VI | EN
33. Về bài thơ vịnh Lưỡng Kiên sơn (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ VỊNH LƯỠNG KIÊN SƠN

TRẦN THỊ GIÁNG HOA

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Lưỡng Kiên sơn thường gọi là lèn Hai Vai, còn có tên là Song Kiên sơn, Thược Đao sơn, Khoan Bác sơn, Di Lặc sơn. Theo sách Hoan châu phong thổ kí mục Đông Thành phong thổ ký do Ngô Trí soạn, có ghi chép về Lưỡng Kiên sơn: Núi tại xã Nguyễn Xá tổng Quan Trung (nay thuộc huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An)… Xưa kia khi Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành qua đây, ngồi trên thuyền từ ngoài biển nhìn dáng núi như hình người đứng nên đặt tên là Kế Sơn. Trịnh Tĩnh Vương đi tuần trấn Sơn Nam thấy dáng núi như hình ông Phật ngồi nên gọi tên là Di Lặc sơn.

Là một trong những cảnh đẹp của địa phương nên núi Hai Vai được nhiều tao nhân mặc khách làm thơ văn đề vịnh.

Sách Thi ca phú tạp lục sưu tập thơ Nôm của Lê Thánh Tông, trong đó có chép bài Lê Thuần Hoàng đế vịnh Lưỡng Kiên sơn.

"Ông xuống chi đây ông lạ đời,

Hay là ông xuống cõi trần chơi.

Đứng trông trời đất so gan đá,

Bạn với nhân gian khác kiếp người.

Nhật nguyệt đôi vừng soi trước mặt,

Càn khôn một gánh nặng trên vai.

Dầu ai có hỏi bao nhiêu tuổi,

Rằng lọt lòng ra buổi có trời".

Sách Cẩm Đình thi văn toàn tập có chép bài thơ nhan đề Đề Di Lặc sơn thần đồng bằng chữ Hán và hai bài bằng chữ Nôm. Trong đó bài thơ đầu viết bằng chữ Nôm có nhiều điểm giống với bài thơ vịnh núi Lưỡng Kiên của vua Lê Thánh Tông chép trong Thi ca phú tạp lục nên chúng tôi phiên âm để bạn đọc tiện tham khảo.

Bài thứ nhất

Ông đứng chi đây ông lạ đời,

Hay là ông muốn xuống trần chơi.

Thân trong trời đất bền gan đá,

Bạn với non sông tỏ dạng người.

Nhật nguyệt hai vừng soi trước mặt,

Càn khôn một gánh nặng trên vai.

Tới nay dầu hỏi ông bao tuổi,

Thì bảo ông sinh thuở với trời.

Bài thứ hai

Hay là Di Lặc xuống trong đời,

Chẳng nữa thời tiên hẳn chẳng chơi.

Quyến bạn văn chương đôi ngọn bút,

Trải vòng kim cổ mấy đời người.

Tạnh cơn phong vũ lò ngay mặt,

Sẵn gánh giang sơn ghé thẳng vai.

Nay đã thấy nhiều tài nhạc giáng,

Chi còn đứng chắc một phương trời.

Thi ca phú tạp lục là sách chép tay, gồm 176 trang, khổ 21x16cm, kí hiệu VNb.1., chép thơ, phú như Khổng Tử mộng Chu Công phú, Huấn nữ tử ca, Chinh phụ ngâm, Trương Lưu Hầu phú, Tam tự kinh giải âm diễn ca, Khuyến học ca, và một số thơ Nôm của Lê Thánh Tông. Sách không có thông tin về tác giả cũng như người biên tập, thời gian biên tập và không có bài tựa. Trong số những bài thơ Nôm chép ở mục Lê Thánh Tông thi tập có chép lẫn thơ của tác giả khác, hoặc nhầm giữa tên với nội dung bài thơ, như trường hợp bài Lê Thuần Hoàng đế vịnh Ngọc Nữ phong thi nhưng lại chép thơ vịnh Quả Sơn (đối chiếu với Hồng Đức quốc âm thi tập).

Còn Cẩm Đình thi văn toàn tập là tuyển tập thơ văn của tác giả Phan Dưỡng Hạo, sách chép tay, kí hiệu VHv.1426 và A.1385 (chép lại từ VHv.1426). Bản kí hiệu VHv.1426 có 242 trang, khổ 28 x 16cm, gồm Cẩm Đình thi tuyển tập, Tứ phương lan phả, Hiệu tần tập, Bắc hành thi thảo, Nam hành thi thảo, Cẩm Đình văn tập, Kim thạch di văn. Trong phần Kim thạch di văn có chép thơ văn của các tác giả khác như Lê Thánh Tông (Ngự đề Long Quang động), Thượng Dương động chủ, Trịnh Tĩnh vương.

Đối chiếu giữa bài thơ Lê Thuần Hoàng đế vịnh Lưỡng Kiên sơn trong sách Thi ca phú tạp lục Đề Di Lặc sơn thần đồng (bài thứ nhất) trong sách Cẩm Đình thi văn toàn tập đều là thơ thất ngôn, tuy có những sai khác về cách sử dụng từ nhưng cơ bản là giống nhau.

Về tác giả Phan Dưỡng Hạo, tự là Dưỡng Hạo sau đổi tên thành Thúc Trực (1808 - 1852), người làng Vân Tụ, tổng Vân Tụ, huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Khánh Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An). Ông thi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), được thụ hàm Hàn lâm viện Trước tác, thăng chức Tập hiền viện Thị giảng và sung chức Kinh diên Khởi cư chú. Sau khi mất được truy tặng hàm Thị độc Học sĩ. Phan Thúc Trực là người thông minh, cao khiết, có tài đức. Khi biết tin ông mất, vua Tự Đức vô cùng thương tiếc, phái quan Tổng đốc tỉnh Nghệ An mang phẩm vật tới tang quyến truy điệu, và ban tặng bốn chữ “Học hạnh cao thuần” (học vấn cao thâm đức hạnh thuần hậu). Thơ văn của ông để lại có Tứ phương lan phả, Hiệu tần tập, Bắc hành thi thảo, Nam hành thi thảo, Cẩm Đình văn tập, được chép chủ yếu trong các sách Cẩm Đình thi văn toàn tập, hiện được lưu giữ tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm với kí hiệu VHv.1426. Ngoài ra ông còn biên soạn cuốn Quốc sử di biên, Diễn Châu Đông Thành huyện thông chí, và một số thơ văn trong các sách như Cẩm hồi tập, Kim triều chiếu chỉ, Hạ Cao Phó bảng đối liên trướng văn,…

Diễn Châu Đông Thành huyện thông chí là cuốn sách ghi chép về núi sông, nhân vật của huyện Đông Thành phủ Diễn Châu. Sách này được đóng chung với Đông Thành phong thổ ký của Ngô Trí,… dưới tên Hoan Châu phong thổ ký, hiện đang được lưu giữ tại Kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu VHv.1719 và VHv.2458. Trong phần ghi chép về núi Di Lặc, tác giả có ghi: Núi Di Lặc ở nơi tiếp giáp giữa hai tổng Quan - Sái, trước có tên là núi Khoan Bác, núi Lưỡng Kiên. Vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành qua đây nhìn thấy núi như dáng người đứng nên đặt tên là Kế Sơn […].

Ngoài thông tin về việc đặt tên cho ngọn núi, trong quá trình biên soạn không thấy tác giả đề cập đến thơ văn đề vịnh của vua Lê Thánh Tông.

Hơn nữa, nếu như vua Lê Thánh Tông có làm thơ vịnh núi này thì ít nhiều nội dung bài thơ phải mang hơi hướng gắn với sự tích ông đặt tên cho núi là Kế Sơn.

Bên cạnh đó, trong cuốn sách Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ, mục giới thiệu thơ của tác giả Phan Thúc Trực có chép bài Vịnh Lèn Hai vai. Và cho biết, bài thơ này được lưu truyền rộng rãi ở vùng Diễn Châu, Yên Thành. Xưa kia bài này được đề trên vách đá trong hang Lèn Hai vai. Sau đó ông Trần Hữu Thung và Phan Bá Hàm (di duệ của Phan Thúc Trực) cung cấp thêm dị bản. Nội dung bài thơ này cũng giống như bài thơ trên.

Với những lí do như trên, chúng tôi cho rằng bài thơ Nôm vịnh núi Lưỡng Kiên (hay còn gọi là núi Di Lặc) là của tác giả Phan Thúc Trực. Và bài Lê Thuần Hoàng đế vịnh Lưỡng Kiên sơn trong Thi ca phú tạp lục chỉ là sự nhầm lẫn của người đời sau, không phải thơ của Lê Thánh Tông.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Cẩm Đình thi văn toàn tập, kí hiệu VHv.1426.

2. Cẩm Đình thi tuyển tập, kí hiệu VHv.357, VHv.684.

3. Cẩm Đình văn tập, kí hiệu VHv.683, VHv.262.

4. Hoan châu phong thổ ký, kí hiệu VHv.1719.

5. Thi ca phú tạp lục, kí hiệu VNb.1.

6. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa và François chủ biên, Nxb. KHXH, H.1993.

7. Hồng Đức quốc âm thi tập, Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên phiên âm, giới thiệu, Nxb. Văn học, H. 1982.

8. Thái Kim Đỉnh: Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ, Nxb. Nghệ An, 1994.

9. Phan Thúc Trực: Quốc sử di biên, Tập Thượng, Lê Xuân Giáo dịch, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, 1973.

10. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2007.

 

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.412-416)

Trần Thị Giáng Hoa
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm