36. Khúc Hà vật, những câu đố lý thú trong sách Đại thư của người Dao quần chẹt.
KHÚC “HÀ VẬT”, NHỮNG CÂU ĐỐ LÝ THÚ
TRONG SÁCH ĐẠI THƯ CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
(xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái)
HOÀNG THỊ THU HƯỜNG
Bảo tàng tỉnh Yên Bái
Dao quần chẹt là một ngành nhỏ trong bốn ngành Dao ở Yên Bái (Dao Đỏ, Dao Trắng, Dao Tuyển, Dao Quần Chẹt). Sở dĩ người ta gọi là Dao Quần Chẹt vì căn cứ theo đặc điểm ăn mặc của người phụ nữ dân tộc này, họ thường mặc loại quần dài qua đầu gối một chút và bó sát vào chân. Ngoài tên gọi trên còn có những tên gọi khác như: Dao Nga Hoàng (gọi theo địa danh cư trú); Dao Sơn Đầu (theo tập quán chải đầu bằng sáp ong của người phụ nữ). Tại Yên Bái, Dao Quần Chẹt tập trung nhiều ở huyện Văn Chấn, đặc biệt là hai xã Minh An và Cát Thịnh. Tại xã Cát Thịnh có khoảng 700 người, sinh sống ở hai thôn: Đá Gân và Khe Nước. Đa số họ vẫn còn lưu giữ được khá nhiều sách cổ viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Dao, rất có ý nghĩa về mặt nghiên cứu lịch sử, văn hóa cũng như phong tục tạp quán…của dân tộc này.
Sách Đại thư (hay còn gọi là Bàn Vương thư - theo cách gọi của người Dao Đỏ; Tam thập lục khúc - theo cách gọi của người Dao Tuyển ở Lào Cai) là cuốn sách tập trung trên dưới ba mươi bài thơ(1) thất ngôn trường đoạn, thường được dùng trong các buổi lễ nghi tôn giáo của dân tộc Dao. Nội dung chia thành nhiều mảng khác nhau (đã từng giới thiệu trong thông báo Hán Nôm cuối năm 2005), và trong bài viết này, chúng tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc khúc “Hà vật”. Khúc hát này được trích trong cuốn Đại thư của người Dao Quần Chẹt ở thôn Đá Gân, xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, và hiện nay đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh. Sách có kích thước 27,5x25,5cm, 161 trang. Bìa màu vàng nâu, giấy bên trong là loại giấy cũ do nhà nước sản xuất (trong sách không ghi thời gian sao chép song có lẽ cuốn sách này mới được chép lại trong vài chục năm trở lại đây). Ngoài một số trang đầu và đoạn cuối bị rách thì số trang còn lại tương đối nguyên vẹn. Mỗi trang có mười dòng, mỗi dòng hai câu thơ bảy chữ, như vậy số lượng chữ trong sách khoảng hơn 22 nghìn từ(2), với 3.220 câu (chưa tính câu kép).
Khúc “Hà vật” là đoạn thứ mười lăm trong mười tám khúc của cuốn sách này, “Hà vật” có độ dài 15,5 trang, 310 câu thơ gồm hơn 200 câu đố các loại với nhiều nội dung khác nhau, tạm chia thành các nhóm sau:
VD: 何物無脚行千里 , 大船無脚行千里
何 物四脚守東厅 , 檯盤四脚守東厅
“Hà vật vô cước hành thiên lý? Đại thuyền vô cước hành thiên lý
Hà vật tứ cước thủ động sảnh? Di bàn tứ cước thủ đông sảnh”
(Cái gì không chân đi ngàn dặm? Thuyền lớn không chân đi ngàn dăm!
Cái gì bốn chân giữ sảnh đông? Chiếc bàn không chân giữ sảnh đông!)
- Nhóm câu đố về con vật như: tôm, cá, ếch, ốc, gà, vịt, đom đóm, đỉa, vắt, ngựa, dê…
VD: 何物生時無花色 , 蝦公生時無花色
何物死了有面容 , 蝦公死了有面容
“Hà vật sinh thời vô hoa sắc?Hà công sinh thời vô hoa sắc
Hà vật tử liễu hữu diện dung? Hà công tử liễu hữu diện dung”
(Con gì khi sống không màu sắc ? Con tôm khi sống thân không màu
Con gì chết đi mình rực rỡ ? Com tôm khi chết mình rực rỡ)
- Nhóm câu đố về đồ dùng trong nghi lễ: trống chọe, Cáo tử(3), ấn tín…
VD: 何物出來節對節 , 告子出來節對節
何物落地定陰陽 , 告子落地定陰陽
“Hà vật xuất lai tiết đối tiết? Cáo tử xuất lai tiết đối tiết
Hà vật lạc địa định âm dương? Cáo tử lạc địa định âm dương”
(Cái gì làm ra đốt đối đốt? Cái tử làm ra đốt đối đốt
Cái gì rơi đất định âm dương? Cáo tử rơi đất định âm dương).
- Nhóm câu đố về các loại cây: cây chuối tiêu, rau cải, ray đay…
VD: 何物烈烈在坭出 , 蕉子烈烈在坭出
何物層層蓋過天 , 蕉葉層層蓋過天
“Hà vật liệt liệt tại nê xuất? Tiêu tử liệt liệt tại nê xuất
Hà vật tằng tằng cái quá thiên? Tiêu diệp tằng tằng cái quá thiên”
(Cây gì lừng lững mọc từ đất? Cây chuối lừng lững mọc từ đất!
Cái gì tầng tầng che ngang trời? Lá chuối tầng tầng che ngang trời).
- Nhóm câu đố về đồ trang sức của phụ nữ: vòng tay, khuyên tai, vòng cổ…
VD: 何物變成何物子 , 得郎變成耳鐶子
何物團圓娘耳边 , 耳鐶團圓娘耳边
“Hà vật biến thành hà vật tử? Đắc chàng biến thành nhĩ hoàn tử
Hà vật đoàn viên nương nhĩ biên? Nhĩ hoàn đoàn viên nương nhĩ biên”
(Vật gì biến, biến thành cái gì? Được chàng làm thành khuyên tai
Cái gì tròn bên tai nàng? Khuyên tai tròn bên tai nàng).
…
Sau đây, chúng tôi xin trích giới thiệu về hai nhóm câu đố trong khúc “Hà vật”: nhóm câu đố về đồ vật và về con vật
1. Trích nhóm câu đố về đồ vật:
Phiên âm:
Hà vật vô cước hành thiên lý? Đại thuyền vô cước hành thiên lý
Hà vật tứ cước thủ đông sảnh? Di bàn tứ cước thủ đông sảnh
Hà vật triêu triêu ái tẩy diện? Phạm oản triêu triêu ái tẩy diên
Hà vật triêu triêu ái tẩy thân? Phạm cái triêu triêu ái tẩy thân
Hà vật triêu triêu ái xuất khách? Ngân trản triêu triêu ái xuất khách
Hà vật triêu triêu ái xuất thân?Ngân trợ triêu triêu ái xuất thân
Hà vật triêu triêu ái tẩy diện? Phạm oản triêu triêu ái tẩy diện
Hà vật tẩy diện thướng lầu miên, Phạm oản tẩy diện thướng lầu miên
Hà vật tải phạn hồng sa thác? Phạm oản tải phạm hồng sa thác
Hà vật qua cổ(4) dưỡng nhân thân? Thốn phạn qua cổ dưỡng nhân thân.
Tạm dịch:
Cái gì không chân đi ngàn dặm? Thuyền lớn không chân đi ngàn dặm.
Cái gì bốn chân giữ sảnh đông? Chiếc bàn bốn chân giữa sảnh đông
Cái gì ngày ngày thích rửa mặt? Bát cơm ngày ngày thích rửa mặt
Cái gì ngày ngày thích tắm rửa? Vung nồi ngày ngày thích tắm rửa
Cái gì ngày ngày thích tiếp khách? Chén bạc ngày ngày thích tiếp khách
Cái gì ngày ngày thích rửa mặt? Bát cơm ngày ngày thích rửa mặt
Cái gì để cơm bày la liệt? Bát cơm nhỏ để cơm bày la liệt
Cái gì qua cổ nuôi thân hình? Nuốt cơm qua cổ nuôi thân hình.
2. Trích nhóm câu đố về con vật và sự vật:
Phiên âm:
Hà vật thích thanh bất hiện diện? Ngũ lôi thích thanh bất hiện diện
Hà vật kiến diện thủ nan phan? Nguyệt đầu kiến diện thủ nan phan
Hà vật luận? Áp nhị luận
Hà vật đáo xứ đả quan tôn?Áp nhi đáo xứ đả quan tôn
Hà vật trác bị đảo luân chuyên? Hà công trác bị đảo luân chuyên
Hà vật trác bị đảo qua môn? Điền loa trác bị đảo quan môn
Hà vật bất thiêu lĩnh thượng thảo? Huỳnh hỏa bất thiêu lĩnh thượng thảo
Hà vật bất thiêu lĩnh thượng phất ? Huỳnh hỏa bất thiêu lĩnh thượng phất
Hà vật qua thủy thân vô thấp? Trân châu qua thủy thân vô thấp
Hà vật hạ địa cước vô ni? Hồ điệp hạ địa cước vô ni.
Tạm dịch:
Cái gì nghe tiếng chẳng thấy mặt? Sấm sét rền vang chẳng thấy mặt
Cái gì trông thấy tay khó vin? Ánh trăng trông thấy tay khó vin
Con gì nói nhiều ? Con vịt nói nhiều
Con gì đến nơi đánh quan trên? Vịt đến vùng mới đánh quan trên
Con gì động đến bơi giật lùi? Con tôm động đến bơi giật lùi
Con gì động đến đóng cửa nhà? Con ốc động đến đóng cửa nhà
Lửa gì không cháy cỏ trên rừng ? Đom đóm lập loè không cháy cỏ rừng
Cái gì trong nước thân không ướt ? Ngọc châu trong nước thân không ướt
Con gì đậu đất chân không bụi? Bươm bướm đậu đất chân không bụi
Trên đây là một số câu đố trong hơn hai trăm câu đố của khúc “Hà vật”. Đa số những sự vật, đồ vật, con vật…xuất hiện trong câu đố đều là những thứ gần gũi với đời sống của đồng bào dân tộc nơi đây. Đặc biệt là phần câu đố về những đồ dùng trong nghi lễ (xin được giới thiệu vào dịp khác) có thể giúp chúng ta phần nào hiểu được phong tục tập quán của người Dao Quần Chẹt nói riêng và người Dao nói chung.
Xin lưu ý: Đây là sách của người Dao, nên khi tìm hiểu và thưởng thức cần phải sử dùng tiếng Dao, có như vậy mới cảm nhận được hết nét đặc sắc về ngôn ngữ và ý nghĩa của các câu đố trong khúc hát.
Chú thích:
(1) Tùy theo từng ngành Dao khác nhau và tùy theo từng cuốn sách hiện đã tìm được thì số đoạn của sách cũng chênh lệch nhau, dao động từ 18 - 25 đoạn, chưa thấy cuốn nào đầy đủ 36 đoạn như đầu sách có ghi.
(2) Trong sách có một số câu kép nên số lượng chữ có thể nhỉnh hơn nên tạm để là hơn 22 nghìn chữ.
(3) Cáo tử: vật xin âm dương của người Dao, làm bằng một ống tre hay nữa nhỏ, dài khoảng 20 phân, chia làm hai mảnh, một mảnh định âm, một mảnh định dương.
(4) Cổ: trong bản này ghi chữ “Cổ” bằng chữ Nôm.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.374-379)