VI | EN
33. Miếu Trung Liệt.
tb2006

MIẾU TRUNG LIỆT

 HOÀNG THỊ MAI HƯƠNG

Quận Thanh Xuân - Hà Nội

Nằm trong di tích gò Đống Đa, miếu Trung Liệt đã bị phá hủy, ngày nay chỉ còn trơ nền móng; tam quan nhỏ bé khiêm nhường và hoang phế, nép ở bên phải gò. Nếu không để ý không ai nghĩ rằng đây từng là nơi khá khang trang nghiêm kính thờ các bậc trung quân tuẫn quốc, sống chết gắn bó với Hà Thành buổi đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Lối vào cổng là mái tam quan hai lớp, lớp dưới có hàng chữ Trung Liệt miếu. Chính giữa là đôi câu đối do Vũ Phạm Hàm soạn:

“Thử thách quách, thử giang san, bách chiến phong trần dư xích địa,

Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thiên niên tâm sự công thanh thiên”.

(Vẫn thành quách, vẫn non sông, trăm trận xông pha còn đất đỏ,

Nào nhật tinh, nào hà nhạc, ngàn năm tâm sự có trời xanh).

Lớp trên là hai đôi câu đối:

Một là:

“Nhất thủy niêm thiên dư thắng địa

Bán sơn ủng miếu độc đài”

(Dải nước in trời còn thắng địa

Gò cao ôm miếu vút một đài).

Hai là:

“Thế sự vạn nan tồn tín sử

Tinh trung nhất mạch kiến niêm từ”

(Thế sự khó thay lưu sử sách

Tinh trung mãi mãi lẫm uy đền)

Mặt sau cổnglà đôi câu đối viết theo theo lối chữ triện:

“Bách niên thế, bách niên tâm, tiết liệt cao huyền tinh Bắc Đẩu

Thiên tải thượng, thiên tải hạ tinh linh trường tại Nhĩ Nùng gian"

(Tuổi trăm năm, nỗi trăm năm, tiết liệt soi cao cùng Bắc Đẩu

Ngàn năm trước, ngàn năm sau, tinh linh sống mãi giữa Nhị Nùng).

Qua cổng miếu, bước lên vài bậc rêu phong, tới một đài cao, chỉ thấy gạch vụn ngổn ngang cỏ dại um tùm chen chúc. Bia Trung Liệt xưa ở chốn nao? Nào đâu “Gò cao xanh rợp tốt tươi... Non voi nằm ngay giữa, bên phải uốn dòng Tô, từng là nơi núi sông trăm trận, đỏ đất chiến công... Che lấp hẻm sâu phía trước vài lớp cung tường; thấp thoáng ráng mây trôi, nắng mưa bia gội... Trèo lên xem xét, khí tượng muôn vàn; có tháp có lầu, có hiên có mái. Trinh tùng rợp nắng, cột đá vương sương; chất ngất điệp trùng, đài cao xuyên khói” khiến cho “Luôn luôn sứ tướng dừng xe, các quan ghìm ngựa, lên đền này tưởng chuyện xưa, cảm cho vật đổi sao dời, nhớ lại một thời xa vắng. Khói hương phảng phất như có hồn về; vẫn thấy oai nghiêm, tựa còn sinh khí”.

Miếu Trung Liệt một danh tích của Thăng Long trước kia được xây dựng vào đời Lê Hy Tông nằm ở phường Yên Hoa huyện Thọ Xương. Miếu thờ Quan đế và Tuẫn ? đệ nhất công thần Lê Lai. Sự kiện này đã được ghi vào sách sử. Đến cuối thế kỷ XIX để kết hợp với việc thờ phụng tôn vinh Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu - tấm gương trung quân ái quốc quên mình triều Nguyễn đã cho dời xây miếu Trung Liệt ở gò Đống Đa phối thờ các gương Trung Liệt thời Lê Trung hưng - Nguyễn. Miếu được hoàn thành năm Bính Tuất 1886. Sau thờ thêm Trương Quốc Dụng và Đoàn Thọ.

Sĩ tử Phạm Vũ Đức trong bài phú Trùng tu Trung Liệt miếu(*) đã tái hiện toàn cảnh miếu Trung Liệt sau khi trùng tu.

Phiên âm:

Từ thành ngoại chi Nam, Long Biên chư thắng chi nhất dã.

Canh Dần chi thu thất nguyệt, sóc nhật hưu công tạo thành, yên tự ký tất.

Túc thanh cao hề lưu hồng danh; cải tráng quan hề long hưởng hật.

Tang hải kỷ kinh biến cố, đại tiết y y.

Giang sơn hữu hạnh chủ trương, tân từ ngật ngật.

Tích Tống Khê công mộ trung nghĩa lục:

Trương Diệp Thống, Đoàn Thái Bảo, Nguyễn Trung Quân, Hoàng Tổng đốc, thời cũng tiết kiến, thần kinh quỷ khốc.

Tuế hàn bảo trinh kiên, cô trung nhưng biểu bộc.

Cảm chiến tranh chi vãng sự, bằng điếu tích nhân; Triệu tự điển ư đương niên, viên mưu bốc trúc.

Trung Liệt tứ công, đường đài nhất thốc.

Đắc tân thử ư cố quận, hoảng đan thanh kỳ tại mục.

Kim thùy ta chi kế quyết mĩ, hựu thùy biểu chi kích thanh phong.

Ngã Hoàng tướng công ta, tuân vu kiêm Đồng, Vĩnh Thuận chi nam hữu phụ tư sùng.

Uất uất thông thông, trùng trùng điệp điệp.

Tô thủy nhiễu kỳ hữu, Tượng sơn cư kỳ trung.

Tằng kinh bách chiến sơn hà, không dư xích địa; độc dư thập niên thành quách, tủng nhất cô phong.

Nãi di trúc vu kì thượng, cái dĩ thùy chi vô cùng.

Duyệt nguyệt thành chi, điệp điệp nguy nguy.

Hạc mộ quy hề như Tạ công chi cố lũy; thần hoảng lai hề như Trương Hứa chi di từ.

Thê phong hiệu hề như Triệu Đô đốc sinh tiền chi cảm; ô suyễn yết hề như Lộng Tướng quân một hậu chi bi.

Bất nhật hà minh, bất tinh hà huy, bất hà hà thanh, bất nhạc hà kỳ.

Lăng Lăng nham tụ chi tiễn cung tướng sổ nhận; ẩn ẩn vân hà chi tế, phong vũ nhất bi.

Sổ thập niên tâm sự trùng đề, sương tiêu tuyết tháo; thiên vạn cổ cương thường sở hệ, thiên trụ địa duy.

Trắc nhi quan yên, khí tượng vạn thiên; hữu lâu hữu tháp, hữu đình hữu hiên.

Trinh tùng tệ nhật, thạch trụ lăng yên; lăng nhiên tằng nhiên, sùng đài sáp thiên.

Thắng ư Quý Mùi sáng tạo chi sơ niên dã.

Đãng đãng bình bình đại đáo đương tiền; tráng ư tân văn Hoàn thành chi điền huyê dã.

Đống Vũ canh tân, mãn mục chi giang sơn cải sắc; tinh trung nhất phiến, bản không chi nhật nguyệt cao huyền.

Hồi khan Sầm Thú cựu đồn, hồn phong vị dẫn; phủ giám Đông Quang tân tự, thần thái vô biên.

Dĩ Lạng Sơn chiến trường chướng lô thu hĩ.

Quảng Yên trần tích, thủy đồng lưu hĩ.

Nùng Sơn thanh u, quy mã ngưu hĩ.

Nhĩ thủy du du, tức kình thu hĩ.

Trướng y nhân chi vân viễn, không kính tiết chi do lưu; linh sở thức bằng, biệt tịnh càn khôn chi thốn thổ.

Danh ưng bất hủ, truyền thuyết thực ư thiên thu; phù kiệt tiết ư quân nhi thùy danh ư thế giả.

Tử đường vi thần, triều thủy ư tích nhi, quan thành ư kiêm giả; quyền tại chấp chính, phỉ chuyên thiếu chi vi ngu, thực danh tiết chi vi chính.

Sở dĩ yết dương ký vãng, bổ sơ giản chi lậu biên; cố nghi phù thực tương lai, yết tử thần chi minh kính năng.

Thử địa chi tùng vân, tự tại hoài bất vong.

Lịch niên chi đông vũ thường tân, chiêu giả khởi kính.

Thời tắc sứ tướng trì xa, quần công chấp bí, đăng tư từ, hoài vãng sự.

Khái tính vật chi hoán di, tài trở đậu chi du thủy.

Tế chi phảng phất yên như hữu thần tại; vọng chi lâm lâm nhiên như hữu sinh khí.

Công ư thị suyền kỳ cáo quy, vị nhị, tam đồng chí viết:

Mỹ tai quyết thành, quang viễn nhi thanh tụy.

Khả lệnh Tử khâm phú chi, dĩ ký ngã Long Biên danh thắng địa.

Dịch nghĩa:

Phú Trùng tu miếu Trung Liệt

“Đền ở phía Nam ngoại thành là một trong danh thắng Long Biên.

Canh Dần tháng bảy, mùng một ngày thu.

Trời đất tế xong, tập trung xây dựng.

Nghiêm túc thanh cao, nêu tiếng tốt; lớn lao cảnh tượng, dội muôn nơi.

Bể dâu bao lần thay đổi, tiết lớn như xưa; giang sơn may có chủ trương, đền cao chất ngất.

Xưa Tống Khê công một lòng trung nghĩa ghi lại mai sau tấm gương tiết liệt.

Trương Diệp thống, Đoàn Thái bảo, Nguyễn Trung quân, Hoàng Tổng đốc.

Thời cùng nêu khí tiết, quỷ khóc thần kinh; tiết lạnh vẫn kiên trinh, cô trung ngời sáng.

Cảm chuyện xưa chinh chiến, theo dấu cổ nhân; tính xây lại năm nay, bàn mưu bấm đốt.

Trung Liệt bốn ông, đường dài một cụm.

Được mới ở quận cũ đất này, bao nét khéo hiện lên trước mắt.

Nay ai tu sửa, nối cái đẹp xưa; rồi ai phát huy, nâng thành truyền thống.

Hoàng tướng công ta hỏi ở Kiêm Đồng, phía nam Vĩnh Thuận, có một gò cao xanh rợp, tốt tươi, trùng trùng điệp điệp.

Non cao nằm ngay giữa, bên phải uốn dòng Tô.

Từng là nơi núi sông trăm trận, đỏ đất chiến công; vốn sống với thành quách mười năm, núi cao một ngọn.

Bèn chuyển lên xây ở đó để lưu mãi mãi muôn đời.

Một tháng thì xong, trùng trùng điệp điệp.

Hạc chiều bay lại, ngỡ là lũy cũ Tạ công(**); thần chợt đến đây, tưởng chính đền xưa Trương Hứa(**).

Gió lay hiu hắt như cảm thương Triệu Đô đốc(**) lúc sinh thời; quạ rúc thê lương tựa chia buồn Lộng Tướng công(**) khi tạ thế.

Không mặt trời sao tỏ, không tinh tú sao minh, không có sông đâu soi, không có gò đâu dựa?

Che lấp hẻm sâu phía trước, vùi lấp cung tường; thấp thoáng trong dáng mây trôi, nắng mưa bia gội.

Mấy mươi năm tâm sự vẫn nêu, sương tiêu tuyết tháo; ngàn vạn cổ, cương thường còn buộc, lưới đất trụ trời.

Trèo lên xem xét, khí tượng muôn vàn, có tháp có lầu, có hiên có mái.

Trinh trùng rợp nắng, cột đá vương sương.

Chất ngất điệp trùng, đài cao xuyên khói.

Hơn cả đầu năm Quý Mùi, đạo lớn bao la trước mắt.

Hùng tráng cả tân văn, chốn hoàng thành nức tiếng.

Cột mái mới thay, đổi cả sơn hà cảnh sắc; tâm trinh một tấm, treo cao vằng vặc giữa trời.

Ngoảnh lại, đồn xưa Sầm thú chưa mất hùng phong; cúi trông chùa mới Đồng Quang vô biên thần thái.

Chiến bại Lạng Sơn, chướng khí chẳng còn.

Vết bụi Quảng Yên, triều đông cuốn sạch.

Núi Nùng u nhã, trâu ngựa đã về.

Sông Nhĩ mênh mang, sóng kình đã lặng.

Than ôi người xưa đã vắng, trời xanh hùng tiết còn lưu; miếu nay nghiêm kính thiêng liêng, tất đất dành riêng thanh tịnh.

Danh thơm bất hủ, tế tự ngàn năm.

Tuẫn tiết vì vua, sống cùng trời đất.

Chết đáng làm thần, mở mang bờ cõi, thành tựu mai sau.

Quyền khi chấp chính chẳng lấy vui mừng, tiết danh thêm trang chính trực.

Cho nên nêu gương quá khứ, sử sách đời sau.

Đáng để vun đắp tương lai, ngời gương con cháu.

Trùng mây nơi đây quấn quýt, vĩnh viễn không quên; đống vũ đổi mới thường xuyên, sinh lòng kính phục.

Luôn luôn sứ tướng dừng xe, các quan ghìm ngựa,

Lên đền này, tưởng chuyện xưa, cảm cho vật đổi sao dời, nhớ lại một thời xa vắng.

Khói hương phảng phất như có hồn về; vẫn thấy oai nghiêm tựa còn sinh khí.

Tướng công lúc đó vội vã trở về nói với vài ba người đi cùng:

Chuyện tốt đẹp đã hoàn thành, hình bóng dẫu xa, thanh danh còn mãi, lại lệnh cho Tử Khâm làm phú để ghi chép lại danh thắng Long Biên ta”.

Bài phú của Phạm Vũ Đức, qua việc khắc họa lại một cách sinh động quy mô cảnh quan của di tích miếu Trung Liệt cách đây tròn 120 năm đã để lại cho chúng ta biết bao niềm cảm khái về nơi địa linh - Thăng Long. Đáng tiếc di tích này giờ đây còn lại chẳng là bao và đang bị lãng quên. Nên chăng ở nơi đây dựng tấm bia vẽ lại địa đồ và giản lược giới thiệu về di tích miếu để tăng thêm phần ngưỡng mộ của người Hà Nội và du khách tới thăm viếng.

Chú thích:

(*) Ở trong tập Tinh nghĩa thi phú văn sách hợp sao, kí hiệu A.2024/3, chuyển từ các trường thi thời Nguyễn, không ghi rõ năm nào trường nào, hiện lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

(**) Tạ công, Trương Hứa, Triệu Đô đốc, Lộng Tướng công: hiện chưa tra cứu được là ai./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.342-349)

Hoàng Thị Mai Hương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm