35. Tư liệu mới về Tiến sĩ Nguyễn Công Giai (1665 - 1728) (TBHN 2008)
TƯ LIỆU MỚI
VỀ TIẾN SĨ TRƯƠNG CÔNG GIAI (1665-1728)
TRƯƠNG SĨ HÙNG
Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
Trương Công Giai (có sách dịch tên là Khải) nổi tiếng là thần đồng từ lúc còn nhỏ bởi chăm học, sớm thuộc nhiều kinh sách thánh hiền. Cha đẻ của ông là danh y Trương Chí Tường đã dày công dạy con học hành chu tất. Bản tính hiền lành thông minh nhạy cảm, nên trong quan hệ ứng xử giữa gia đình, xã hội ai cũng quý mến tin yêu. Trương Công Giai ra đời trong hoàn cảnh nhà Lê đã giành lại ngôi báu từ nhà Mạc; nhờ Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm và nhiều cựu thần khác. Ngai vàng đã được dựng lại ở Thanh Hoa từ năm 1533. Khốn thay, cũng từ đây cuộc nội chiến giữa nhà Lê và nhà Mạc lại tiếp tục diễn ra.
Lớn lên, Trương Công Giai lần lượt trải qua các cuộc thi hương, thi hội, thi đình. Trương Công Giai thi “đỗ đồng tiến sĩ xuất thân đệ tam giáp” khoa Ất Sửu năm 1685. Theo số thứ tự bia tiến sĩ ở Văn miếu Hà Nội, số 50, Trương Công Giai chỉ được ghi là Trương Công ở hàng “Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân”. Người sưu tập, chỉnh lý bản văn khắc này gần đây nhất đã chú thích: “Trương Công người sở Thiên Kiện, huyện Thanh Liêm (nay thuộc xã Thanh Tâm, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Ông giữ các chức quan như Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Công kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Lỵ Quận công. Sau khi mất ông được tặng hàm Thiếu bảo. Sau ông đổi tên là Trương Công Giai”.(1) Thư tịch Việt Nam ghi chép về Trương Công Giai nhiều hơn cả là Việt sử thông giám cương mục và Lịch triều tạp kỷ. Phần còn lại của Trương thế gia ký do người trong họ viết năm 1733, sau khi Tiến sĩ Trương Công Giai mất 5 năm mà hậu duệ còn giữ được, cũng có thêm được một số tư liệu đáng quí.
Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, vua Lê Hy Tông bổ nhiệm Trương Công Giai vào làm việc ở cơ quan trung ương, khi những cuộc giao tranh ác liệt cuối cùng giữa hai tập đoàn phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài sắp kết thúc.Vua Lê thực chất không còn vị trí điều hành đất nước, chúa Trịnh lo liệu tất thảy mọi việc to nhỏ trong triều chính. Trải 43 năm liên tục cống hiến sức lực trí tuệ cho đất nước, phục vụ bốn đời vua Lê lệ thuộc vào ba đời chúa Trịnh, cuộc đời ông cũng từng trải thăng trầm quyền chức. Bị giáng chức vì sơ xuất trong công việc quản lý rồi lại được phục chức Hình bộ Thượng thư là thực tế vua chúa đã xác định rõ công lao đóng góp của Tiến sĩ Trương Công Giai. Riêng ông lúc nào cũng bình thường, tự tin vào đức độ và sự minh triết của mình, qua thực tế kiểm nghiệm thì bản lĩnh cương chính vì dân vì nước của một quan chức dưới chế độ phong kiến đã bộc lộ rõ nét.
Tháng 7 năm Giáp Tuất (1694), một số vị quan lớn của bộ Lại như Tả thị lang Nguyễn Danh Nho, Hữu thị lang Ngô Sách Tuân và Lại khoa cấp trung sự Nguyễn Đình Trụ cùng bị giáng chức, khiến cho bộ Lại có đảo lộn bất thường. Có người tố cáo rằng, việc tuyển bổ này nhũng lạm bừa bãi, phần nhiều không hợp lệ. Quan Hữu thị lang Ngô Sách Tuân và hai tiến sĩ khác thì tư túi, tự ý tuyển dụng bổ chức cho hai người học trò của mình. Việc này buộc phải đệ trình để triều đình xét xử. Nguyễn Danh Nho bị giáng làm Hữu thị lang bộ Hình, Ngô Sách Tuân xuống làm Tham chính Lạng Sơn. Quan Lại khoa cấp sự trung Nguyễn Đình Trụ, bị giáng làm Hiệu thảo. Ngô Sách Tuân tố cáo Lê Hy khi còn đang làm việc ở Bộ Lại cũng tư túi, lén lút làm việc cầu cạnh gửi gắm cho con là Lê Thuyên và cho học trò của mình là Tô Hinh. Việc xem xét xử lý chúa giao xuống cho Trương Công Giai cùng các quan trong triều đình bàn xét. Nhưng lời của Ngô Sách Tuân không có bằng cứ, cho nên Ngô Sách Tuân lại phải giáng làm Đô cấp ngự trung vì tội vu cáo.
Năm Quý Mùi (1703) chúa Trịnh Căn chọn người kế vị. Con trưởng của ông là Trịnh Vĩnh chết sớm, phải lấy con thứ là Trịnh Bách làm thừa tự. Trịnh Bách lại mất sớm, Trịnh Căn phải lấy con của Trịnh Vĩnh (cháu đích tôn của Trịnh Căn) là Trịnh Bính làm thừa tự. Con của Trịnh Bính là Trịnh Cương (gọi Trịnh Căn là cụ nội), Cương năm ấy 18 tuổi.
Thế rồi Trịnh Bính cũng mất, mà chúa thì tuổi đã cao, trong khi người thừa tự thì chưa ổn định. Chúa bèn triệu quan Bồi tụng là Nguyễn Quý Đức vào hỏi, Quý Đức thưa:
- Trọng trách trông coi việc nước và vỗ về quân sĩ thì phải thuộc về người chắt trưởng. Vậy cúi xin sớm định ngay danh phận rõ ràng để cắt đứt sự nhòm ngó.
Chúa lại hỏi Trương Công Giai và Đặng Đình Tướng, Trương Công Giai và Đặng Đình Tướng cũng trả lời tương tự. Chúa quyết ý lấy Trịnh Cương làm người thừa tự, làm tờ biểu xin vua tiến phong Trịnh Cương làm Khâm sai tiết chế thủy bộ chư dinh, hàm Thái úy, tước An Quốc công. Hơn một năm sau (Giáp Thân - 1704), các con của Trịnh Bách là Trịnh Luân và Trịnh Phất tìm cách chống lại Trịnh Cương. Khi Trịnh Bách mất, Luân và Phất thấy mình là con Trịnh Bách - vị Tiết chế đã qua đời, lẽ ra phải được lập phong để nối nghiệp, nay chắt nội của Trịnh Căn là Trịnh Cương được quyền nên hai anh em câu kết với Đào Quang Giai làm bè đảng, mưu lật ngôi vị Trịnh Cương. Quan Hiệu thảo Nguyễn Công Cơ dò biết được cơ mưu, liền báo cho Trịnh Căn biết.
Trịnh Căn sai bắt bọn này giam vào ngục và giao cho các quan đình úy tra hỏi. Họ đều nhận tội nên tất cả đều bị trị theo phép nước. Nguyễn Công Cơ được thăng chức Thị lang.
Nguyễn Công Cơ người xã Minh Tảo, huyện Từ Liêm (nay thuộc Hà Nội), đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa 18 (1697). Được bổ làm quan Hiệu thảo trong phủ chúa Trịnh Căn. Năm Giáp Thân (1704), nhờ có công phát giác ra mưu phản của Trịnh Luân và Trịnh Phất, triều đình xét công ban thưởng thăng chức Hộ bộ Tả thị lang cho Công Cơ. Năm Ất Mùi (1715), Công Cơ được Trịnh Cương cử làm Chánh sứ sang Bắc quốc. Công Cơ là người cương trực, hễ thấy điều gì sai quấy là chẳng bao giờ bỏ qua. Các quan phủ chúa, nhất là Nguyễn Công Hãng, vì thế rất ghét ông. Hai năm sau vụ phát hiện ra mưu phản của Trịnh Luân và Trịnh Phất, ấy là từ hồi tháng 11 năm Giáp Thìn (1724). Năm Bính Ngọ (1726), Nguyễn Công Cơ lại gây chấn động cả cung vua phủ chúa bởi một phát hiện của ông về gian lận thi cử, liên quan đến nhiều bậc đại thần đương quyền đương chức. Từ đó, triều đình bắt những người đã đỗ Hương cống thi lại ở lầu Ngũ Long. Nhân dịp này, Nguyễn Công Cơ được thăng hàm Thiếu bảo.
