VI | EN
33. Một lệnh chỉ thời Lê Cảnh Hưng (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

MỘT LỆNH CHỈ THỜI LÊ CẢNH HƯNG

TẠ NGỌC LIỄN

Viện Sử học

Cách đây ít năm tôi có chụp lại bản Lệnh chỉ cổ, ghi niên hiệu Cảnh Hưng 28 (1768) của họ Đỗ ở Đông Ngạc (Kẻ Vẽ), Từ Liêm Hà Nội. Văn bản Lệnh chỉ này viết trên giấy bản, gồm 3 tờ gập đôi (6 trang) đóng thành sách, khổ 0,40m x 0,28m có 439 chữ chính văn và dòng lạc khoản: “Cảnh Hưng nhị thập bát niên, thập nguyệt, nhị thập nhị nhật”.

Nội dung của Lệnh chỉ là quyết định phong tặng Luyện quận công Đỗ Thế Giai làm Luyện Trung công, khen phong làm Thượng đẳng phúc thần và ban cho tiền gạo thuế hàng năm để chi phí vào việc tế tự. Lệnh chỉ này do Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm phát ra. Đây là một tài liệu lịch sử quí, vì:

1- Loại hình văn bản Lệnh chỉ thời Lê - Trịnh còn lưu được tới nay có thể nói là rất hiếm.

2- Trong bản Lệnh chỉ này chứa đựng một số thông tin có giá trị về kinh tế ruộng đất ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Trước khi giới thiệu nội dung tờ Lệnh chỉ, tôi xin nói qua đôi nét về Đỗ Thế Giai, một nhân vật có quyền thế và tiếng tăm thời Lê - Trịnh.

- Đỗ Thế Giai quê ở Đông Ngacj, sinh năm 1709 (Vĩnh Thịnh 5), mất năm 1766, thọ 58 tuổi. Dưới thời Lê - Trịnh, chủ yếu là Trịnh Doanh và Trịnh Sâm, Đỗ Thế Giai từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Trung quân Đô đốc phủ Tả đô đốc thự phủ sự và Đại tư đồ, tước phong Luyện quận công. Thành tích lớn nhất trong cuộc đời làm quan của Đỗ Thế Giai là tham gia đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa, trong đó có cuộc khởi nghĩa lớn Nguyễn Danh Phương (nổi dậy ở vùng Tam Đảo - trấn Sơn Tây). Đỗ Thế Giai được chúa Trịnh Doanh, Trịnh Sâm rất tin tưởng, trọng dụng (Trịnh Doanh đã từng ngủ đêm tại nhà Đỗ Thế Giai ở Đông Ngạc) (Về phương diện văn học, Đỗ Thế Giai viết văn xuôi (Khải văn, điều trần) và làm thơ bằng chữ Nôm khá hay, khá nhiều).

- Nội dung lịch sử trong Lệnh chỉ:

Mở đầu Lệnh chỉ viết: “Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Đô vương lệnh chỉ Từ Liêm huyện, Đông Ngạc xã…”

Từ “lệnh chỉ” ở đây có nghĩa là mệnh lệnh ban bố ra, đồng thời Lệnh chỉ còn là một loại văn hành chính của Nhà nước, giống như Dụ chỉ, Chiếu chỉ… Nhưng trong một số từ điển Trung Quốc, kể cả Từ hải, không có từ Lệnh chỉ. Trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh có từ Lệnh chỉ và được giải nghĩa là “mệnh lệnh của Hoàng thái hậu”. Tôi chưa có thì giờ tra cứu lại gốc gác từ “Lệnh chỉ”, song tôi nghĩ nó là một danh từ riêng, đặc thù, chỉ một hình thức văn bản hành chiính quan trọng để chúa Trịnh dùng. Ở nước ta trước thời Lê - Trịnh không có hình thức Lệnh chỉ? (và như vậy, sau thời Lê - Trịnh, sang thời Tây Sơn, thời Nguyễn không còn lại văn kiện Lệnh chỉ nữa).

Lệnh chỉ này ghi năm 1768, tức là 2 năm sau khi Đỗ Thế Giai chết (Bính Tuất 1766). Nội dung chính của Lệnh chỉ là Trịnh Sâm quyết định cho lấy tiền và gạo các loại tô, dung, điệu, cửa đình trong cả năm của xã Đông Ngạc để cung phụng vào việc giỗ chạp các tiết hàng năm và tu sửa nhà thờ Đỗ Thế Giai.

Theo thống kê trong Lệnh chỉ, các loại thuế giành cho việc tế tự Đỗ Thế Giai thu một năm của xã Đông Ngạc cộng được tiền cổ 202 quan, 8 mạch, 20 văn. Gạo 330 bát. Qua Lệnh chỉ chúng ta thấy dưới thời Lê - Trịnh nửa sau thế kỷ XVIII, những quan lại triều đình tích cực phục vụ chế độ đương thời được hưởng các đặc quyền, đặc lợi rất lớn. Đỗ Thế Giai là một trường hợp khá điển hình. Nếu từ Đỗ Thế Giai này kết hợp với gia phả họ Đỗ để tìm hiểu thêm thì thấy trong thời gian làm quan vì có công lao đánh dẹp các cuộc nổi dậy của nhân dân, Đỗ Thế Giai mấy lần được chúa Trịnh ban thưởng ruộng đất. Thí dụ năm Kỷ Tỵ (1749) do dụ được “tướng giặc”, được thưởng dân lộc 4 xã, điền lộc 100 mẫu. Năm Tân Mùi (1751), Đỗ Thế Giai được thưởng công trong thành tích Nguyễn Danh Phương bị Đàm Xuân Vực bắt là 8 xã dân lộc, 120 mẫu điền lộc. Khi tổng kết công lao chung, Đỗ Thế Giai lại được thưởng 5 xã dân lộc, 100 mẫu điền lộc. Số ruộng được ban thưởng đó đều là ruộng thế nghiệp. Thời lê - Trịnh thế kỷ XVIII, những quan lại được ban thưởng nhiều ruộng đất như Đỗ Thế Giai không phải ít (chẳng hạn Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Đình Trọng…). Thực tế này cho biết vào thế kỷ XVIII ở nước ta xuất hiện nhiều địa chủ quan lại lớn, chiếm hữu rất nhiều ruộng đất. Có thể khẳng định rằng, trongthành phần địa chủ thời này, địa chủ quan lại giàu có nhất, nắm trong tay nhiều ruộng đất nhất. Lệnh chỉ của họ Đỗ ở Đông Ngạc là một tài liệu quí hiếm, có giá trị đối với việc nghiên cứu chế độ thuế khóa, chế độ ruộng đất ở Việt Nam xưa.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.343-346)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm