32. Viên gạch in chữ “Thu Vật huyện”, “Thu Vật hương” phát hiện tại khu di tích hoàng thành Thăng Long
VIÊN GẠCH IN CHỮ "THU VẬT HUYỆN, THU VẬT HƯƠNG" PHÁT HIỆN TẠI KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
ĐỖ DANH HUẤN
Viện Sử học
Tại Khu Di tích Hoàng thành Thăng Long 18 Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội, trong quá trình khai quật, chúng tôi đã làm phát lộ một phức hợp di tích, di vật thuộc nhóm vật liệu kiến trúc hay các đồ vật thuộc nhóm gốm sứ, gốm sành... trong số hàng vạn di vật đó, có nhiều di vật đã được khắc in chữ Hán. Trong thông báo này, chúng tôi xin giới thiệu một viên gạch có khắc in dòng chữ Thu Vật huyện, Thu Vật hương - 收 物 縣收 物 鄉.
Về đặc trưng, viên gạch có màu đỏ, hình hộp chữ nhật (hay còn gọi là gạch vồ), kích thước 42,5x24x11,5cm, đây là viên gạch có kích thước lớn. Do xuất lộ nằm trong tầng văn hóa thời Hậu Lê, hơn thế nữa nó là một loại gạch xuất hiện phổ biến trong các di tích thời hậu Lê, nên bước đầu chúng tôi định niên đại của viên gạch thuộc niên đại hậu Lê. Gạch không có hoa văn trang trí, các mặt đều để trơn, duy nhất có một mặt được khắc in dòng chữ 收 物 縣 收 物 鄉. Chữ khắc in trên gạch được khắc bằng khuôn in nên đã để lại nét chữ trên mặt gạch mịn, đều đầy đặn mà hoàn toàn không phải viết bằng tay. Di vật này nằm trong hố khai quật B18 và thuộc lớp khai quật thứ 3 - ký hiệu Khảo cổ học: BĐ 02. B18. L3.
Từ tư liệu thực tế kết hợp với sử liệu ghi chép trong sách sử, chúng tôi đi đến tìm hiểu dòng chữ được khắc in trên viên gạch kia.
Sách Nguyễn Trãi Ức Trai di tập dư địa chí có chép: “Phủ Yên Bình có 1 huyện, 5 châu, 282 xã: huyện Phúc Yên có 73 xã; châu Thu Vật có 55 xã; châu Lục Yên có 40 xã; châu Đại Man có 34 xã; châu Vị Xuyên có 60 xã; châu bảo lạc có 20 xã...”(1). “Tuyên Quang thời Lê chỉ có 1 phủ là Yên Bình (như thế đất phủ là đất đạo). Đến năm Nguyễn Minh Mệnh thứ 16 (1835), cắt châu Thu (thời Lê là Thu Vật), Lục Yên, Hàm Yên, (đời Lê là Phúc Yên)” và huyện Vĩnh Tuy đặt làm phủ Yên Bình, đổi Đại Man ra Chiêm Hóa, chia Bảo Lạc ra làm hai huyện Vĩnh Điện và Để Định, cùng với huyện Vị Xuyên, đặt làm phủ Yên Ninh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), lại đổi phủ Yên Ninh ra phủ Tương An”(2). “Châu Thu Vật thời Lê tức là Thu Vật thời Trần (theo Đại Nam nhất thống chí). Nguyễn sơ cũng gọi là châu Thu Vật. Đến năm Nguyễn Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi châu Thu Vật ra Thu châu. Hiện nay là đất huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”(3).
Sách Lịch triều hiến chương loại chí chép: Phủ Yên Bình: có 1 huyện, 5 châu: Châu Thu Vật; Châu Lục Yên; Châu Đại Man; Châu Vị Xuyên; Châu Bảo Lạc. “Giữa đời Lê gặp lúc suy yếu, Vũ Văn Uyên giữ châu Thu Vật, nghe tin Trang Tông lập nên, sai sứ mang tờ tấu đến chỗ vua đóng...(4)
Sách Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh Tuyên Quang chép: “Châu Thu: Đông Tây cách nhau 57 dặm, Nam Bắc cách nhau 43 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Hàm Yên và địa giới huyện Tây Quan tỉnh Sơn Tây 18 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Trấn Yên, tỉnh Hưng Hóa 39 dặm, phía Nam đến lâm phận huyện Hạ Hòa, tỉnh Sơn Tây 14 dặm, phía Bắc đến khe bé châu Lục Yên 29 dặm. Đời Trần là huyện Thu Vật, thời thuộc Minh vẫn theo như thế; đời Lê đổi làm châu. Nguyên trước Thổ tù họ Vũ nối đời quản trị, đầu bản triều vẫn theo như thế,do thổ quan quản trị, năm Minh Mạng thứ 3, đổi tên hiện nay, năm thứ 16, đổi đặt lưu quan, do phủ Yên Bình kiêm lý. Lãnh 8 tổng, 39 xã thôn”(5).
SáchĐại Việt địa dư toàn biên, phầntỉnh Tuyên Quang chép:“Tuyên Quang là nước Văn Lang đời xưa, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Đầu nhà Trần thuộc lộ Quốc Oai, gọi là châu Tuyên Quang, sau đổi làm trấn. Thời thuộc Minh đổi gọi là phủ Tuyên Quang (có 9 huyện là Đương Đạo, Văn An, Bình Nguyên, Để Giang, Thu Vật, Đại Man và huyện Khoáng, huyện Dương, huyện Ất (Dương Đạo, Để Giang nay thuộc tỉnh Sơn Tây)”(6). “...đời Lê năm Thuận Thiên thuộc Tây đạo, năm Quang Thuận đặt làm Tuyên Quang thừa tuyên. Có 1 phủ (An Bình, 1 huyện là Phúc An), 5 châu (là Thu Vật, Đại Man, Bình Nguyên, Bảo Lạc, Lục Yên) sau đổi là Minh Quang”(7).Phần thuộc Phủ Bình Yên lại chép: “Phía Tây Nam cách tỉnh 37 dặm, lĩnh 1 châu, 2 huyện, tính nhiếp 1 châu. Châu Thu (thời thuộc Minh gọi là huyện Thu Vật, đời Lê đổi là châu. Bản triều năm Minh Mệnh thứ 3, đổi tên là châu Thu, có 8 tổng, 39 xã, thôn)”(8).
SáchĐồng Khánh địa dư chí, phần tỉnh Tuyên Quang chép: “Thu châu do phủ Yên Bình kiêm lý. Châu hạt (Sách chú thêm tên về Châu hạt: Thu Châu, tên châu đặt từ thời thuộc Minh (Theo THQQ), nhưng cũng có khả năng đã từ thời Trần (như cách hiểu của ĐNNTC), là châu Thu Vật. Qua các đời cho đến đầu Nguyễn không đổi. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi là Thu châu, vẫn đặt thuộc phủ An Bình. Vì Thu châu do phủ An Bình kiêm lý, nên sau 1945, bỏ cấp phủ, Thu châu đổi thành huyện Yên Bình. Nay là huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”. tr.862) phía Đông giáp giới huyện Hàm Yên, phía Tây giáp giới huyện Trấn Yên, tỉnh Hưng Hóa, phía Nam giáp giới huyện Tây Quan, tỉnh Sơn Tây, phía Bắc giáp giới châu Lục Yên. Đông Tây cách nhau 3 ngày đường, Nam Bắc cách nhau 2 ngày đường. Châu có 8 tổng, gồm 40 xã, phường”(9). “Tổng Ngọc Chấn có 6 xã: xã Ngọc Chấn, xã Thu Vật, xã Bình Mục, xã Hướng Dương, xã Dịch Dương, xã Xuân Sinh”(10). Các tổng bao gồm: tổng Cẩm Nhan, tổng Ẩm Phúc, tổng Vĩnh Kiên, tổng Cảm Ân, tổng Mông Sơn, tổng Đại Đông, tổng Đạo Ngạn, tổng Ngọc Chấn.
SáchTên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, chép xứ Tuyên Quang có: 1 phủ, 1 huyện, 5 châu, 38 tổng, 256 xã, thôn, phường, vạn, phố. Phủ Yên Bình gồm: Huyện Phúc Yên, châu Lục Yên, châu Thu Vật, châu Vị Xuyên, châu Bảo Lạc, châu Đại Man. Châu Thu Vật có 7 tổng, 38 xã, thôn, phường. Các tổng gồm: Tổng Vĩnh Kiên, tổng Đại Hồng, tổng Ẩm Phúc, tổng Cảm Nhân, tổng Mông Sơn, tổng Ngọc Chấn có 6 xã: Ngọc Chấn, Địch Dương, Xuân Kỳ, Bình Mục, Thu Vật và Hướng Dương, tổng Thì Ngạn(11).
Như vậy, đây là một viên gạch có khắc in tên địa danh hành chính trong lịch sử, trải qua các triều Trần, đến hậu Lê và Nguyễn sau này, địa danh đó vẫn được bảo lưu, khi là huyện Thu Vật, khi là châu Thu Vật, có lúc đặt ở dưới cấp đơn vị hành chính tổng, lại có địa danh mang tên xã Thu Vật. Ngày nay, địa danh Thu Vật tương đương với huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Song, ở thông báo này điều chúng tôi muốn quan tâm tới sự hiện diện của nó trong quá trình xây dựng Hoàng thành Thăng Long như thế nào: có thể do chính quyền trung ương có chính sách bắt buộc đối với nhân dân trong cả nước phải đóng góp nguyên vật liệu xây dựng mà hương Thu Vật, huyện Thu Vật là một ví dụ, hay là một hình thức cống vật nào đó... vấn đề này còn đang là một câu hỏi mở.
5 Đại Nam nhất thống chí, tập 4, Nxb, Thuận Hóa, Huế, 1992, tr.336.
11 Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nxb. KHXH, H. 1981, tr.88./.