VI | EN
33. Thơ LÊ THÁI TÔNG (1422 - 1442) ở hang Thẩm Ké Sơn La (TBHNH 2003)
TBHNH2003

THƠ LÊ THÁI TÔNG (1422 - 1442) Ở HANG THẨM KÉ (SƠN LA)

TRƯƠNG SỸ HÙNG

Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản ký thực lục - quyển XI) chép về vua Lê Thái Tông: “Tên húy là Nguyên Long con thứ của Thái tổ (Lê Lợi) ở ngôi 9 năm, băng khi đi tuần về miền Đông; Thọ 20 tuổi, táng ở Hựu lăng. Vua thiên tư sáng suốt, nối vận thái bình; Bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Trọng Đạo sùng Nho, mở khoa thi chọn hiền sĩ; xử tù, xét án phần nhiều tha thứ khoan hồng. Cũng là bậc vua tài giỏi biết giữ cơ đồ”.

Lê Thái Tông lên ngôi ngày 08/09/1833 (niên hiệu Thuận Thiên thứ 6). Năm 1434 vua đổi niên hiệu Thiệu Bình thứ I. “Đại xá thiên hạ, lấy ngày sinh làm kế thiên thánh tiết, sau đổi làm vạn thọ thánh tiết, lấy tên hiệu là Quế Lâm Động Chủ. Bấy giờ vua mới 11 tuổi, nhưng không phải nhờ mẫu hậu buông rèm coi việc nước, mà mọi việc thiên hạ đều do tự mình quyết định cả”.

Sau 6 năm có hiệu Thiệu Binh (từ 1434-1439) vua Lê Thái Tông lại đổi niên hiệu là Đại Bảo từ tháng 11 và chính thức gọi Đại Bảo năm thứ 1 từ 1440. Ngày mồng 3 tết nguyên đán (1440) vua Lê Thái Tông có bài chiếu:

“Trẫm nghĩ: bậc tôi trung tướng giỏi ngày xưa, thờ vua trọn tiết, vì nước quên nhà. Nay đại thần trăm quan văn võ các ngươi, ăn lộc của vua, phải lo cái lo của vua. Hễ trong quân dân có những điều tai hại và hành vi của trẫm có những gì sai lầm các ngươi đều nên can gián rõ ràng, giúp ta sửa chữa thiếu sót, lo làm tròn mọi việc đáng làm trong chức phận của người bề tôi; để sánh ngang hàng với họ Y, họ Lã.

Nếu được như vậy thì vua tôi sẽ giữ được trọn vẹn công lao sự nghiệp từ đầu tới cuối, cùng hưởng phúc lộc dài lâu mãi mãi, để khỏi phụ lời thề.”

Vào tháng 3 năm 1440 vua Lê Thái Tông “tuyển tráng đinh bổ sung quân ngũ” rồi đích thân cầm quân đi đánh dẹp loạn phản nghịch tên là Nghiễm ở châu Thuận Mỗi trấn Gia Hưng chuyến đi Tây Bắc của vua kéo dài đến 15 tháng 5 thì “Nghiễm dâng trâu và voi xin hàng” phần vì “đương mưa, nắng dữ” phần vì kẻ phản nghịch đã xin dâng lễ đầu hàng, Lê Thái Tông tha cho Nghiễm. Song, trong khoảng 1 năm sau Nghiễm vẫn tiếp tục quấy phá, liên kết với Đạo Mông - một “viên tướng Ai Lao” gây rối miền Tây Bắc Đại VIêt. Vì vậy “Năm Đại Bảo thứ 2 (1441) - tháng 3, vua lại đi đánh tên phản nghịch Nghiễm ở Châu Thuận Mỗi, bắt sống viên tướng Ai Lao là Đạo Mông cùng vợ con nó ở động La; lại bắt được con của tên Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Nghiễm Kế cũng ra hàng. Vua bèn đem quân về dâng thù báo thắng trận ở Thái miếu”.