Bấy giờ cả đến việc thi cử phần nhiều cũng bị nạn nhũng lạm. Thường là hễ con nhà quan chức giầu có thì dù dốt nát thế nào cũng đỗ Hương cống. Nguyễn Công Cơ tấu trình sự thật, chúa lệnh bắt thi lại. Hai mươi tám người bị lật tẩy không đủ tiêu chuẩn cấp bằng. Trong số này có con trai của Tham tụng Lê Anh Tuấn, con trai của Huân Quận công Đặng Đình Giám, con nuôi của Quan nội giám Thiếu bảo Đỗ Bá Phẩm và nhiều cống sĩ khác của các xứ. Những người này đều bị giao xuống pháp đình của Trương Tướng công xét hỏi để trị tội. Triều đình nhận thấy rằng Nguyễn Công Cơ là người nói thẳng nên thăng hàm Thiếu bảo.
Từ tháng 3 năm Đinh Hợi (1707) đến tháng 3 năm Tân Mão (1711), Trương Công Giai được triều đình giao giữ chức Công bộ Hữu thị lang là chức quan thứ ba trong Bộ Công. Bộ Công là bộ chuyên lo quản lý điều hành việc phát triển sản xuất nông phẩm và các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp cùng với việc trao đổi buôn bán của đất nước. Có lẽ trong những năm ấy, ông đã cùng với Thượng thư và Tả thị lang Công bộ lãnh đạo nhân dân làm nên những thành quả bước đầu nền sản suất nông nghiệp và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của thời kỳ Lê Trung hưng để phát triển nên việc hình thành các đô thị sầm uất.
Tháng ba năm Tân Mão (1711), Trương Công Giai giữ chức Phó Đô ngự sử. Năm Mậu Tuất (1718), tháng Giêng mùa xuân mở khoa thi cử nhân, Trương Công Giai được cử làm Thượng trung thư giám cẩm Sơn Nam Hạ tức là người duyệt quyển thi hương. Sau đó ông được giữ chức Thượng trụ quốc Thượng trật tướng công. Gần mười năm sau, tháng sáu năm Canh Tý (1720), ông được thăng chức Thượng thư Bộ Hình.
Khi Trương Công Giai đương chức Ngự sử đài, có người ở huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) bị quan xử khép vào tội đồ. Xét thấy quan xử không đúng, tội nhân liền mổ bụng kêu oan. Việc được tâu lên triều đình, vua giao cho bộ Hình xét lại, quả nhiên người ấy bị xử oan. Truy tìm nguyên nhân thì lỗi do các quan cấp phủ, huyện; nhưng vua vẫn cách chức Thượng thư Bộ Hình Trương Công Giai xuống làm Tả Thị lang Bộ Lại và Tả Thị lang Bộ Lại Hồ Phi Tích xuống làm Hữu thị lang Bộ Lễ.
Tháng 4 năm Mậu Tuất (1718), Trương Công Giai đang giữ chức Thượng trụ quốc, Thượng trật Tướng công, triều đình đã cử Binh bộ Hữu Thị lang Nguyễn Công Hãng làm Chánh sứ và Phụng thiền Phủ doãn Nguyễn Bá Tông làm Phó sứ sang nhà Thanh báo việc vua Lê Hy Tông qua đời (mặc dù vua đã mất trước đó hơn 2 năm, khi đang là Thượng hoàng) và dâng biểu cầu phong cho vua Lê Dụ Tông (Lê Dụ Tông đã được Thượng hoàng Lê Hy Tông truyền ngôi trước đó 13 năm). Tháng chạp năm Kỷ Hợi (1719), nghĩa là phải hơn 1 năm sau, nhà Thanh mới cử sứ sang ta tấn phong Lê Dụ Tông, cuộc tiếp sứ diễn ra như sau:
Nhà Thanh sai nội các điện học Đặng Đình Triết và Hàn lâm viện Biên tu Thành Văn sang phong vua Lê làm An Nam quốc vương, họ bắt vua An Nam phải làm lễ tam quỵ cửu khấu (ba quỳ, chín vái). Các quan trong triều phủ viện cớ theo nghi lễ trong nước thì vua Nam xưa nay chỉ làm lễ ngũ bái tam khấu (ngũ lạy, tam vái). Hai bên tranh biện ba bốn lần, cuối cùng Đặng Đình Triết miễn cưỡng phải tuân thủ nghi thức An Nam. Nhân việc này Trương Công Giai viết bài thơ Nhập gia tùy tục:
入家隨俗
拜五叩三儀禮越
拜三叩九禮儀清
論談主客于周折
隨俗入家主理情
Bái ngũ khấu tam nghi lễ Việt
Bái tam khấu cửu lễ nghi Thanh
Luận đàm chủ khách vu chu chiết
Tùy tục nhập gia chủ lý tình
(Lạy ba lần, vái năm lần là nghi lễ Đại Việt/ Vái chín lần quỳ ba lần là nghi lễ Đại Thanh/ Hai bên tranh luận căng thẳng/ Nhập gia tùy tục để tỏ tình thân thiện.)
Năm Bính Ngọ (1726) Trịnh Cương sai các quan đi kiểm tra tiền thu thuế của quan chức các trấn vì có hiện tượng biển lận. Bộ Công cử Tô Thế Huy và Nguyễn Công Dũng xuống điều tra xét hỏi. Bọn quan lại tham nhũng ở địa phương lo lót, biếu lễ vật, tiền bạc cho hai vị quan trên. Hai vị tìm mưu kế tha cho lũ sâu mọt. Dân chúng không đồng tình, kêu ca phàn nàn. Tả Thị lang Bộ Lại Trương Công Giai bác việc nghị án tha tội cho bọn quan tham nhũng. Tô Thế Huy và Nguyễn Công Dũng đều bị cách chức. Nhà vua phục chức Thượng thư Bộ Hình cho Trương Công Giai. Nhận lại chức cũ được hai năm sau thì ông mất ngày 8 tháng 2 năm Mậu Thân (1728) thọ 63 tuổi. Vua chúa, quan dân đều thương tiếc, thi hài Trương Công Giai được ướp quàn tại viện Thiên Thanh, 100 ngày sau mới đưa về quê cho dân làng và gia tộc kính viếng. Bảy ngày sau mới đưa lên an táng tại lưng núi A Hồ (Thiên Hồ - Trà Xuyên - Thanh Liêm), Vua đặt tên thụy cho Trương Công Giai là Hiên Hoát tiên sinh và nhân dân Trà Châu suy tôn ông là Thành hoàng làng rồi lập đình thờ phụng ông nay vẫn còn.
Trọn đời phục vụ triều chính, Trương Công Giai luôn đề cao phẩm chất đạo đức của một vị quan thanh liêm và nêu gương mẫu thực hiện luận điểm Quan tiết bất đáo mong góp phần ngăn chặn tham nhũng có cơ trở thành quốc nạn. Xuất thân từ một miền quê đồng chiêm nghèo khó lại có học thức, chắc điều tâm niệm đó ông đã ấp ủ từ lâu. Sau khi đỗ tiến sĩ, làm quan, ông có cơ hội tốt hơn để thực thi hoài bão lớn. Nêu cao nguyên tắc Quan tiết bất đáo suy rộng ra là quan thanh liêm có khí tiết không nhận lễ vật gian phi hay bất cứ ai vào cửa quan mang lễ vật luồn lót quan là kẻ lừa quan, làm hỏng quan, phản dân hại nước. Bốn chữ đại tự ấy được khắc vào bức hoành phi, treo trước cửa công đường Trương Công Giai đương nhiệm. Không ít kẻ nịnh thần tham quyền cố vị, chạy chức để lo vơ vét của dân, tỏ ra ghen ghét tính cương trực của ông. Họ luôn nhòm dõi tìm sơ hở để kiếm cớ nhằm lật đổ chức vị của ông. Nhưng cuộc đời quan chức của ông vẫn trong sáng đến mức không kẻ nào tìm thấy một vết mờ nào mà toan tính cách làm hại.
Trương thế gia ký có đoạn viết về Trương Công Giai: “Trẻ tuổi đã đỗ cao, giữ các chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Bồi tụng Hình bộ Thượng thư, Phụng quản Tiệp cơ, Nhập thị Kinh diên, quyền Lễ bộ sự, Trị nội điện thị văn chức, Thự trung thư kiêm Quốc tử giám tế tửu, Tước Lỵ Quận công, Thượng trụ quốc, Thượng trật tướng công… Tên tự là Đoan Lượng, khi mất ông được vua ban tên thụy là Hiên Hoát tiên sinh và được truy phong hàm Thiếu bảo.
Nhân dân Trà Châu quê hương đã tôn vinh ông là Thành hoàng và lập đình thờ phụng từ khi ông qua đời đến nay. Hằng năm cứ đến ngày 8 tháng 2 âm lịch nhân dân địa phương cùng với dòng họ Trương các nơi đều về tổ chức Lễ dâng hương tưởng niệm nhân vật lịch sử văn hóa Trương Công Giai. Mộ phần ông đặt trên núi Trà Lĩnh ở cuối dải Chanh Chè.
Bên cạnh công việc triều đình giao phó, Trương Công Giai còn là một người yêu thích văn chương. Trương Công Giai còn để lại một số bài thơ và câu đối chữ Hán. Trong sách Quế Sơn thi tập của Nguyễn Khuyến có chép bài thơ Phú ích thánh mẫu từ, trong Gia phả họ Trương ở Trà Châu còn chép hai bài thơ Về nhà ăn Tết và Xuân. Một số tài liệu rời rạc khác cũng có chép thơ văn của Trương Công Giai. Nhiều bạn quan chức đồng cảm cũng có thơ văn, câu đối tặng lại. Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được tài liệu bổ sung từ các nguồn gia phả, thư tịch của các chi họ Trương và các dòng họ khác có liên quan.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu ba bài thơ của Thượng thư Tiến sĩ Trương Công Giai do ban nếp sống văn hóa hội đồng Trương tộc Việt Nam sưu tập.
地靈
雅趣多幺處帝京
山濃江洱故光形
青青街道青園柳
我在幼林何郁情
四十三春得共同
晨昏散步故從容
帝京春日添岑蔚
內外郊安聲劍弓
文廟一時主祭官
平身服位鼓鉦歡
整巾進爵心香拜
道學常常分苦甘
移處帝京無限期
何忘靈地既扶禧
我為靈地多心血
萬古芳名留石碑
Phiên âm:
ĐỊA LINH
Nha thú đa yêu xứ đế kinh
Sơn Nùng giang Nhị cố quang hình
Thanh thanh nhai đạo thanh viên liễu
Ngã tại ấu lâm hà úc tình.
Tứ thập tam xuân đắc cộng đồng
Thần hôn tán bộ cố thung dung
Đế kinh xuân nhật thiêm sầm uất
Nội ngoại giao an thanh kiếm cung.
Văn miếu nhất thời chủ tế quan
Bình thân phục vị cổ chinh hoan
Chỉnh cân tiến tước tâm hương bái
Đạo học thường thường phân khổ cam.
Di xứ đế kinh vô hạn kỳ
Vọng hà linh địa ký phù hy
Ngã vi linh địa đa tâm huyết
Vạn cổ phương danh lưu thạch bi.
Dịch xuôi:
ĐẤT THIÊNG
Chốn đế kinh đẹp rất đáng yêu
Có núi Nùng sông Nhị xinh tươi mãi
Những rặng liễu xanh làm nên những đường phố xanh
Những hàng cây ấy và ta đã trở nên bè bạn đượm tình.
Bốn chục năm qua ta đã quen chung sống
Sớm chiều dạo bước lúc nào cũng thung dung
Cảnh vật đế kinh ngày thêm sầm uất
Bởi nội ngoại thành bao đời vung kiếm đuổi thù.
Văn miếu vẫn còn đây với những nghi lễ tế quan
Những “bình thân phục” vị giữa âm vang chiêng trống
Những quan tế nghiêm trang cân đai áo mũ theo lời “hương bái”
Tôn vinh những người quyết chí học hành để phân ra sướng khổ.
Mỗi lần xa chốn này để đi kinh lý
Mới biết đất báu này đã giúp ta
Vì thế mà gắng lo mọi việc cho chốn ấy thêm tươi đẹp vững vàng
Cho đất này mãi mãi thơm hương.
Dịch thơ:
ĐẤT THIÊNG
Ôi đẹp đẹp sao chốn đế kinh,
Núi Nùng sông Nhị mãi tươi xinh.
Xanh xanh phường phố xanh xanh liễu,
Ta với hàng cây thắm đượm tình.
Bốn chục xuân qua quen sống chung,
Sớm chiều bách bộ vẫn thung dung.
Đế kinh cảnh vật nay sầm uất,
Nội ngoại bao đời khiên kiếm vung.
Văn miếu còn đây lễ tế quan,
Bình thân phục vị trống chiêng vang.
Cân đai tiến tước tâm hương nguyện
Kinh sử dùi mài gươm bút quan...
Dời chốn đế kinh ta lại đi,
Lòng ơn đất báu đã phù trì.
Địa linh nhân kiệt bao hun đúc,
Bảng vàng hoa đá mãi còn ghi.
春
詩書漸放祿由生
鸞鳳和親郁義情
智水仁山多福壽
人康物盛倍繁榮
有真有善文常美
知彼知己事必成
愛鼎茶山邊底水
故鄉天健萬春青
Phiên âm:
XUÂN
Thi thư tiệm phóng lộc do sinh,
Loan phượng hòa thân úc nghĩa tình.
Trí thuỷ nhân sơn đa phúc thọ,
Nhân khang vật thịnh bội phồn vinh.
Hữu chân hữu thiện văn thường mỹ,
Tri bỉ tri kỷ sự tất thành.
Ái đỉnh Trà Sơn biên Đáy thủy,
Cố hương Thiên Kiện vạn xuân thanh.
Dịch xuôi:
XUÂN
Khi làm thơ, hoa xuân thêm nở lộc
Như có loan phượng hòa ca thắm thiết nghĩa tình
Nghĩ về đất nước quê hương đang dồi dào phúc thọ
Ngời vui của cải vững mạnh phồn vinh
Ai chân thực thì viết văn hay
Ai biết điều thì làm việc gì cũng thành công.
Yêu dòng sông Đáy trôi xuôi ven núi Trà Lĩnh
Xóm làng Thiên Kiện mùa xuân nào cũng xanh tươi như lòng người nảy lộc.
Dịch thơ:
Thi thư dần mở lộc đua sinh,
Loan phượng hòa thân đượm nghĩa tình.
Nước trí non nhân, nhiều phúc thọ;
Người vui vật thịnh, bội phồn vinh.
Có chân có thực, văn thường đẹp;
Biết bạn biết ta, việc ắt thành.
Yêu đỉnh Trà Sơn sông Đáy chảy,
Quê xa Thiên Kiện vạn xuân xanh.
歲六十三
六十三春力退些
王存优愛主存差
依穿飯享恩芳土
基義根仁守玊河
同榜友歸常敏感
故鄉客到不驍賒
壹心終始時官節
郡傳歸仙寄嶺茶
Phiên âm:
Lục thập tam xuân lực thoái ta
Vương tồn ư u ái chủ tồn soa
Y xuyên phạn hưởng ân phương thổ
Cơ nghĩa căn nhân thủ ngọc hà
Đồng bảng hữu quy thường mẫn cảm
Cố hương khách đáo bất kiêu xa
Nhất tâm chung thỉ thời quan tiết
Quận truyện quy tiên ký lĩnh trà
Dịch nghĩa:
TUỔI SÁU MƯƠI BA
Gần sáu mươi ba tuổi rồi tóc điểm bạc thêm
Tuy già nhưng vua vẫn tin dùng, chúa vẫn yêu quý.
Cơm ăn áo mặc của ta là do dân, nhờ dân mà có
Nhớ ơn cha mẹ đã hun đúc vun đắp cho ta lòng nhân nghĩa
Bạn học thường qua, quen mẫn cảm
Nơi cố hương khách đến thăm ta như về nhà mình
Ta luôn son sắt với lời “Quan tiết bất đáo”
Khi về chết ta mong được an thân trên núi Trà Lĩnh.
Dịch thơ:
SÁU MƯƠI BA TUỔI
Tuổi chớm sáu ba tóc tuyết pha,
Vua còn tin đấy chúa yêu ta.
Cơm ăn áo mặc nhờ dân cả,
Nghĩa đắp nhân vun nhớ mẹ cha.
Bạn học thường qua quen mẫn cảm,
Chốn quê khách tới vẫn như nhà.
Một lòng son sắt đời quan tiết,
Mãn số an thân đỉnh núi Trà ...
Chú thích:
(1) Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu, biên dịch và chú thích, Nxb. Giáo dục, H. 2006./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.440-454