyễn Gia Cấp, Khúc Đăng Huy, Thôn trưởng Nguyễn Trọng Tuyển, Khán thủ Nguyễn Công Hồng.
Viết văn bia người xã An Lạc Nguyễn Tiêm ký.
Bia số 6: Hậu thần bi ký後神碑記
Ngày tốt tháng 4 năm Minh Mệnh 12 (1831) dựng bia. Bia 2 mặt: khổ 1,10x0,70m, 18 hàng chữ, mỗi hàng 34 chữ.
Nội dung: Quan viên chức sắc dựng bia ghi công đức Hậu thần là Tiền Thập lý hầu Nguyễn quý công, tự là Trọng Hiền, thụy là Phúc Trung Phủ quân đã xuất 60 quan tiền xanh cổ để chu cấp cho việc tu tạo Tứ miếu vào năm Canh Thìn (1820). Nay dân làng có lời minh khen rằng:
Huệ duy lương chất | Tự xuất đình môn |
Tính hồn sở phú | Đức túc hữu ngôn |
Hữu từ tích khánh | Kế tước đạt tôn |
Bồng như xuất sắc | Phần tân mông ân |
Tăng Quang tiền liệt | Thùy dụ hậu côn |
Phiến đan như họa | Thiên tải vĩnh tồn |
Cử tọa cùng ký.
Họ tên những vị tham gia Hội nghị bầu Hậu Thần.
Nguyễn Quý Đoán, Nguyễn Thời Thảnh, Nguyễn Trọng Tuyển, Phạm Trọng Đông, Khúc Đăng Huy, Nguyễn Ngọc Chấn, Nguyễn Nhân Hán, Đỗ Văn Mục, Ngô Doãn Thượng, Nguyễn Xuân Vi, Nguyễn Thương đồng tộc cùng ký.
Bia số 7: Hậu Phật tượng bi 後佛像碑
Bia tượng Hậu Phật 2 mặt. Khổ 1,40x0,80m. Có nhiều chữ Hán và chữ Nôm nhưng bị mờ nhiều vì rêu phong. Không rõ niên đại dựng bia.
Về nội dung chỉ ghi lại những điều cốt yếu của Hậu Phật là Nguyễn Thị Em, hiệu là Diệu Thọ. Cụ là người có hằng tâm hằng sản đóng góp nhiều cho việc xây dựng tu bổ cho các công trình văn hóa đình chùa của làng. Từ trước đã được dân bầu làm Hậu Phật và đã có khoán ước của làng ghi rõ. Nay được con cháu cụ lại có nguyện vọng xin làng tạc tượng. Vậy nên, các vị quan viên chức sắc họp để chuẩn cho con cháu cụ được tạc tượng đá để phối thờ Phật ở chùa làng(+) (chùa làng trước đây rất to nhưng bị giặc Pháp đốt, nên một số tế khí của nhà còn sót đưa về đền Sảnh lưu giữ: Chuông chùa đúc thời Minh Mệnh 17 (1836), cao 1,30 và bia tượng Hậu Phật).
Những vị chức sắc trong làng đến chứng kiến việc tạc tượng của con cháu Hậu Phật như: Xã trưởng Nguyễn Gia Xuân, Nguyễn Gia Khoan, Ngô Đăng Đài, Ngô Đăng Xuân, Nguyễn Trọng Nho, Nguyễn Tài Hiền, Khúc Văn Mậu, Nguyễn Công Dụng,v.v...
Từ Hậu Thần, Hậu Phật được làng xã tôn bầu đã là một vinh dự rất lớn rồi, nhưng người được tạc tượng đồng bia đá lại là một sự tôn vinh đặc biệt hiếm hoi nữa đối với những người có tâm đức sống trong cộng đồng làng xã thời xưa.
Đôi điều nhận định:
Nếu tính thời gian từ tấm bia Hậu số 1 vào năm 1677 đến tấm bia hậu số 6 vào năm 1831 với thời gian là 154 năm (chưa kể bia tượng Hậu Phật số 7)(+) có 6 lần bầu Hậu. Thời Lê 2 lần: một lần vào năm 1677 và một lần vào năm 1709, hai lần bầu Hậu cách 32 năm; Thời nhà Nguyễn 4 lần: 1809, 1814, 1820, 1831; Đời vua Gia Long 2 lần: 1809, 1814, giữa hai lần bầu này chỉ cách nhau 5 năm; Đời vua Minh Mệnh 2 lần: 1820, 1831, trong khoảng 11 năm. Tính từ bia Hậu cuối cùng của thời Lê mà chúng ta biết được vào năm 1709 tới tấm bia số 3 đầu thời Nguyễn Gia Long (1809) đúng tròn 100 năm. Nếu cứ tính theo khoảng cách thời gian bầu Hậu của thôn Kim Ngọc thuộc thời Lê và thời Nguyễn, biết rằng số bia ở thôn này đã bị thất lạc nhiều trong thời gian 100 năm đó.
Vì vậy, tục bầu Hậu là nếp sinh hoạt văn hóa cao đẹp trong chốn làng xã của người Việt cổ. Nó mang đậm tính nhân văn và tính khuyến thiện rất lớn như câu trong bài minh chuông đã nói lên quan niệm sống của người dân sống trong cộng đồng làng xã xưa: Phú giả thiên chi cơ; thiện giả phúc chi báo (Phúc là nền móng của cái thiện; người làm điều thiện sẽ được cái phúc báo). Cũng bởi thế mà bia Hậu Thần, Hậu Phật cũng là một di sản văn hóa thành văn độc đáo của ông cha chúng ta từ ngàn xưa lưu lại mà giới nghiên cứu ngày nay nên lưu tâm để nghiên cứu, khai thác đúng với các giá trị của chúng trong kho tàng di sản văn hóa thành văn hơn nữa.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.270-277