Về sự kiện lần thứ nhất năm 1440 vua Lê Thái Tông thân chinh dẹp loạn trên, chứng tích còn một bài thơ Ngự chế của ông khắc trên vách đá hang Thẩm Ké (này thuộc huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La). Tên đầu đề bài thơ là Quế Lâm ngự chế là dùng tên hiệu của Lê Thái Tông, Toàn bài có 13 dòng và một dòng ghi niên đại. Chữ Hán khắc Chân mộc mạc còn rõ nét. Niên đại khắc rõ là năm Đại Bảo nguyên niên. Năm 2002 chúng tôi đã chụp nguyên bản tại di tích Thẩm Ké, xin được giới thiệu phần tạm phiên âm và dịch nghĩa.

Phiên âm:

QUẾ LÂM NGỰ CHẾ

Thuận Mỗi châu nghịch tù

Thượng Nghiễm vong ân bội nghĩa,

Xuất chúng tòng Ai Lao,

Tác nghịch dư thân đổng diệc sư vãng chinh kì

Tội chỉ cố chi gian thiêu hủy lưỡng trùng san

Nham đoạt kỳ tỉnh tuyền

Thượng Nghiễm kế cùng lực tận,

Tiến gia nhân hàng.

Dư linh kỳ bồ bặc,

Vô tri nhất nhẫn phong

Lục nãi phóng quyết tội

Ban sư nhi hoàn, lưu đề nhất chương vân

*

**

Bính trẩm tiêu tâm niệm vin nhân

Man tù hà sự tốc vong thân

Thế gian nhược hữu anh hùng chủ

Thiên hạ thùy dung bạn nghịch thần?

Điểu đạo duyên vân không thị hiểm

Âm nhai sướng noãn dĩ hồi xuân

Cách trừ ô nhiễm an lương thiện

Nhẫn xử hà manh ngoại trí nhân.

Đại Bảo nguyên niên quý xuân trung cán cát nhật

 

Tạm dịch:

BÀI NGỰ CHẾ CỦA QUẾ LÂM ĐỘNG CHỦ (1)

Kẻ tù nghịch ở Châu Thuận Mỗi

Nghiễm vong ân bội nghĩa làm càn

Cùng giặc Ai Lao nêu tội phản

Nghịch làm điều oan trái bị vua thân chinh đi đánh dẹp

Cũng theo cờ nghĩa sao ly tán

Chẳng nghe lời lẽ của ta ban

Biết lựa ý hay cao tựa núi

Lửa chẳng bùng lên đất bụi lầm

Thượng nghiễm kế cùng lực tận

Xin hàng cùng với cả gia nhân

Cờ rủ chân tay y khúm núm

Đáng thương người chưa biết báo ân

Tha tội còn xem ngày định án

Trở về còn hẹn lúc chinh an.

*

**

Nằm ngủ mà lòng như lửa đốt nghĩ tới tên phản nghịch phương xa

Tù trưởng sao ngươi nỡ nhanh chóng quên đi bản thân mình

Thế gian đã có vị minh chủ,

Thiên hạ ai dung kẻ nghịch thần,

Chỉ cậy đường chim bay xa xôi hiểm trở

Hang sâu mùa xuân hơi ấm đã trở về tràn đầy

Xua tan nhơ bẩn để cho dân được sống yên ổn

Sao nỡ để dân nghèo ở nơi biên cương ra ngoài.

Ngày tốt, trung tuần tháng ba (quý xuân) niên hiệu Đại Bảo thứ nhất (1440).

Tổng tập văn học Việt Nam (tập IV Nxb. KHXH, 1995) tr.81 - 82 có giới thiệu bài thơ thứ hai và coi bài một chỉ là “Lời dẫn”. Phần chữ Hán ở trang 433 không đúng với nguyên bản khắc trên bia vách đá. Nguyên bản ở đây là ảnh chụp năm 2002 tại di tích.

Chú thích:

[1]. Quế Lâm: Tức “Quế Lâm động chủ” hiệu của vua Lê Thái Tông.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.278-282

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm