34. Một vài vấn đề từ miếu Quảng Tế ở làng Phước Tích (TBHN 2008)
MỘT VÀI VẤN ĐỀ TỪ
MIẾU QUẢNG TẾ Ở LÀNG PHƯỚC TÍCH
LÊ ĐÌNH HÙNG
Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế
1. Đặt vấn đề
Miền Trung Việt Nam, xét trong bối cảnh lịch sử - văn hóa Đông Á và Đông Nam Á, là một vùng đệm cho quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, chịu ảnh hưởng từ hai trung tâm là Trung Hoa (biên giới cực Nam là Đại Việt) và Ấn Độ (biên giới cực Bắc là Champa). Do vậy, ở một vùng đất có quá nhiều lớp áo văn hóa như Huế - miền Trung, suy xét để lý giải đến tận cùng một hiện tượng văn hoá, quả thực không đơn giản.
Trong quá trình tìm hiểu về làng xã vùng Huế, hiện tượng phổ biến mà chúng tôi thường bắt gặp cả trong các tài liệu thành văn lẫn trên thực địa, là người dân rất mơ hồ về một số nơi thờ cúng, những đối tượng được thờ cúng của cộng đồng. Miếu Quảng Tế ở làng Phước Tích (xã Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế) là một trường hợp như vậy. Tuy nhiên, sau một thời gian dài điền dã, xâu chuỗi và hệ thống hóa lại những dòng sử liệu ít ỏi, những thông tin rời rạc, có khi thiếu thống nhất qua những cuộc phỏng vấn..., chúng tôi cho rằng đây là một vấn đề then chốt trong việc giải quyết mối quan hệ giữa người Việt buổi đầu đến định cư trên vùng đất này với các cộng đồng người tiền trú đã qui định nên một thế ứng xử rất đặc thù trong văn hóa làng xã ở miền Trung.
Đã có không ít bài viết đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về văn hóa làng cổ Phước Tích, nên khi tiến hành khảo sát, chúng tôi đã gặp những thuận lợi nhất định trong việc kế thừa những thông tin, tư liệu về ngôi làng thuộc dạng đặc biệt này ở miền Trung. Tuy nhiên, sơ bộ từ thực tế khảo sát bước đầu, chúng tôi nhận thấy rằng có một số hiện tượng văn hoá mang các “lớp áo văn hóa” cần xem xét, phân tích và nhận diện một cách cẩn trọng, như trường hợp miếu Quảng Tế.
2. Hiện trạng miếu Quảng Tế và một số di vật liên quan
Người dân trong làng ai ai cũng biết đến miếu Quảng Tế, dù chỉ với những thông tin mơ hồ, chung chung về việc thờ tự một vị thần Chăm xa xưa nào đó. Ngôi miếu này hiện tọa lạc tại xóm Lò, trong khuôn viên của một gia đình thuộc họ Lê Trọng. Điều đáng chú ý là ngôi miếu được tái thiết trên nền gạch, phế tích của một đền tháp Chăm, với qui mô vừa phải, được xây theo lối vòm cuốn, hai tầng mái - một lối kiến trúc, trang trí thời Nguyễn.
Nội thất ngôi miếu, bệ thờ được xây cố định thành hai cấp, thiết trí tự khí khá đơn giản (lư hương, chén nước, đĩa trầu, bình hoa, đèn).
Vào bên trong, quan sát một cách cẩn trọng, có thể nhận thấy một trụ đá sa thạch được làm thanh đỡ chịu lực cho vòm cuốn của ngôi miếu. Nhìn vào chất liệu và hình dáng, có thể giả thiết rằng khi xây dựng ngôi miếu, người ta đã tận dụng từ một trụ cửa của ngôi tháp Chăm trước đó. Một trụ cửa bằng sa thạch hiện còn sót lại nằm bên cạnh miếu, có kích thước 19x19x19x158cm, với hai chốt mộng ở hai đầu. Chúng tôi cho rằng, đây là hai trụ cửa của một tháp Chăm, trước khi nó bị sụp đổ.
Ngay ở phía trước ngôi miếu, sát bình phong, hiện diện của một bệ Yoni mà ấn tượng quan sát ban đầu, dễ cho ta liên tưởng đến hình dạng một cối đá dùng để xay bột. Bệ Yoni này được ghép lại với nhau bởi ba thớt đá, theo kiểu giật cấp, có nhiều tầng. Tầng trên cùng, ba cạnh có kích thước 36,5 x 36,5 x 36,5cm, cạnh còn lại có dạng hình phễu và chính giữa có một rãnh nhỏ xẻ từ tâm bệ ra đầu phễu. Chính tâm của bệ đá có một lỗ tròn, lõm, hình bán cầu, đường kính 11cm. Bao quanh lỗ tròn này là một hình vuông, độ dài của mỗi cạnh là 21cm. Đáng chú ý, trên bệ đá này, người ta thiết trí ba quả cầu bằng đá để thay thế cho một Linga. Quan sát từ thực địa, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, Thông Thanh Khánh cho rằng, bệ Yoni này được gọi là Trinamorti, một dạng thức Mukhalinga. Lỗ tròn được khoét lõm ở thớt đá trên cùng là một biểu hiện của Linga âm. Còn ba quả cầu đá (hai viên tròn, một viên hình bầu dục) được sử dụng trong lễ thánh tẩy của người Chăm. Viên hình bầu dục được đặt vào trong lỗ tròn, hai viên còn lại dùng để xoay quanh khi hành lễ. Nguyên ủy, khi hành lễ người Chăm đặt vào bệ đá này một Mukhalinga (có thể được làm bằng vàng, bạc, đá) nhưng do sợ mất trộm, người ta mới có sự thay thế bằng ba viên đá tượng trưng như vậy (Trích buổi toạ đàm ngày 25/8/2008, tại Phân Viện VHNTVN tại Huế).
Ngoài ra, cách không xa miếu Quảng Tế (khoảng 100m về phía Nam), trong khuôn viên từ đường họ Lê Trọng, còn có hai phiến đá lớn dựng trước bình phong của một ngôi miếu mà hiện nay đã hoàn toàn đổ nát. Người dân trong làng cũng không rõ ngôi miếu này thờ ai, gốc tích thế nào.
Đối diện từ đường họ Hồ, nằm sát con đường làng, tại bến Cây Bàng, dưới gốc cây bàng cổ thụ, có một tấm lá nhĩ và hai trụ đá đặt hai bên, tất cả đều bằng chất liệu sa thạch. Chúng được sắp đặt như một bệ thờ có chủ đích.
Xem xét các hiện vật trong một bối cảnh chung, trong địa thế của ngôi làng Phước Tích như vậy, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng, những di vật trên là của ngôi tháp Chăm đã bị sụp đổ, sau đó người ta đã chuyển đến các địa điểm hiện nay.
3. Người ta nghĩ gì, nói gì về miếu Quảng Tế?
Với sự xuất hiện của một Yoni cùng một số hiện vật bằng sa thạch trên một nền tảng phế tích Chăm, người ta dễ dàng, và đương nhiên, cho đây là một miếu Chăm. Không kể đến những bài báo, trong các bài nghiên cứu điều này cũng được lặp lại một cách thường xuyên như một thực tế hiển nhiên. Đó là những khảo cứu của các tác giả như Trần Tuấn Anh, Huỳnh Đình Kết, Nguyễn Văn Mạnh..., trong công trình tập hợp các bài viết làm kỷ yếu của một hội thảo khoa học, dưới nhan đề Làng di sản Phước Tích, do Hội Kiến trúc sư Việt Nam và Sở VHTT tỉnh Thừa Thiên - Huế ấn hành năm 2004.
Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy được ở đó một sự đi sâu tìm hiểu, hay giải thích về ý nghĩa sâu xa cũng như đối tượng được thờ cúng tại ngôi miếu, dù rằng hình thái biểu hiện bên ngoài của nó là rất rõ nét Chăm - Việt này. Thực tế thì hiện nay, không rõ tự bao giờ, đây được coi là một ngôi miếu của làng, thuộc về qui mô tế tự của làng. Về sau, làng giao cho xóm Lò cúng tế và cho đến hiện nay, điều đó được duy trì thành lệ.
Trong quá trình điền dã, khi đề cập đến vấn đề này, chúng tôi gặp phải rất nhiều sự lúng túng, không rõ ràng, thiếu thống nhất từ các vị cao niên, nhiều người dân trong làng cũng không rõ gốc tích ngôi miếu ra sao. Họ chỉ nói chung chung rằng ngôi miếu thờ một vị thần Chăm nào đó... Sở dĩ có hiện tượng đó là bởi không rõ tự bao giờ, các nguồn tư liệu như sắc phong, văn tế, thần vị... đã không còn nữa, nên người dân lúng túng, có nhiều ý kiến khác nhau cũng là điều dễ hiểu.
4. Lần tìm danh xưng miếu Quảng Tế
Thông thường việc định danh của từng ngôi miếu được tôn xưng theo đối tượng thờ cúng ở trong miếu như Cao Các, Thành Hoàng, Khai Canh, Bổn Nghệ, Ngũ Hành... Tuy nhiên, ở trường hợp miếu Quảng Tế, lại được gọi theo bức hoành phi, khảm sành sứ đặt ngay phía trước ngôi miếu. Điều này có thể, do không biết ngôi miếu thờ ai nên người dân, và một số nhà nghiên cứu sau này đã tự tiện lấy hai chữ: “廣 濟” (Quảng Tế), để định danh cho ngôi miếu mà không có một lời giải thích.
Phân cấp Tính chất | Thượng đẳng thần | Trung đẳng thần | Hạ đẳng thần |
Thiên thần | Túy mục | Linh thủy | Thuần chính |
Thổ thần | Hàm quang | Tĩnh hậu | Ðôn ngưng |
Sơn thần | Tuấn tĩnh | Củng bạt | Tứ ngục |
Thủy thần | Hoành hợp | Nông nhuận | Trừng trạm |
Dương thần | Trác vĩ | Quang ý | Ðoan túc |
Âm thần | Trang huy | Trai thục | Nhan uyển |
Ngày 27 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 5 [25-12-1845])”(1).
Đặc biệt, kết quả này càng thêm độ tin cậy bởi qua nguồn tư liệu gia phả họ Đoàn làng Phước Tích:
“第一世
始祖段大郎
謹接究之族誧有書云
考妣生年沒日欠詳仍據從前乂安省瓊琉縣敢决社人從阮主入烏州 [即今承天府] 與本社各族占笇陽處生下段姓子孫再據本社簿內買賣諸上源名邑田土帛契字跡均見著段福尾疑是為本族始祖今楊夫人庙邊有一墓在本社黎仲征園內古老常謂此墓乃段福尾之墓常年本族八月初一日掃祭為期向上事跡只得傳聞本無譜系所著仍理有可據不敢阙失姑存譜以冠于昔云今譜存之 [今譜即本派譜]” (2).
[Đệ nhất thế
Thủy tổ Đoàn Đại lang
Cẩn tiếp cứu chi tộc phổ hữu thư vân:
Khảo Tỷ sinh niên một nhật mộ táng khiếm tường. Nhưng cứ tòng tiền Nghệ An tỉnh Quỳnh Lưu huyện Cảm Quyết xã nhân, tòng Nguyễn chúa nhập Ô châu (tức kim Thừa Thiên phủ) dữ bản xã các tộc chiếm Cồn Dương xứ sinh hạ Đoàn tính tử tôn. Tái cứ bản xã bộ nội mãi mại chư thượng nguyên danh ấp điền thổ bạch khế tự tích quân kiến trứ. Đoàn Phước Vỹ nghĩ thị vi bản tộc thủy tổ. Kim, Dương Phu nhân miếu biên hữu nhất mộ tại bản xã Lê Trọng Chinh viên nội. Cổ Lão thường vị thử mộ nãi Đoàn Phước Vỹ chi mộ. Thường niên bản tộc bát nguyệt sơ nhất nhật tảo tế vi kỳ. Hướng thượng sự tích chỉ đắc truyền văn, bản vô phổ hệ sở trứ. Nhưng lý hữu khả cứ bất cảm khuyết thất. Cô tồn vu phổ dĩ quán vu tích vân kim phổ tồn chi (Kim phổ tức bản phái phổ)].
(Đời thứ nhất
Thủy tổ Đoàn Đại lang
Kính xét cứu phổ họ có viết rằng:
Năm sinh, ngày mất, mộ táng của Khảo - Tỷ chưa được rõ. Nhưng căn cứ, (Thủy tổ) người xã Cảm Quyết huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An theo chúa Nguyễn vào Ô châu (nay tức phủ Thừa Thiên) cùng với các họ trong xã ta, chiếm xứ Cồn Dương rồi sinh hạ con cháu của họ Đoàn. Lại căn cứ, trong sổ bộ của xã ta có mua bán ruộng đất các ấp ở vùng thượng nguồn dấu tích chữ viết trong văn khế đều thấy rõ ràng. Đoàn Phước Vỹ thật là Thủy tổ của họ ta. Nay, tại xã ta trong vườn của Lê Trọng Chinh có một ngôi mộ bên cạnh miếu Dương Phu nhân. Người già xưa thường bảo ngôi mộ này là mộ của ông Đoàn Phước Vỹ. Hàng năm lấy ngày mồng 1 tháng 8 làm kỳ tảo mộ và cúng tế của họ ta. Sự tích trước đây chỉ được nghe truyền, vốn không có phổ hệ chép rõ ràng. Nhưng những chứng lý đó có thể căn cứ không dám thiếu sót. Còn như phổ lấy đó làm chuyện xưa thì nay phổ vẫn còn đó (phổ nay tức phổ của bản phái).
Thông tin từ gia phổ họ Đoàn, cùng với kiểm chứng trên thực địa khu lăng mộ của vị Thủy tổ họ Đoàn, cho chúng ta xác nhận miếu Quảng Tế vốn được gọi là miếu Dương Phu nhân, ít nhất từ thời điểm miếu được xây dựng và tồn tại đến ngày nay mà chúng tôi đã đề cập ở trên. Còn trước đó nữa, ngôi miếu này đã có hay chưa, nếu có thì được xây dựng vào thời điểm nào, có diện mạo, quy mô ra sao, khó có thể nhận biết được.
Thông tin từ gia phổ họ Đoàn, cùng với kiểm chứng trên thực địa khu lăng mộ của vị Thủy Tổ họ Đoàn, cho chúng ta xác nhận miếu Quảng Tế vốn được gọi là miếu Dương Phu nhân, ít nhất từ thời điểm miếu được xây dựng vào năm Tân Tị thời Tự Đức (1881).
Hiện nay, tại miếu Quảng Tế không có lạc khoản nào để cho chúng ta xác định niên đại xây dựng miếu. Tuy nhiên, căn cứ vào phong cách, cũng như lời một số người già trong làng truyền lại, thì miếu Quảng Tế và miếu Cây Thị(3) được làng xây dựng cùng thời. Tại miếu Cây Thị hiện còn một bức hoành phi (tự thể: đại triện) đề: “顯靈廟” - (Hiển Linh miếu) và dòng lạc khoản: “嗣德辛巳仲春上浣” (Tự Đức, Tân Tị - Trọng xuân - Thượng hoán). Căn cứ vào đó, chúng tôi tạm cho rằng, có khả năng miếu Quảng Tế cũng được khởi tạo/tái thiết đồng thời với miếu Cây Thị khoảng vào năm 1881.
Cho đến năm 1971, ông Lê Trọng Ngữ: Nghề gốm Phước Tích, vẫn gọi ngôi miếu này là miếu Dương Phu nhân:
“Miếu Dương Phu nhân (quen gọi là miếu Bà Dàng) ở cách đường làng 100m. Kiến trúc trang hoàng, nóc nhà đúc kiểu tầng lầu, cao 5m, mỗi bề khoảng 3m, trước sân có bình phong, thành gạch bao quanh, diện tích trên 60m2, dáng vẻ oai linh”(4).
Từ những cứ liệu trên, một lần nữa, chúng tôi khẳng định miếu Quảng Tế chính là miếu Dương Phu nhân, hay miếu Bà Dàng theo cách gọi dân gian.
5. Miếu Dương Phu nhân (Quảng Tế) “nói gì”?
Xác nhận danh xưng của ngôi miếu chúng ta có thể nhận diện được ngôi miếu này thờ ai. Từ đây, có thể hình dung rằng, trước đây làng Phước Tích từng có sắc phong của triều đình phong kiến Nguyễn cho phép phụng thờ vị nữ thần, có gốc tích từ tín ngưỡng của người Chăm. Khi tái thiết miếu, trên nền cũ của một đền tháp Chăm, người ta đã dùng mỹ tự “Quảng tế” của triều đình ban tặng cho vị thần này để khảm sứ bức hoành phi và câu đối để ngợi ca công đức và sự linh thiêng của thần:
廣濟
英靈別占居揚土
功德光輝在化州
"Quảng tế.
Anh linh biệt chiếm cư Dương thổ;
Công đức quang huy tại Hóa châu).
[Cứu giúp rộng khắp. Anh linh riêng chiếm nơi Dương thổ; Công đức rạng rỡ tại Hóa châu].
“Dương thổ” được người dân nơi đây gọi là cồn Dương, từ quá khứ khai thiết cho đến hiện tại. Trong các gia phổ chữ Hán của một số dòng họ ở làng Phước Tích, khi viết về những người đầu tiên đến khai phá, lập làng đều có chép, họ là những người đến định cư ở xứ Cồn Dương(5). Đơn cử như gia phổ họ Phan:
“公諱之欖字曰欄俗曰翁孕 ... 徙移到香茶縣下群揚處立為家居陶作缸器於是立目錄一集流傳子孫已奉事”(6) - Công húy chi Lãm, tự viết Lan, tục viết Ông Dựng... Tỷ di đáo Hương Trà huyện, hạ Cồn Dương xứ, lập vi gia cư, đào tác cang khí, ư thị lập mục lục nhất tập lưu truyền tử tôn dĩ phụng sự” - (Ông huý: Lãm, tự: Lan, tên tục: Ông Dựng. Ông di cư đến Hương Trà, xuống xứ Cồn Dương, làm nhà ở, chế tác đồ gốm, đồng thời lập một tập mục lục lưu truyền con cháu để phụng thờ...).
Rõ ràng, trước khi người Việt đến khai phá định cư xứ Cồn Dương, tại đây đã hiện hữu một tháp Chăm. Có thể tòa tháp này thờ một vị thần Yang/Yàng của người Chăm. Những người Việt đầu tiên đến canh phá đã gọi xứ đất đó là Cồn Dương. Danh xưng này phản ánh một hiện tượng thực tế của vùng đất mà họ đến canh phá. Nhưng khi viết thành văn bản chữ Hán, tên gọi được phát âm là “Yang/Yàng/Dàng/Giàng/Ràng” được kí âm Hán Việt là chữ Dương(7) theo xu hướng chuyển đổi nguyên âm /a/ thành /ươ/ trong cách phát âm của người Việt. Đây là một hiện tượng khá phổ biến trên địa bàn Thuận - Hóa xưa, với nhiều xứ đất được gọi là Cồn Dàng, Cồn Dương, Cồn Ràng... mà gắn liền với nó là nhiều ngôi miếu được gọi là miếu bà Dàng hay miếu bà Dương, miếu Dương Phu nhân. Chẳng hạn, tại làng Hưng Nhơn (Hải Lăng - Quảng Trị) có ngôi miếu được người dân gọi là miếu Bà Dàng, trong miếu hiện nay, vẫn còn thiết trí bài vị đề: “楊夫人神位” (Dương Phu nhân thần vị). Hay, miếu Bà Dàng ở làng Câu/Cu Hoan (Hải Thiện - Hải Lăng - Quảng Trị) thờ những di vật Chăm như Linga - Yoni...
Những người Việt “Nam tiến” đến định cư ở vùng Thuận Hóa, trong quá trình xen cư, cộng cư với các cộng đồng cư dân bản địa, ngoài việc bảo vệ văn hóa truyền thống của người Việt, ít nhiều trong ý thức của họ, tinh thần phản vệ văn hóa cũng xẩy ra. Sự lo lắng trong buổi đầu đến định cư, khi người Việt còn là “thiểu số” phần nào được thể hiện trong Thủy thiên, qua một đoạn hội thoại giữa Phạm Quán với Bùi Trành - Trường Hiên(8):
“日下范館來探長軒因與長軒說我北人年前慰勞使相公营葬於此今年總兵使又营葬於此意者天其曉示子孫當來此居故先將我曹父親埋葬於此以便我曹以免禍患長軒云汝既深思及此順汝决志营居與我為鄰亦一好也范館云此處占人多而平民少窃恐生下子孫一齊十楚還染蠻風如公所居平民多而占人少日下終染於我習以成風乞属仁里庶能貽厥孫謀公或充否長軒良又曰汝言有理我耳順焉彼此不遠只此分別可謂深思者也 ” (9).
Người Việt đến trên vùng đất mới, họ đã Việt hóa vị thần này với tên gọi dân gian là Bà Dàng/ Bà Dương. Đến triều Nguyễn vị thần này đã được điển chế, “phong chức tước, tham dự vào hàng các thần bảo vệ quốc gia”, với danh hiệu là Dương Phu Nhân. Đó là một “sự chia xẻ quan niệm về cõi siêu linh” ... “một bumông (đền thần Chàm) đã trở thành đền miếu Việt”(10).
Hiện nay, ở làng Phước Tích, ngoài những miếu được gọi tên theo những vị được thờ trong miếu, còn các miếu có tên gọi như miếu Quảng Tế, miếu Cây Thị, miếu Vua, mà phần lớn người dân trong làng không rõ miếu đó thờ ai, hay thậm chí có trường hợp miếu Thành hoàng trở thành miếu Ngũ Hành mà nhiều người vẫn không hề hay biết. Việc tái xác nhận miếu Quảng Tế chính là miếu Bà Dàng hay miếu Dương Phu nhân là một vấn đề nhỏ nhưng vô cùng quan trọng trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề về lịch sử và văn hoá, giao lưu tộc người Việt - Chăm ở một ngôi làng cụ thể, và trong một chừng mực nhất định, có thể mở rộng ra là cả khu vực miền Trung.
Chú thích:
(1) Bảo tàng Văn hóa Dân gian Huế: Văn bản Hán Nôm làng xã vùng Huế, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 2008, tr.175-176.
(2) “Đoàn tộc tính nguyên gia phổ”, viết ngày mồng 9 tháng giêng năm Mậu Thìn, Bảo Đại thứ 3 (1928), tờ thứ 2 và 3, hiện được lưu giữ tại từ đường họ Đoàn làng Phước Tích.
(3) Tên gọi ngôi miếu này được dựa trên một đặc điểm phản ánh thực tế: miếu nằm sát một cây thị cổ.
(4) Lê Trọng Ngữ: Nghề gốm Phước Tích (bản chép tay), 1971, tr.64.
(5) Có thể xem lại phần gia phổ họ Đoàn đã dẫn ở trên và khảo cứu thêm các gia phổ khác như: họ Hoàng, họ Hồ, họ Nguyễn... ở làng Phước Tích.
(6) Tập gia phả này, hiện nay cụ Phan Duy Mai [ở số 10 đường Trần Hưng Đạo, Tp. Huế] phụng thủ.
(7) Tự dạng của từ “Dương” trong các văn bản được trích dẫn trong bài viết này không thống nhất, chúng tôi trung thành với văn bản gốc đã tiếp cận được. Sự không thống nhất về tự dạng của chữ “Dương” cũng là một cách lí giải cho việc kí âm mà không kí nghĩa của các văn bản.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.424-439